BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 4 TRƢỜNG TIỂU HỌC
CHIỀNG SINH – SƠN LA
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học cơ bản
Sơn La, tháng 05 năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 4 TRƢỜNG TIỂU HỌC
CHIỀNG SINH – SƠN LA
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học cơ bản
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hƣơng
Giới tính: Nữ
Trần Thị Hiền Hà
Giới tính: Nữ
Trần Thị Thanh Tâm Giới tính: Nữ
Mùa Phƣơng Thảo Giới tính: Nữ
Sơn La, ngày……tháng……năm 2017
Nhóm tác giả
Nguyễn Thị Hƣơng
Trần Thị Hiền Hà
Trần Thị Thanh Tâm
Mùa Phƣơng Thảo
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
GV
: Giáo viên
HS
: Học sinh
SGK
: Sách giáo khoa
M
: Mẫu
TP
: Thành phố
1.2.1 Thực trạng dạy và học chính tả .............................................................................20
1.2.1.1 Thực trạng dạy chính tả trong nhà trƣờng..........................................................20
1.2.1.2 Thực trạng học chính tả trong nhà trƣờng..........................................................23
1.2.2 Chƣơng trình và sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học .......................................25
1.2.2.1 Mục tiêu phân môn Chính tả ở Tiểu học ............................................................25
1.2.2.2 Nội dung chƣơng trình sách giáo khoa ..............................................................25
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 .................................................................................................27
CHƢƠNG 2: LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 4.........................................28
2.1 Khảo sát thu thập tƣ liệu ...........................................................................................28
2.1.1 Mục đích khảo sát ..................................................................................................28
2.1.2 Đối tƣợng khảo sát .................................................................................................28
2.1.3 Nội dung và cách thức khảo sát .............................................................................28
2.1.4 Kết quả khảo sát .....................................................................................................28
2.1.4.1 Ngữ liệu và phƣơng pháp ...................................................................................28
2.1.4.2 Một số loại lỗi thƣờng gặp về chính tả của học sinh .........................................28
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ CHỮA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC
SINH LỚP 4 TRƢỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG SINH - SƠN LA ...........................36
3.1 Luyện phát âm và giải mã từ ....................................................................................36
3.2 Khả năng kết hợp của các nguyên âm và phụ âm với nhau .....................................38
3.3 Mẹo luật chính tả ......................................................................................................38
3.3.1 Phân biệt l/n ...........................................................................................................39
3.3.2 Phân biệt tr/ch ........................................................................................................41
3.3.3 Phân biệt x/s ...........................................................................................................43
3.3.4 Phân biệt d/gi và r ..................................................................................................44
3.3.5 Một số biện pháp khắc phục ...................................................................................46
3.3.5.1 Lỗi nhầm lẫn l/đ...................................................................................................46
3.3.5.2 Lỗi nhầm lẫn b/v..................................................................................................47
3.4 Làm các bài tập chính tả ............................................................................................48
Minh đã khẳng định: “Tiếng nói là của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân
tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm nó ngày càng phổ biến rộng khắp”
(Dẫn theo [15]). Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, tiếng Việt và chữ Quốc ngữ đã
đƣợc Đảng và nhà nƣớc chọn làm ngôn ngữ và chữ viết chính của dân tộc.
Đảng ta đã nhận định “Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc
dân”. Hiến pháp năm 2013 của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định
tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia. Đây là tiền đề để đào tạo thế hệ trẻ trở thành những
con ngƣời xã hội chủ nghĩa có đầy đủ năng lực và phẩm chất đạo đức trong giai đoạn
mới. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã khẳng định: “Chữ viết xuất hiện là một
bƣớc ngoặt trong lịch sử văn minh của loài ngƣời”.
Cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng đã phát biểu trên báo Tiền Phong số 1760 nhƣ sau:
“Chữ viết cũng là một loại biểu hiện của nết ngƣời”. Chữ viết là một công cụ vô cùng
quan trọng trong việc hình thành, phát triển văn hóa, văn minh của từng dân tộc và chữ
viết chính là một trong những hình thức biểu hiện kết quả của quá trình nhận thức, tƣ
duy của con ngƣời. Với học sinh tiểu học, chữ viết phản ánh chất lƣợng học tập, rèn
luyện kĩ năng viết chữ của các em và cũng là hành trang để các em bƣớc lên các bậc
học cao hơn. Mùa thu độc lập đầu tiên Bác gửi thƣ cho các em thiếu nhi, Bác đã căn
dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tƣơi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có sánh
vai với các cƣờng quốc năm châu hay không, đó chính là nhờ một phần lớn ở công học
học tập của các em”.
Ở Tiểu học, chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện mục
tiêu của môn học “Tiếng Việt” là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩ năng nghe cho
học sinh, kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt, góp phần hình thành
nhân cách con ngƣời mới. Chính tả là hình thức chữ viết đúng, đƣợc toàn thể cộng
đồng ngôn ngữ chấp nhận. Dạy tốt chính tả cho học sinh Tiểu học là góp phần rèn
luyện một trong bốn kỹ năng cơ bản mà các em cần đặt tới. Phân môn Chính tả trong
môn Tiếng Việt nhƣ ta biết đây là phân môn đóng vai trò quan trọng trong quá trình
hình thành kĩ năng chính tả ở bậc Tiểu học.
Trong “Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chƣơng trình mới” (Nhà xuất
bản giáo dục - 2007) đã cung cấp những thông tin tổng quát về chƣơng trình dạy học
tiếng mẹ đẻ ở cấp Tiểu học của một số nƣớc trên thế giới. Tác giả cho rằng: Việc dạy
chính tả phải nhằm vào cả hai chức năng của ngôn ngữ (công cụ tƣ duy và công cụ
giao tiếp). Phải chú trọng vào cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết, phải hƣớng tới việc
giao tiếp.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đƣa ra vấn đề cần tiếp thu kinh nghiệm và thành tựu
dạy tiếng mẹ đẻ trên thế giới cũng nhƣ đặc điểm cần khắc phục của các loại môn học
và thực tiễn của việc xây dựng chƣơng trình trƣớc. Đó chính là cơ sở khoa học môn
Tiếng Việt nói chung và phân môn chính tả nói riêng.
Cuốn “Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” - tài liệu đào tạo giáo viên 2007 của bộ Giáo dục và Đào tạo, dự án phát triển giáo viên Tiểu học đã biên soạn các
modun đào tạo, bồi dƣỡng giáo viên nhằm nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ,
cập nhật những đổi mới về nội dung, phƣơng pháp dạy học và khả năng đánh giá kết
quả giáo dục Tiểu học theo chƣơng trình sách giáo khoa Tiểu học mới. Điểm mới của
tài liệu này là đƣa ra nhiều phƣơng pháp dạy học mới nhƣ sử dụng băng hình, phƣơng
pháp giao tiếp,… nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học học sinh.
Cuốn “Vui học Tiếng Việt” - Trần Mạnh Hƣởng, tập 1 (2002), Nhà xuất bản Giáo
dục, tác giả nhấn mạnh những kiến thức tiếng Việt cơ bản giúp học sinh luyện tập
thành thạo các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, các em sẽ suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong
sáng, có khả năng làm chủ đƣợc tiếng nói và chữ viết của dân tộc.
Cuốn “Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học” - Lê A (1982), Nhà xuất bản Đại học Sƣ
phạm, tác giả đã đề cập tới vị trí, tính chất, nhiệm vụ của phân môn chính tả ở Tiểu học,
cơ sở khoa học của việc dạy học chính tả, chƣơng trình sách giáo khoa dạy chính tả.
Các công trình nghiên cứu trên là những tiền đề lí luận quý báu để giúp chúng tôi
thực hiện đề tài: “Lỗi chính tả của học sinh lớp 4 trƣờng Tiểu học Chiềng Sinh - Sơn La”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Đề tài hƣớng tới việc xác định chính xác lỗi về chính tả của học sinh lớp 4
Trƣờng Tiểu học Chiềng Sinh - Sơn La một cách có căn cứ khoa học dựa trên lý
thuyết của ngôn ngữ học hiện đại và đề xuất một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả
+ Phƣơng pháp xử lí kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học.
6. Đóng góp của đề tài
- Nếu đề tài có tính khả chấp sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên
chuyên ngành giáo dục Tiểu học, giáo viên Tiểu học, nhất là các giáo viên dạy tại các
trƣờng có nhiều học sinh mắc lỗi chính tả trong quá trình rèn luyện cho các em ở phân
môn chính tả.
- Các biện pháp đề xuất trong đề tài sẽ một phần nào góp phần nâng cao hiệu quả
trong dạy học chính tả cho học sinh lớp 4 Trƣờng Tiểu học Chiềng Sinh - TP Sơn La.
7. Cấu trúc đề tài
- Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu thâm khảo, mẫu phiếu điều tra, phần
nội dung của đề tài gồm ba chƣơng:
+ Chƣơng 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn
+ Chƣơng 2 : Lỗi chính tả của học sinh lớp 4
+ Chƣơng 3 : Một số biện pháp để chữa lỗi chính tả cho học sinh lớp 4 Trƣờng
Tiểu học Chiềng Sinh - TP Sơn La.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu
1.1.1.1 Chính tả và những vấn đề chính tả tiếng Việt
Chính tả là một trong những phân môn thuộc môn Tiếng Việt ở tiểu học. Nó là
phân môn xuyên suốt cả bậc học tiểu học. Chính tả là viết đúng, hợp với chuẩn và
những quy tắc về cách viết chuyển lời nói sang dạng viết. Hay nói cách khác, chính tả
là những quy định về cách viết đúng đối với từ ngữ nhƣ tên ngƣời, tên địa lý, tên các
tổ chức cơ quan đoàn thể, các từ ngữ phiên âm tiếng nƣớc ngoài các dấu câu… Chính
tả chủ yếu là cách viết, nó giúp cho ngƣời viết biết lựa chọn cách viết đúng chuẩn theo
+ Cách không có ý thức: (phƣơng pháp máy móc). Dạy chính tả không cần biết
đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, dựa trên sự lặp lại không cần biết lí do, quy luật
của hành động. Phƣơng pháp này củng cố trí nhớ một cách máy móc, không thúc đẩy
sự phát triển của tƣ duy.
Nhƣ vậy, phân môn chính tả là phân môn khoa học, một lĩnh vực có ảnh hƣởng
trực tiếp đến các môn học, các lĩnh vực khác trong đời sống. Chính tả mang tính logic
chặt chẽ từ thấp đến cao, từ tƣ duy đơn giản đến phức tạp, chính tả có tính liên tục nên
khi học cần chú ý không để hổng kiến thức. Chính tả chủ yếu là cách viết, nó giúp con
ngƣời biết lụa chọn cách viết đúng chuẩn theo những quy tắc đã đƣợc thừa nhận
chung.
1.1.1.2 Đặc điểm chính tả tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tích tính, tức là các âm tiết đƣợc tách bạch rõ ràng
trong dòng lời nói. Vì thế, khi viết các chữ biểu thị âm tiết đƣợc viết rời. Ví dụ, trong
bốn câu thơ sau trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của nhà thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta dễ
dàng nhận diện số lƣợng các âm tiết trong mỗi câu thơ:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ (7 âm tiết)
Nhìn nắng hàng cau nắng mới nên (7 âm tiết)
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc (7 âm tiết)
Lá trúc che ngang mặt chữ điền” (7 âm tiết)
Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định (tiếng Việt có 6 thanh).
Khi viết chữ, phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với
âm chính có nguyên âm đôi) của âm tiết. Cấu tạo âm tiết của tiếng Việt rất chặt chẽ và
ổn định. Hiện nay, vẫn có khuynh hƣớng khác nhau khi nhìn nhận cấu tạo âm tiết tiếng
Việt. Chúng ta có thể tán thành khuynh hƣớng cho rằng ở dạng đầy đủ, âm tiết tiếng
Việt có cấu tạo nhƣ sau:
Thanh điệu
Vần
án
A
N
Sắc
O
A
N
Huyền
oàn
Sắc
hoàn
H
O
A
N
U
Ê
Sắc
Khi xác định đƣợc kí hiệu ghi âm chính trong chữ, ta ghi dấu thanh lên trên (hoặc
dƣới) kí hiệu đó: thượng, ngõ, hải, thái, chỗ… Trong trƣờng hợp có hai kí hiệu biểu
thị âm chính (âm chính là nguyên âm đôi).
- Ghi dấu thanh điệu trên kí hiệu có dấu phụ: chuyển, huyền, ngửa, suốt, chửa,
nằm,…
- Ghi dấu thanh điệu trên kí hiệu đầu tiên (từ trái sang phải) khi cả hai kí hiệu
không có dấu phụ: phía, chìa,…
- Ghi dấu thanh điệu trên kí hiệu thứ hai (từ trái sang phải) khi cả hai kí hiệu
đều có dấu phụ: nước, bưởi,…
Để tiện ghi nhớ, có một mẹo nhỏ giúp chúng ta ghi dấu thanh điệu đúng :
- Khi có một nguyên âm, dấu ghi thanh điệu bao giờ cũng đánh lên nguyên âm
đó : ý, á, ế,..
- Khi phần vần có từ hai kí hiệu ghi âm (âm đệm và nguyên âm hoặc nguyên âm
đôi) trở lên nếu :
+ Vần đang xét, về nguyên tắc, có thể kết hợp với (hoặc đã sẵn có) một trong
các phụ âm (m, n, p, t, c, ng, nh, ch) làm âm cuối, ta đặt dấu ghi thanh điệu trên (dƣới)
kí hiệu nguyên âm cuối cùng bên phải: hòa(ng), quắ(t), quyê(n), nằ(m), bá(c),
mậ(n),…
+ Vần đang xét, về nguyên tắc không thể kết hợp đƣợc với một trong các phụ
âm kể trên làm âm cuối, đã đặt dấu ghi thanh điệu lên trên (dƣới) kí hiệu nguyên âm
ngay bên trái kí hiệu nguyên âm cuối cùng : này, mùi, hẹn, hứa,..
1.1.1.3 Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt
yến, yết,…
IA viết sau âm đầu, không có âm cuối: kia, bia,….
YA viết sau âm đệm, không có âm cuối: khuya,…
+ UA, UÔ
UA viết khi không có âm cuối: quả, của, sủa,…
UÔ viết trƣớc âm cuối: muối, chuối, cuối,…
+ ƢA, ƢƠ
ƢA viết khi không có âm cuối: dƣa, xƣa, trƣa, mƣa,..
ƢƠ viết trƣớc âm cuối: nƣớc, trƣớc, mƣơng,…
+ O, U làm âm đệm
Sau chữ cái ghi phụ âm Q chỉ viết U: quá, quả, quí, quần,..
Sau các phụ âm khác hoặc mở đầu âm tiết:
Viết O trƣớc các nguyên âm: a, ă, e (khóa, khoăn, xoe,…)
Viết U trƣớc các nguyên âm: â, ê, y, ya, yê (huấn, khủy, khuya , huệ…)
+ I, Y làm âm chính
I viết sau âm đầu: kĩ, bí, bính, minh…
Y viết sau âm đệm: quý, quỳnh, quýt…
Khi đứng một mình viết I ngắn đối với các từ thuần Việt: ỉ eo, ầm ĩ, í ới… Viết
Y đối với các từ gốc Hán: y tá, ý kiến…
1.1.1.4 Quan hệ giữa âm và chữ
Đặc trƣng loại hình của tiếng Việt thể hiện ở chỗ tiếng Việt là thứ ngôn ngữ đơn
lập. Đặc trƣng này thể hiện ở tất cả các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp nhƣng thể
hiện rõ nhất ở mặt ngữ âm. Xét từ góc độ ngữ âm, tiếng Việt là thứ ngôn ngữ có nhiều
thanh điệu độc lập mang nghĩa. Vì thế, trong chuỗi lời nói ranh giới các âm tiết đƣợc
thể hiện rõ ràng, các âm tiết không bị nối dính với nhau nhƣ trong các ngôn ngữ biến
hình. Về cấu tạo, âm tiết tiếng Việt là một tổ hợp âm thanh có tổ chức chặt chẽ. Các
yếu tố cấu tạo ấm tiết kết hợp với nhau ở mức độ lỏng, chặt khác nhau. Phụ âm đầu,
vần và thanh kết hợp với nhau khá chặt chẽ. Vần có vài trò quan trọng trong tiếng Việt.
hơn và chính tả của nó cũng giản tiện hơn rất nhiều. Nguyên nhân sâu xa nhất của điều
này là ở chỗ chữ quốc ngữ đƣợc xây dựng theo nguyên tắc âm vị học (hay nhƣ vẫn
quen gọi là nguyên tắc ngữ âm học). Nguyên tắc âm vị học trong chữ viết yêu cầu giữa
âm và chữ phải có quan hệ tƣơng ứng “1-1”. Để đảm bảo nguyên tắc này, chữ quốc
ngữ phải thỏa mãn ít nhất hai điều kiện:
- Mỗi âm chỉ do một kí hiệu biểu thị.
Ví dụ nhƣ: Âm a chỉ có một kí hiệu biểu thị là /a/. Hoặc âm bờ chỉ có một kí
hiệu biểu thị là /b/. Tƣơng tự âm mờ chỉ có một kí hiệu biểu thị là /m/…
Mỗi kí hiệu luôn luôn chỉ có một giá trị, tức biểu thị chỉ một âm duy nhất ở
mọi vị trí trong từ.
Ví dụ: Kí hiệu là /m/ trong từ “mũm mĩn”, /m/ đứng đầu từ hoặc cuối luôn luôn
chỉ có một giá trị, tức biểu thị chỉ một âm duy nhất là mờ.
Về căn bản, chữ quốc ngữ đƣợc tạo ra thỏa mãn khá đầy đủ các điều kiện đó.
1.1.1.6 Quy tắc chính tả tiếng Việt
a) Quy tắc viết hoa cơ bản
- Đầu câu, danh từ riêng.
Ví dụ: Bác Hồ, Tổ quốc, Mặt Trời,…
- Viết hoa khi dẫn lời nói trực tiếp.
Ví dụ: Thanh gọi mẹ ríu rít: - Mẹ ơi!
- Sau dấu hai chấm mà kiểu câu liệt kê thì không viết hoa.
Ví dụ: Xoài có nhiều loại: xoài tƣợng, xoài cát, xoài thanh ca,…
- Viết hoa tên ngƣời, tên địa danh nƣớc ngoài: phiên âm, dịch ra tiếng Việt.
+ Trƣờng hợp phiên âm qua âm Hán Việt: Viết theo quy tắc viết tên ngƣời, tên
địa lí Việt Nam.
Ví dụ: Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Khổng Tử, Đức, Nhật Bản, Bồ Đào
Nha, Triều Tiên …
+ Trƣờng hợp phiên âm không qua âm Hán Việt (phiên âm trực tiếp, viết sát
theo cách đọc): Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có
gạch nối giữa các âm tiết.
+ Láy vần: trong các từ láy vần có tiếng có n hoặc l thì tiếng thứ nhất bao giờ
cũng có âm đầu l, tiếng thứ hai có âm đầu n khi tiếng thứ nhất có âm đầu gi hoặc
khuyết âm đầu và tiếng thứ hai có âm đầu l khi tiếng thứ nhất có âm đầu khác gi. Do
đó nếu gặp từ láy vần thì tiếng thứ nhất ta phải chọn âm đầu l còn nếu tiếng thứ nhầt
có âm đầu gi hoặc khuyết âm đầu thì tiếng thứ hai ta chọn n, tiếng thứ nhất có âm đầu
khác gi thì tiếng thứ hai ta chọn l. (Trừ hai trƣờng hợp đặc biệt: khúm núm, khệ nệ).
Ví dụ: la cà, lờ đờ, lò dò, lù đù, lơ mơ, lan man, lõm bõm, lạch bạch, ... gian nan,
gieo neo, giãy nảy, áy náy, ảo não, ăn năn, ... cheo leo, chói lọi, lông bông, khét nẹt,
khoác lác, ...
- Một số từ có thể thay thế âm đầu nh bằng âm đầu l.
Ví dụ: nhời - lời, nhẽ - lẽ, nhỡ - lỡ, nhát - lát, nhăm nhe - lăm le, nhấp nhánh - lấp lánh,
nhố nhăng - lố lăng, ...
- Một số từ có thể thay âm đầu đ, c bằng âm đầu n.
Ví dụ: đấy - nấy, cạo - nạo, kích - ních, cạy - nạy, ...
- Những từ dùng chỉ vị trí hoặc chỉ sự ẩn nấp thƣờng viết bằng n.
Ví dụ: này, nọ, ni, nớ, nào, nấp, náu, né, nép, ...
* Trƣờng hợp ch/tr
- Chữ tr không đứng đầu các tiếng có vần âm đệm (oa, oă, oe, uê). Do đó nếu
gặp các dạng này ta chọn ch để viết, không chọn tr.
Ví dụ: sáng choang, áo choàng, choáng váng, chập choạng, ... loắt choắt, chích choè,
chí chéo, chuệch choạc, chuếnh choáng, ...
- Những từ Hán Việt có thanh nặng hoặc thanh huyền thƣờng có âm đầu tr. Do
đó nếu gặp các dạng này ta chọn tr để viết, không chọn ch.
Ví dụ: trọng, trƣờng, trạng, trình tự, trừ phi, giá trị, trào lƣu, trù bị, ...
- Những từ chỉ đồ vật trong nhà, chỉ tên các loại quả, chỉ tên các món ăn, chỉ tên
các hoạt động, chỉ quan hệ giữa những ngƣời trong gia đình và những từ mang
ý nghĩa phủ định thƣờng có âm đầu ch.
Ví dụ: chăn, chiếu, chai, chén, chổi, chum, chạn, chõng, chảo, ... chuối, chanh, chôm
- Chữ r và gi không đứng đầu các tiềng có vần có âm đệm (oa, oe, uê, uy). Do
đó gặp các tiếng dạng này thì ta chọn d để viết, không chọn r hoặc gi.
Ví dụ: kinh doanh, doạ nạt, doãn ra, hậu duệ, duy nhất, duyệt binh, ...
- Trong các từ Hán Việt:
+ Các tiếng có thanh ngã hoặc thanh nặng thƣờng viết với âm đầu d.
Ví dụ: diễn viên, hấp dẫn, bình dị, mậu dịch, kì diệu, ...
+ Các tiếng có thanh sắc hoặc thanh hỏi thƣờng viết gi.
Ví dụ: giải thích, giảng giải, giá cả, giám sát, giới thiệu, tam giác, ...
+ Các tiếng có thanh huyền hoặc thanh ngang thƣờng viết với âm đầu gi khi vần có âm
đầu a và viết với âm đầu d khi vần có âm đầu khác a.
Ví dụ: gian xảo, giao chiến, giai nhân, tăng gia, gia nhân, du dƣơng, do thám, dƣơng
liễu, dƣ dật, ung dung, ...
- Trong cấu tạo từ láy:
+ Láy âm: Cả gi, r, d đều có từ láy âm. Nếu gặp từ láy âm thì có thể chọn cả hai tiếng
cùng có âm đầu gi, r hoặc d.
Ví dụ: giành giật, giãy giụa, giục giã, già giặn, giấm giúi, ... dai dẳng, dào dạt, dằng
dặc, dập dìu, dãi dầu, ... ríu rít, ra rả, rì rào, réo rắt, run rẩy, rung ring, rƣng rức, rùng
rợn, rón rén, rừng rực, rạng rỡ, rực rỡ, ...
+ Láy vần: Tiếng có d thƣờng láy với tiếng có l, tiếng có r thƣờng láy với tiếng
có b hoặc c, tiếng có gi thƣờng láy với tiếng có n.
Ví dụ: lim dim, lò dò, lai dai, ... bứt rứt, cập rập, bịn rịn, co ro, cò rò, bủn rủn, ... gian
nan, gieo neo, giãy nảy.
- Một số từ láy có các biến thể khác nhau: rào rạt - dào dạt, rập rờn - giập giờn,
dân dấn - rân rấn, dun dủi - giun giủi, dấm dứt - rấm rứt, dở dói - giở giói, gióng giả dóng dả, réo rắt - giéo giắt. rậm rật - giậm giật, ...
- Trong cấu tạo từ ghép giữa r, d, và gi. Chỉ có từ ghép có tiếng âm đầu gi và
tiếng có âm đầu d, không có từ ghép có tiếng âm đầu r và âm đầu d hay âm đầu r và
âm đầu gi.
Ví dụ: già dặn, giáo dục, giao dịch, giả dối, giản dị, giao du, giảng dạy, giận dữ, gian
/i/
Lý Thái Tổ
Trong hệ thống âm vị tiếng Việt còn một số âm vị không ghi thống nhất, một âm
có ghi thành nhiều con chữ khác nhƣ:
c (cái cuốc)
/k/
k (cái kim)
q (cái quạt)
1.1.2 Tầm quan trọng của phân môn Chính tả ở Tiểu học
1.1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Chính tả ở Tiểu học
Mục tiêu của phân môn Chính tả là sự cụ thể hóa mục tiêu của bộ môn Tiếng
Việt ở Tiểu học (đặc biệt là kĩ năng viết) góp phần rèn luyện cho học sinh những thao
tác cơ bản, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội để góp
phần giáo dục và hình thành phát triển nhân cách cho học sinh.
Cùng với phân môn Tập viết, phân môn Chính tả có nhiệm vụ là giúp học sinh
nắm vững quy tắc chính tả, hình thành kĩ năng chính tả. Nói cách khác phân môn
Chính tả giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, củng cố và
hoàn thiện các tri thức cơ bản về hệ thống ngữ âm và chữ viết tiếng Việt, trang bị cho
học sinh công cụ để học tập những môn học và giao tiếp ngoài xã hội. Ngoài ra phân
môn Chính tả còn rèn cho học sinh một số kĩ năng, phẩm chất tốt nhƣ: tính cẩn thận,
chính xác, bồi dƣỡng tình yêu của học sinh đối với tiếng Việt cũng nhƣ chữ viết của
tiếng Việt.
1.1.2.2 Vị trí, tính chất của dạy học chính tả ở trường Tiểu học
Trong hoạt động ngôn ngữ của con ngƣời có bốn hoạt động vô cùng quan trọng
là nghe, nói, đọc, viết. Bốn hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện