Đề tài tìm hiểu lỗi chính tả của học sinh huyện Hồng Ngự và đưa ra các định hướng, các giải pháp rèn luyện - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
I/- Lý do chọn đề tài:
Chính tả là một nội dung của chương trình môn tiếng Việt ở Tiểu học.
Nó là phân môn có vị trí khá quan trọng. Chính nhờ thành thạo kĩ năng chính
tả mà học sinh có một công cụ học tập tốt, tạo điều kiện cho họ thuận lợi
trong giao tiếp xã hội. Học sinh viết đúng chính tả là thể hiện sự thống nhất
của ngôn ngữ dân tộc, thể hiện mục tiêu: “Hình thành và phát triển ở học
sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao
tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi ( ). Bồi dưỡng tình yêu
tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng
Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
của chương trình Tiểu học.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng nói – phải làm sao cho “ở
nước ta, số người viết tốt, nói tốt mỗi ngày một nhiều hơn”. Nói cách khác,
nói tốt, viết tốt là yêu cầu cần đạt đối với mọi người, nhất là với học sinh tiểu
học.
Thế nhưng, vấn đề chính tả của chữ Việt dù đã được bàn bạc ka1 nhiều
và thực tế đã đạt được những thành tựu tốt vẫn không phải là không còn gì
phải bàn cải. Do vậy, muốn rèn luyện kĩ năng viết đúng không phải là vấn đề
đơn giản. Viết đúng tiếng Việt là một yêu cầu thoạt nhìn tưởng như là lẽ tất
nhiên bởi tiếng Việt được xây dựng dựa trên hệ thống chứ cái Latin. Trong đó
các chữ hầu như có sự tương ứng một – một giữa âm và chữ. Tuy nhiên, bên
cạnh những ưu điểm, tiếng Việt cũng còn không ít những hạn chế. Một trong
số những hạn chế đó là sự không tương ứng giữa âm và chữ ở một số âm vị,
chữ viết tiếng Việt lại mang quá nhiều dấu phụ Với những người có những
biểu biết nhất định, viết đúng hoàn toàn những trường hợp nêu trên có thể đạt
được. Nhưng với học sinh tiểu học, khi mà trình độ nhận thức chưa đủ để
giúp các em nắm vững các quy tắc chính tả hay phân biệt được những hiện
tượng chính tả đặc biệt thì việc viết đúng hoàn toàn chính tả tiếng Việt không
1
phải là dễ thực hiện. Mặt khác, chúng ta lại chưa xây dựng được một hệ thống

nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ chú ý tìm hiểu những tài liệu
liên quan trực tiếp đến đề tài mà nhóm nghiên cứu đang thực hiện.
Đầu tiên, phải nhìn nhận rằng, GS Hoàng Tuệ là người tâm huyết với
vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ. Trong “Ngôn ngữ và đời sống xã hội – văn hóa”,
có một loạt bài GS Hoàng Tuệ đề cập đến chuẩn mực hóa tiếng Việt, thể hiện
những ý tưởng, những mong muốn về vai trò văn hóa – xã hội của tiếng địa
phương (tr 82), về Chuẩn ngôn ngữ với những bó buộc và lựa chọn, ổn định
và phát triển (tr 124). Một số vấn đề về chuẩn mực hóa ngôn ngữ (tr 101) ;
Nhìn lại công việc chuẩn hóa tiếng Việt (tr 142). Trong “Tiếng Việt trong
trường học”, tác giả đề cập đến khía cạnh “Những vấn đề về phát âm tiếng
Việt (tr 110). Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra vai trò của người giáo viên trước các
vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt, đó là “Ở trường học, sự chủ động của giáo viên
là một nhân tố luôn luôn cần thiết” [Người giáo viên trước các vấn đề chuẩn
hóa tiếng Việt – sđd, tr 262].
Tác giả Vũ Bá Hùng, trên các tạp chí ngôn ngữ đã đưa ra một số ý kiến
về “Vai trò của hệ thống ngữ âm các phương ngôn của tiếng Việt trong giao
tiếp xã hội” [TC NN số 4/1980 tr 1-7] hoặc “Chuẩn mực ngữ âm và vấn đề
dạy tiếng Việt” trong nhà trường ; Khi xác định vai trò của hệ thống các
phương ngôn của tiếng Việt trong giao tiếp xã hội, tác giả đã chỉ ra được một
số biến thể ngữ âm của các phương ngôn với “quy luật đối ứng chặt chẽ”
giữa các phụ âm đầu, vần, âm cuối có sự khác nhau trong phát âm giữa các
vùng [TCNN số 1/1994, trang 6-17]. Từ đó, bên cạnh việc khẳng định vai trò,
giá trị của hệ thống ngữ âm các phương ngôn trong giao tiếp xã hội, tác đã
cũng đưa ra ý kiến về vấn đề chuẩn mực hóa ngữ âm của tiếng Việt trong nhà
trường, các biện pháp thực hiện.
Nhóm tác giả Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Nguyên Trứ
trong Ngữ âm học Tiếng Việt hiện đại đã đưa ra những nội dung, nguyên tắc,
yêu cầu của chính tả trong nhà trường và một vài gợi ý về phương pháp khắc
3
phục lỗi. Là một tài liệu có tính chất giáo trình, cuốn sách cung cấp cho nhóm

chính tả, yêu cầu phải có hệ thống bài tập chính tả lựa chọn phù hợp với đặc
thù từng địa phương trong dạy học chính tả Các tài liệu là cơ sở và gợi ý
cho đề tài trong việc xác định cơ sở lí luận và đưa ra một số giải pháp phù
hợp.
2/- Những nghiên cứu có tính chất công cụ, đề xuất mang tính giải
pháp : những công trình thuộc dạng này trước hết phải kể đến Chữa lỗi chính
tả cho học sinh của tác giả Phan Ngọc. Cuốn sách ra đời khá sớm (1984) do
Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành. Trong đó, ngoài phần nhận xét về phương
pháp – cơ sở cho những giải pháp chữa lỗi ở phần II, tác giả đã đưa ra các
phương pháp (mà tác giả gọi là “mẹo”) rất cụ thể, từ thanh điệu cho tới âm
điệu, âm chính, âm cuối. Phần III và Phần IV tác giả chỉ ra cách áp dụng
những kết quả của thống kê vào việc dạy chính tả, các kiểu bài tập về chính tả
được soạn dựa vào cách chữa lỗi ở phần II. Cuốn sách có hạn chế là những lỗi
chính tả và cách sửa mà tác giả nêu ra chỉ mới dựa trên cứ liệu về lỗi chính tả
của miền Bắc và một số lỗi của miền Trung. Còn các lỗi của miền Trung và
miền Nam, như tác giả viết “không có điều kiện điều tra tại chỗ” nên “mới
chỉ dừng lại ở lỗi phổ biến”, tác giả chờ đợi sự cộng tác của các giáo viên để
có thể “biên soạn riêng những quyển cẩm nang chính tả cho từng vùng một”.
Mặc dù vậy, Chữa lỗi chính tả cho học sinh đã giúp chúng tôi những cơ sở về
lý luận và giả thuyết khoa học, giúp xây dựng hệ thống bài tập chính tả cho
từng loại lỗi.
Như để tiếp tục công việc mà tác giả Phan Ngọc chưa có điều kiện thực
hiện, cuốn Mẹo luật chính tả của TS Lê Trung Hoa (NVB Trẻ, 1994) ra đời.
Cuốn sách như tên gọi đã cố gắng “cung cấp một số hiểu biết về các hiện
tượng có tính cách quy luật chi phối chính tả tiếng Việt, đồng thời nêu một số
mẹo, giúp học sinh và bạn đọc phía Nam tránh được các lỗi chính tả thường
mắc phải” [5,5]. Nhìn chung, cuốn sách mang tính chất thực hành, phù hợp
5
với học sinh và bạn đọc phổ thông. Chúng tôi có thể tìm thấy ở cuốn sách
những cứ liệu dùng làm ngữ liệu khi xây dựng hệ thống bài tập chính tả cho

- Từ đó, đưa ra một số giải pháp phù hợp, có tính khả thi và cụ thể hóa
các giải pháp bằng hệ thống bài tập chính tả lựa chọn và hướng dẫn thực hiện
các bài tập đó, giúp giáo viên có thể thực hiện tốt yêu cầu dạy chính tả theo
vùng miền, giúp học sinh luyện tập nhằm hạn chế việc viết sai chính tả khi tạo
lập văn bản.
IV/- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
1/- Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn bài viết
của học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 của 12 trường tiểu học trong huyện Hồng
Ngự, thuộc các địa bàn khác nhau (vùng thị trấn, vùng ven, vùng sâu, biên
giới) để tìm hiểu về những lỗi chính tả phổ biến mà các em mắc phải.
2/- Phạm vi nghiên cứu: Lỗi chính tả là một phạm trù rất rộng, đề tài
này chỉ tập trung tìm hiểu các lỗi về phụ âm đầu, vần, thanh điệu qua các bài
chính tả nghe – viết (chính tả đoạn bài và chính tả âm vần), các bải kiểm tra
giữa kì II (năm học 2003 – 2004), các phiếu điều tra, khảo sát của nhóm
nghiên cứu đưa ra. Những vấn đề khác về lỗi chính tả như viết hoa, qui tắc bỏ
dấu, viết từ phiên âm… chúng tôi chưa có điều kiện tìm hiểu.
V/- Phương pháp nghiên cứu :
1/- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: đề tài sử dụng các
phương pháp như:
- Quan sát sư phạm: giúp nhóm nghiên cứu có thể thu nhập những thôn
tin cần thiết từ thực tế dạy và học của các trường được nghiên cứu, từ đó có
thể kiểm chứng được các lý thuyết, các giả thuyết của đề tài đã đưa ra. Quan
sát sư phạm cũng giúp cho nhóm nghiên cứu có cơ sở khi đối chiếu những
vấn đề lí thuyết với thực tế.
- Điều tra: nhằm giúp nhóm nghiên cứu khảo sát được một số lượng lớn
các đối tượng nghiên cứu ở các khu vực khác nhau trong cùng một thời điểm
7
để có thể thu thập rộng rãi cá số liệu, các hiện tượng, phát hiện ra các vấn đề
cần giải quyết.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: là phương pháp giúp nhóm

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương :
Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề viết đúng chính tả.
Chương II : Thực trạng chính tả của học sinh tiểu học huyện Hồng
Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Chương III : Một số giải pháp và khuyến nghị.
9
PHẦN NỘI DUNG :
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI
I/- Cơ sở lí luận :
1/- Cơ sở Tâm lí học :
Tâm lí học đã chỉ ra rằng : để hình thành bất cứ một kĩ năng, kĩ xảo nào
(trong đó có kĩ năng, kĩ xảo chính tả), người dạy có thể tiến hành theo hai
cách : có ý thức và không có ý thức.
Theo cách không có ý thức, việc thành thạo một hoạt động nàoi đó chỉ có
thể là sự lặp lại một cách tự nhiên máy móc một hành động mà không cần
phải quan tâm tới phương thức đề thực hiện hành động. Bằng cách lặp đi lặp
lại nhiều lần một hành động, con người sẽ hình thành cho mình những kĩ
năng, kĩ xảo cần thiết. Trong việc dạy học chính tả cũng vậy, việc hình thành
những kĩ năng, kĩ xảo theo cách nêu trên thường mất khá nhiều thời gian, đòi
hỏi tới mức tối đa sự ghi nhớ máy móc và thường làm hao tốn nhiều sức lực
của học sinh. Việc hình thành kĩ xảo chính tả như vậy dường như tỉ lệ thuận
với sự ghi nhớ máy móc. Ở đây, vai trò của ý thức đã bị gạt bỏ, và cũng vì
vậy, nếu làm theo cách này thì việc viết đúng chính tả được quan niệm một
cách đơn giản là phải viết chữ đúng mẫu, chép đúng mẫu, không cần có sự
tham gia của ý thức. Nếu muốn biết đúng sai, người viết tự tra từ điển hoặc
xem văn bản của bài viết mà không cần ghi nhớ hoặc lĩnh hội bất kì một quy
tắc nào.
Cách thứ hai trong việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo là bằng con đường có
ý thức. Việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo theo cách này không phải là sự lặp đi,
lặp lại những hành động quen thuộc mà là bắt đầu từ sự nhận thức được các

riêng lẻ.
- Rút ngắn được thời gian hình thành các kĩ năng, kĩ xảo chính tả.
11
- Rèn luyện được khả năng tư duy cho học sinh. Dựa vào các quy tắc
chính tả đã nắm được, gặp những trường hợp cụ thể, học sinh có thể dựa vào
sự đối chiếu, so sánh, khái quát và từ đó lựa chọn cách viết đúng.
Chính vì lí do này, hiện nay trong việc dạy chính tả, con đường ngắn
nhất, hiệu quả nhất để dạy chính tả là con đường có ý thức.
Nhưng làm thế nào để nắm được quy tắc chính tả một cách chủ động ?
Theo ý kiến của nhà sư phạm Nga V.P. Seramepava thì : “Quy tắc và khái
niệm không đi trực tiếp từ đầu giáo viên sang đầu học sinh” mà việc nắm
vững các quy tắc, khái niệm đòi hỏi một số hoạt động tích cực trong nhận
thức của học sinh. Đó không phải là việc học thuộc lòng các quy tắc chính tả
mà đó là việc vận dụng các quy tắc chính tả vào hoạt động của bản thân. Vì
vậy để tạo ra được kỉ xảo chính tả cho học sinh theo con đường có ý thức cần
phải bảo đảm được những điều kiện nào ?
Có thể nêu lên một số điều kiện cơ bản sau đây :
- Cần phải phát huy cao độ tính tích cực chủ động, tự giác của học sinh
khi tiếp thu những tài liệu chính tả mới. Tính chủ động này thể hiện ở việc
chú ý cao độ của học sinh trong giờ học. Muốn vậy, người giáo viên cần có
nhiều thủ pháp giảng dạy khác nhau để duy trì được sự hưng phấn của học
sinh trong suốt giờ học.
- Thông báo nhiệm vụ và mục đích bài học chính tả. Điều quan trọng là
làm sao để học sinh thấy rằng nhiệm vụ và mục đích này không phải là do
giáo viên áp đặt mà chính là những nhiệm vụ và mục đích của bản thân học
sinh đòi hỏi phải giải quyết. Có thực hiện được điều này, việc lĩnh hội, tiếp
thu các quy tắc chính tả mới để trở thành nhu cầu của bản thân học sinh. Đó
cũng là cơ sở để tạo hứng thú và duy trì sự chú ý của học sinh trong suốt quá
trình học chính tả.
Từ những đặc điểm vừa trình bày, chúng tôi thấy rằng để hình thành kĩ

13
Chính tảhình thái là loại chính tả dựa vào dạng gốc của từ hay của một
yếu tố cấu tạo từ, không kể cách phát âm thực tế như thế nào. Chính tả hình
thái chữ quy định cách viết của một số hành vi nhất định nên việc phân tích
bản chất ngữ pháp của các hiện tượng chính tả là quan trọng và cần thiết (vì
chỉ ra mối quan hệ giữa hình thức và nội dung ý nghĩa).
Chính tả tiếng Việt về cơ bản là chính tả ngữ âm học. Do dựa vào
nguyên tắc ghi âm nên chữ viết tiếng Việt tương đối thuận tiện và đơn giản.
Tuy vậy, trong chính tả tiếng Việt cần chú ý một vài điểm sau :
- Chính tả tiếng Việt không dựa hoàn toàn vào cách phát âm thực tế của
một vùng nhất định nào. Bởi lẽ, mỗi địa phương đều có những điểm chưa
chuẩn trong cách phát âm. Vì vậy, không thể dựa vào việc “nghe như thế
nào, viết như thế nấy được”. Chẳng hạn, không thể viết là lo (trong từ ấm no)
khi nghe một người vùng Hải Hưng nói ; Còn ở vùng Nghi Lộc tỉnh Nghệ An,
không chỉ học trò mà cả người dân trong các vùng khi nghe phát âm sẽ khó
phân biết được đâu là tiếng mang thanh huyền, đâu là tiếng mang thanh sắc.
Do vậy, mới có câu hài hước rằng “cà có cuống (quả cà) và cà có đuôi (con
cá)” ! Và khi nghe người phía Nam phát âm “dzỗ dề” không thể cứ viết y
như vậy.
- Trong chính tả tiếng Việt còn một số điều bất hợp lí. Chẳng hạn cũng
phát âm là “ngờ” nhưng cách viết lại có chỗ khác nhau : nga (ng) nhưng nghe
(ngh); cùng đọc là “cờ” nhưng lại có tới ba cách viết khác nhau : nông cạn
(c), kinh ngạc (k) và quốc gia (q)… Sự bất hợp lí tồn tại ngay từ khi mới xây
dựng chữ quốc ngữ cho đến tận ngày nay. Có những hiện tượng như trên là vì
việc xây dựng chữ quốc ngữ của ta dựa theo chính tả của một số nước Tây Âu
cách đây đã rất nhiều năm mà đến ngày nay hình thức ngữ âm đã khác xưa rất
nhiều. Cũng có những trường hợp như d / gi (gìn giữ, hiền dữ), cũng thật sự
gây khó khăn cho người viết. Những trường hợp này có thể lí giải là do sự
phát triển của hệ thống ngữ âm tiếng Việt.
14

bà con là Việt kiều Campuchia về đây sinh sống từ năm 1978 cũng khá nhiều.
Là một trong những huyện nghèo nhất của tỉnh, nhưng khoảng 10 năm
trở lại đây, Hồng Ngự đã có nhiều thay đổi về phát triển kinh tế. Từ một vùng
đất nhiều phèn mặn, mỗi năm chỉ làm được một vụ lúa, ngày nay phần lớn đất
đai ở đây đã được chuyển sang 2 vụ/năm nhờ nhiều hệ thống kênh rạch xẻ
dọc, xẻ ngang trên những cánh đồng. Có nơi, nhờ hệ thống đê bao ngăn lũ,
nông dân còn làm được ba vụ lúa trong năm. Đường giao thông giữa các xã
trong huyện với thị trấn, với các huyện khác và với tỉnh đã có nhiều thuận lợi
lớn. Các trục giao thông từ xã, huyện, tỉnh đã được rải đá hoặc tráng nhựa làm
cho kinh tế của huyện càng thêm khởi sắc. Mạng lưới điện quốc gia đã về
khắp các xã trong huyện phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Đời sống
văn hóa của người dân ngày càng được nâng cao do sự nắm bắt các thông tin
hết sức dễ dàng và thuận tiện.
Bên cạnh sự phát triển về kinh tế và văn hóa, ngành giáo dục của huyện
cũng có những bước tiến mới. Các phòng học tranh tre nứa lá đã không còn ở
các điểm trường không còn cảnh học sinh phải học ba ca, bốn ca trong ngày
như mười mấy năm về trước. Mỗi xã có ít nhất hai trường tiểu học và nhiều
điểm học để học sinh đi học được dễ dàng. Năm học 2003 – 2004, huyện
Hồng Ngự có 22 trường tiểu học trên 08 xã và 01 thị trấn với tổng số 10.357
học sinh. Huyện cũng có tới 617 giáo viên tiểu học. Trong đó, hầu hết các
giáo viên tiểu học của huyện đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn (598/617).
Nhiều giáo viên tốt nghiệp Cao đẳng Tiểu học hệ chính quy do Trường Cao
đẳng sư phạm Đồng Tháp đào tạo, một số khác đã tốt nghiệp Cử nhân Tiểu
học tại chứcf và từ xa do Trường Đại học sư phạm Hà Nội 1 và Đại học Huế
đào tạo. Đại bộ phận giáo viên tiểu học trong huyện tốt nghiệp chính quy hệ
Cao đẳng tiểu học hoặc chuẩn hóa xong chương trình Trung học sư phạm 12
+ 2 hiện đang theo học chương trình đào tạo từ xe của Đại học Huế hoặc đang
học chuyên tu hệ Cử nhân Tiểu học, Cao đẳng Tiểu học do trường Đại học sư
16
phạm Đồng Tháp đào tạo. Hiện nay, huyện Hồng Ngự chỉ còn khoảng 2%

tả. Do ảnh hưởng từ môi trường sống cho nên trong học sinh hiện nay nhiều
em viết sai chính tả do việc phát âm theo phương ngữ. Với những học sinh có
gốc miền Trung, các em chịu sự ảnh hưởng của phương ngữ Trung bộ từ cha
mẹ và những người xung quanh nên có những trường hợp giáo viên đọc chính
tả đúng nhưng khi các em nhằm lại để viết vào vở thì lại viết sai. Chẳng hạn,
khi giáo viên đọc từ “đất nước” các em lại viết thành “đắt nước”. Hiện nay,
học sinh của trường viết sai chính tả nhiều nhất là ở phần vần của âm tiết, bên
cạnh đó, phụ âm đầu, thanh điệu cũng bị các em viết sai không ít. Đó là
trường hợp giáo viên đọc chính tả cho các em viết, còn những bài tập làm văn
do các em vận dụng ngôn ngữ sẳn có của mình để tạo lập văn bản thì lỗi sai
về chính tả cũng khá nhiều. Đây là một trong những khó khăn lớn mà người
giáo viên của trường tiểu học gặp phải khi rèn luyện viết đúng cho các em.
Về phía giáo viên, dù trình độ đào tạo đạt chuẩn nhưng ngoài những giáo
viên có ý thức rèn luyện để đọc thật chuẩn chính tả cho học sinh viết đúng thì
vẫn còn một số giáo viên chưa khắc phục được những thói quen phát âm do
ảnh hưởng từ phương ngữ. Một số giáo viên còn mắc lỗi phát âm ở một số các
tiếng có âm cuối c / t hay n / ng. Một vài giáo viên thậm chí còn sai một vài
âm, vần, thanh tương đối đặc biệt (ê  ơ ; thanh hỏi/ngã biến thành thanh
nặng). Trong giảng dạy, còn có những giáo viên chưa thật coi trọng yêu cầu
viết đúng chính tả mà chỉ chú trong vào việc truyền thụ kiến thức tiếng Việt
nói chung cho học sinh. (ôi  âu, chổi  chẩu)
2/- Những đổi mới về chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy
học bộ môn chính tả cũng là một cơ sở thực tiển đề tài cần lưu ý :
Chương trình tiểu học 2000 (gọi tắt là CTTH – 2000) đang thực hiện đại
trà trong cả nước đến chương trình lớp 3 (năm học 2004 – 2005), trong đó
môn chính tả cũng có khá nhiều điều đổi mới.
Nhiệm vụ của môn chính tả được chương trình quy định như sau:
18
- Rèn luyện cho học sinh những kĩ năng viết đúng chính tả và kĩ năng
nghe.

- Hướng dẫn làm bài tập chính tả.
- Củng cố, dặn dò.
Điều cần chú ý là việc viết chính tả cũng cần kết hợp với luyện đọc,
luyện nghe, luyện nói (khi học sinh đọc nhầm lại bài chính tả theo lời hướng
dẫn chữa lỗi của giáo viên, khi nghe đề viết chính tả, khi học sinh trả lời các
câu hỏi).
Việc dạy chính tả hiện nay cần chú ý phát huy tính tích cực học tập của
học sinh với nhiều hình thức thi đua, tổ chức trò chơi. Trên cơ sở đảm bảo
những yêu cầu và quy trình tiến hành giờ học, giáo viên có thể linh hoạt, sáng
tạo, tùy từng bài dạy cụ thể và đặc điểm của lớp học mà đưa những kĩ thuật,
thủ thuật, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học thích hợp hơn.
Mặt khác, tuy sự đổi mới về chương trình và sách giáo khoa và phương
pháp dạy học đã góp phần quan trọng trong việc định hướng nội dung và
phương pháp dạy học chính tả cho giáo viên song phần bài tập chính tả theo
vùng miền mới chỉ ở cấp độ các vùng lớn trong cả nước. Mà chúng ta đã biết,
việc dạy chính tả đảm bảo tính thiết thực, sát đối tượng học sinh phụ thuộc rất
nhiều vào khả năng “tạo phần mềm” của từng giáo viên. Về điều này, không
phải giáo viên nào cũng có thể thực hiện được.
Chính vì những lẽ trên, qua đề tài chúng tôi muốn giúp giáo viên tiểu học
trong tỉnh nói chung, trong huyện Hồng Ngự nói riêng, có ý thức dạy học
chính tả gắn với địa phương và bước đầu biết cách sử dụng và có thể tự mình
tạo một số “phần mềm” chính tả cho học sinh của mình để có thể nâng cao
chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt trong nhà trường tiểu học, góp phần
thực hiện mục tiêu dạy học.
20
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH
TIỂU HỌC HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
I/- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG :
1/- Chính tả và lỗi chính tả : Chính tả theo Từ điển tiếng Việt là “Cách
viết chữ được coi là chuẩn” [8, 157].

Trường Tiểu học Tân Công Chí 1, Trường Tiểu học tân Công Chí 2, Trường
Tiểu học Bình Phú 3, Trường Tiểu học Tân Thành A1, Trường Tiểu học Tân
Thành A2, Trường Tiểu học Thông Bình 2, Trường Tiểu học Tân Hộ Cơ 1.
2.2/- Đối tượng khảo sát :
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi chọn đối tượng
khảo sát như sau :
2.2.1/- Với học sinh :
 Mỗi trường khảo sát 5 lớp học sinh từ khối 1 đến khối 5, mẫu được
chọn một cách ngẫu nhiên (các lớp có học trong thời gian khảo sát).
 Với các bài viết của học sinh : chúng tôi chọn bài kiểm tra giữa kì 2
của học sinh từ khối 1 đến khối 5.
2.2.2./- Với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục :
Mẫu được chọn bao gồm các cán bộ chuyên viên tiểu học của phòng
giáo dục, các cán bộ quản lý các trường tiểu học được chọn khảo sát (hiệu
trưởng, hiệu phó, các khối trường) và các giáo viên trực tiếp đứng lớp ở các
trường được chọn khảo sát.
3/- Vấn đề lập phiếu điều tra :
3.1/- Phiếu khảo sát cán bộ quản lí :
Phiếu này dành cho đối tượng là các chuyên viên Phòng Giáo Dục, hiệu
trưởng và phó hiệu trưởng, các khối trường các trường tiểu học được khảo sát.
Mục đích khảo sát đối tượng này của chúng tôi là tìm hiểu là những nhận xét
của các cán bộ trực tiếp, các cán bộ cốt cán về khả năng viết chính tả của đội
ngũ giáo viên do họ trực tiếp quản lý. Phiếu cũng nhằm lấy ý kiến về mối
22
quan hệ giữa chính âm và chính tả, những lỗi chính âm, chính tả phổ biến,
cũng như những kinh nghiệm, những giải pháp mà được các cán bộ quản lí
giáo dục cho là cần thiết và họ đã thực hiện để có thể cải thiện tình hình chính
tả của học sinh tiểu học ở địa phương mình.
3.2/- Phiếu khảo sát giáo viên tiểu học :
Phiếu khảo sát giáo viên tiểu học ngoài mục đích tìm hiểu những thông

1/- Qua phiếu phỏng vấn giáo viên và cán bộ quản lý :
1.1/- Ý kiến các cán bộ quản lý :
Tổng số cán bộ quản lý được khảo sát : 61, bao gồm các đối tượng đã
nêu ở trên. Qua các phiếu thu về thể hiện như sau.
Câu 1 : Học sinh tiểu học trong huyện Hồng Ngự thường sai những lỗi
phát âm phổ biến nào ?
Kết quả thu được : (xem bảng 01).
Nhận xét : Theo các cán bộ quản lí, lỗi phát âm phổ biến của học sinh
tiểu học huyện Hồng Ngự bao gồm :
 Về thanh điệu : hai thanh điệu học sinh phát âm lẫn lộn là thanh hỏi (?)
và thanh ngã (~) (56/61 phiếu).
 Về phụ âm đầu :
 Sai, lẫn lộn phụ âm tr  ch (51/61 phiếu).
 Sai âm s  x (45/61 giáo viên).
 Các âm v  d/gi và r  g : mỗi loại có 25/61 giáo viên khẳng định.
 Ngoài ra, học sinh tiểu học huyện Hồng Ngự còn mắc các lỗi q  h ;
r  d. Những lỗi này ít hơn các lỗi đã nêu trên.
 Về vần :
 Các vần phát âm sai nhiều là ăt

ăc (48/61 phiếu) ; ăn

ăng
(38/61 phiếu) ; an

ang (35/61 phiếu) ; êu

iu (33/61 phiếu) ; oan

oang (32/61 phiếu) ; ươn

ch và s

x.
 Các âm đầu v

gi/d ; ng

ngh học sinh cũng viết sai tương đối
nhiều.
 Một số học sinh viết sai các phụ âm c

k (8/61 ý kiến) ; âm q

h
(7/61 ý kiến) ; có 02 ý kiến của cán bộ quản lý cho rằng học sinh còn sai âm l

n ; g

gh ; r

d.
 Lỗi về vần :
 Những vần học sinh sai nhiều nhất là ăn

ăng, ăc

ăt, ut

uc,
iên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status