LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Văn Phương
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGHIÊN CỨU CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ BAN TỔ CHỨC Ở
CÁC SƯ ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
VIỆT NAM
1.1.
Ban tổ chức và đội ngũ cán bộ ban tổ chức ở các sư đoàn
trong Quân đội nhân dân Việt Nam
1.2.
Những vấn đề cơ bản về xây dựng đội ngũ cán bộ ban tổ
chức ở các sư đoàn trong Quân đội Nhân dân Việt Nam
Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
30
30
52
75
75
99
116
116
127
172
174
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
175
188
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
01
02
03
04
05
06
07
TSVM
XHCN
VMTD
5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài luận án: “Xây dựng đội ngũ cán ban tổ chức ở các sư đoàn trong
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, được nghiên cứu sinh tâm huyết, ấp ủ
và đầu tư trí tuệ, công sức nghiên cứu suốt quá trình học tập và trải nghiệm
thực tiễn công tác trong lĩnh vực tổ chức xây dựng Đảng gần 20 năm. Trong
thời gian đó, nghiên cứu sinh luôn nỗ lực tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm và
chủ động nghiên cứu, viết các bài báo đăng trên các tạp chí có uy tín trong
quân đội về nội dung có liên quan.
Đề tài được thực hiện dựa trên nền tảng lý luận Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng ĐNCB; tham khảo, kế thừa kết quả
nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài;
cùng với các báo cáo sơ kết, tổng kết của các đơn vị và số liệu điều tra, khảo
sát; sự định hướng, trao đổi của tập thể cán bộ hướng dẫn khoa học để nghiên
cứu sinh giải quyết những nhiệm vụ mà công trình nghiên cứu đặt ra.
Đề tài luận án hướng vào làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
về xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN. Trên cơ sở
đó, đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm, nguyên
nhân và rút ra một số kinh nghiệm xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư
đoàn trong QĐNDVN những năm vừa qua. Từ những phân tích làm rõ sự tác
động của tình hình nhiệm vụ, đề tài luận án xác định yêu cầu và đề xuất
những giải pháp tăng cường xây dựng đội ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn
trong QĐNDVN hiện nay.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp ủy, tổ chức đảng
trong đảng bộ sư đoàn nên số lượng ĐNCB ban tổ chức thường xuyên được
kiện toàn, chất lượng ngày càng được nâng lên; đại bộ phận được đào tạo cơ
bản trong các nhà trường quân đội, được rèn luyện qua các cương vị cán bộ
7
chủ trì về chính trị ở các đơn vị cấp phân đội, có năng lực công tác xây Đảng,
CTĐ, CTCT tốt, có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành tốt
chức trách, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ công tác
xây dựng đảng bộ các sư đoàn TSVM, thì chất lượng ĐNCB ban tổ chức có
mặt chưa đáp ứng. Số lượng còn thiếu so với nhu cầu nhiệm vụ, cơ cấu đội
ngũ chưa thật hợp lý, năng lực công tác xây dựng Đảng, nhất là năng lực tham
mưu đề xuất; năng lực chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra; năng lực tổng hợp, dự
báo; năng lực phối hợp hiệp đồng; năng lực xử lý các tình huống…cũng còn
bộc lộ những hạn chế nhất định so với yêu cầu chức trách, nhiệm vụ. Những
hạn chế, khuyết điểm đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tổ chức xây
dựng Đảng ở đảng bộ các sư đoàn trong QĐNDVN hiện nay.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nâng cao chất lượng công tác xây dựng
dựng Đảng ở đảng bộ các sư đoàn trong tình hình hiện nay, phải xây dựng và
phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của ĐNCB ban tổ chức - lực lượng trực tiếp
tham mưu giúp đảng ủy, chính ủy sư đoàn về công tác xây dựng Đảng. Điều
đó, đòi hỏi phải tập trung xây dựng ĐNCB ban tổ chức ngang tầm với yêu cầu
nhiệm vụ. Với những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Xây dựng ĐNCB
ban tổ ở các sư đoàn trong QĐNDVN hiện nay” làm đề tài luận án, mong
muốn góp phần xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn và đề xuất
của Quân ủy Trung ương về cán bộ và công tác cán bộ.
* Cơ sở thực tiễn
Là thực tiễn xây dựng ĐNCB ban tổ chức và công tác tổ chức xây dựng
Đảng ở các sư đoàn trong QĐNDVN; tham khảo các báo cáo sơ kết, tổng kết
9
của các quân khu, quân đoàn, Quân chủng Phòng không - Không quân và
các sư đoàn về những vấn đề có liên quan. Kết hợp với kết quả điều tra,
khảo sát thực tế về thực trạng xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn của
nghiên cứu sinh.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,
luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và
liên ngành, trong đó chú trọng sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng
hợp, so sánh, hệ thống-cấu trúc, lịch sử-logic, khái quát hoá, hệ thống hóa,
khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Luận giải làm rõ quan niệm và những vấn đề cơ bản vể xây dựng
ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN.
- Tổng kết một số kinh nghiệm xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư
đoàn trong QĐNDVN. Đó là, luôn xuất phát từ nhiệm vụ của sư đoàn, yêu
cầu nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng và chức trách, nhiệm vụ của cán bộ
ban tổ chức; xây dựng ĐNCB ban tổ chức phải tiến hành đồng bộ các khâu,
các bước trong quy trình xây dựng ĐNCB; chú trọng giải quyết hài hòa
mối quan hệ giữa yêu cầu “chuyên môn hóa” và luân chuyển cán bộ ban tổ
chức ở các sư đoàn trong quân đội
- Đề xuất một số nội dung, biện pháp tăng cường xây dựng ĐNCB ban
tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN hiện nay. Đó là, nâng cao nhận thức
của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp về vị trí, vai trò, nhiệm vụ
giả cuốn sách nêu lên là: để vượt qua thách thức đưa công cuộc cải cách mở
cửa tiếp tục tiến lên cần phải quan tâm xây dựng ĐNCB cách mạng, năng
động, sáng tạo. Kinh nghiệm cốt tử là công tác cán bộ phải phục tùng Đảng.
Đảng phải xây dựng ĐNCB cho cả hệ thống chính trị bao gồm cả người
trong Đảng và người ngoài Đảng. Trung Quốc kiên trì phương châm “bốn
hóa” trong xây dựng ĐNCB. Bốn hóa bao gồm: Cách mạng hóa, trẻ hóa, tri
thức hóa, chuyên môn hóa. Trung Quốc coi đó là một khái niệm hoàn
chỉnh, trong đó cách mạng hóa là tiền đề quyết định tính chất của phương
châm này. Thực hiện phương châm “bốn hóa” là yêu cầu tất yếu của sự
nghiệp cải cách mở cửa hiện nay. Về tiêu chuẩn cán bộ, Trung Quốc kiên
trì nguyên tắc “tài đức song toàn” gắn chặt với nguyên tắc “thực tiễn là số
một” và nguyên tắc “được nhân dân công nhận”. Về đánh giá cán bộ, Trung
Quốc thực hiện xem xét một cách toàn diện cả “đức, năng, cần, tích” để
quyết định lấy hay không lấy, dùng hay không dùng. Một kinh nghiệm quý
giá mà Trung Quốc đúc kết là: phải coi trọng bồi dưỡng cán bộ mới và cốt
cán cách mạng. Đảng Cộng sản Trung Quốc coi việc bồi dưỡng người kế
tục sự nghiệp cách mạng là việc quan trọng trong công tác cách mạng của
Đảng, hình thành nên một hệ thống lý luận và phương châm, nguyên tắc
hoàn chỉnh. Theo đó, Trung Quốc đã xây dựng và hoàn thiện “Chiến lược
nhân tài”, trọng tâm của chiến lược hướng vào việc đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ hiền tài kế tục sự nghiệp cách mạng. Trung Quốc coi trọng cải cách
12
việc dạy và học ở các trường Đảng, Học viện Hành chính, coi trọng đưa
người ra nước ngoài đào tạo, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, tăng cường
tính thực tiễn trong đào tạo cán bộ.
Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu (2008), (đồng chủ biên) “Tôn trọng tri
thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” [62]. Đã phân
tích rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc xây dựng ĐNCB Trung quốc trong
đội” [53, tr.289]. Tác giả đã đưa ra những yêu cầu rất cụ thể với cán bộ, sĩ quan
và việc đào tạo họ như: phải có tính kiên định cộng sản chủ nghĩa, lòng trung
thành vô hạn với Đảng và nhân dân; có kỷ luật và ý thức chấp hành cao, đó là
việc thực hiện một cách chính xác và kịp thời mệnh lệnh của cấp trên, tính trung
thực và chân thành; phải thường xuyên sáng kiến và tính chủ động trong mọi
hoạt động; luôn có ý chí chỉ huy và năng lực tổ chức trong việc đạt tới mục đích;
phải có trình độ nghiệp vụ, trình độ văn hóa và trình độ kỹ thuật - quân sự cao;
biết huấn luyện và giáo dục những người dưới quyền của mình.
1.2. Các công trình nghiên cứu về cơ quan chính trị, cán bộ chính trị
và cán bộ tổ chức trong quân đội
Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô (1976), “Công tác đảng,
công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Liên Xô 1918 - 1973” [150], đã
tổng kết khá sâu sắc về lịch sử quá trình hình thành, phát triển CTĐ, CTCT
trong các lực lượng vũ trang Liên Xô; sự hình thành, phát triển, bổ sung về
biên chế tổ chức, thay đổi chức năng, nhiệm vụ và vai trò của hệ thống cơ quan
chính trị trong Quân đội và Hải quân Xô viết đối với sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc XHCN từ năm 1918 đến năm 1973. Bàn về cơ quan chính trị,
cuốn sách đề cập ở chương V, chương VI và chương VII. Điểm 3, phần 1,
Chương V: “Việc củng cố các cơ quan chính trị và các tổ chức đảng trong thời
kỳ chiến tranh thế giới thứ hai từ năm 1941 đến năm 1945”, trong đó có nhấn
mạnh việc củng cố các cơ quan chính trị là vấn đề có ý nghĩa rất lớn. Đồng
thời, đánh giá cao những thành công trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của
cán bộ ở cơ quan chính trị. Tác giả cuốn sách xác định: “Trong quá trình chiến
tranh, các cán bộ chính trị đã hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt đẹp”
[150, tr.340]. Điểm 2 phần 1 của chương VI đề cập đến việc cải tổ lại cơ cấu và
14
công tác của các cơ quan chính trị, các tổ chức đảng và đoàn thời kỳ những
năm sau chiến tranh năm 1946 đến năm 1953. Lý do cải tổ cơ quan chính trị là
quan chính trị, xác định các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc: từ
cấp trung đoàn và tương đương thành lập phòng chính trị, từ sư đoàn và tương
trở lên thành lập Bộ chính trị, cơ quan chính trị toàn quân gọi Tổng bộ Chính
trị. Trong đó: Bài một, đã đề cập đến tính chất, vị trí, vai trò của cơ quan chính
trị. Bài hai, đề cập đến công tác chủ yếu và yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan
chính trị. Đây là cơ quan có nhiệm vụ rất quan trọng trong tham mưu và tổ
chức thực hiện mọi đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản, Hiến pháp, pháp
luật của Nhà nước và điều lệnh, điều lệ của Quân giải phóng nhân dân Trung
Quốc. Cuốn sách xác định rõ, công tác chủ yếu của cơ quan chính trị là:
Quán triệt thực hiện đường lối, phương châm, chính sách và Hiến
pháp, pháp luật quốc gia, của Đảng Cộng sản Trung Quốc, bảo đảm
sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội, kiên trì “bốn
nguyên tắc” cơ bản, quét sạch ảnh hưởng của cánh tả, phòng ngừa
và khắc phục thiên hướng cánh hữu, duy trì sự thống nhất với Trung
ương Đảng về mặt chính trị, tư tưởng [93, tr.254].
Bài ba, đề cập đến chức trách công tác của các ban ngành trong cơ quan
chính trị như: ngành tổ chức, ngành cán bộ, ngành tuyên truyền, ngành bảo
vệ, ngành văn hoá, ngành công tác quần chúng, ngành liên lạc và ngành thư
ký. Đối với công tác tổ chức, tác giả đã đưa ra nhiều quan điểm, luận cứ
cứu có giá trị như:
Ngành tổ chức các cấp là ngành nghiệp vụ quản lý công tác tổ chức
và công tác thanh niên. Nhiệm vụ cơ bản của nó là lấy học thuyết
xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Mao Trạch
Đông làm kim chỉ nam, lấy Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc,
những chuẩn mực cơ bản của đời sống chính trị trong Đảng và
những chỉ thị, nghị quyết của đảng ủy làm căn cứ để chỉ đạo công
tác xây dựng Đảng đoàn của các đơn vị [93, tr.259].
Trong bài này, còn chỉ rõ chín chức trách của công tác tổ chức, đây là
những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, làm cơ sở cho việc triển
tra tình hình chấp hành Điều lệ Đảng của các quân nhân trong các
17
đơn vị trực thuộc. Phụ trách công tác thống kê thực lực công tác
chính trị; công tác quản lý đảng viên; công tác khen thưởng và kỷ
luật đảng; công tác quản lý và tiếp nhận đảng viên, đoàn viên; công
tác chuyển đảng và công tác tổ chức đảng, quản lý đảng phí, đoàn
phí, sử dụng, quản lý công tác đảng vụ, công tác đoàn và các cộng
tác viên làm công tác chính trị sở tại thực hiện Điều lệ Công tác
chính trị. Phụ trách việc lấy thực lực chính trị, quản lý đảng viên,
công tác thưởng phạt, quan hệ tổ chức đoàn, sử dụng đảng phí, đoàn
phí, giải quyết xử lý công tác, nhiệm vụ khác của Đảng và công tác,
nhiệm vụ của đoàn, v.v... [93, tr.260-261].
1.3. Các công trình nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
chính trị trong quân đội
A.Ph.Sram-tren-cô (1983), “Những vấn đề Tâm lý học trong chỉ huy bộ
đội” [112]. Ở chương IV, tác giả đã đưa ra vấn đề lựa chọn và phân phối cán
bộ, hình thành các tập thể quân nhân. Trong đó, chú ý nhiều đến việc lựa chọn
cán bộ, tìm tòi và phát hiện những người thực sự có tài, có năng lực, từ đó mà
biết giao việc cho từng người cán bộ để họ trưởng thành, và thường xuyên
giúp đỡ họ. Đồng thời, đưa ra những nội dung, biện pháp trong bồi dưỡng,
giáo dục, quản lý cán bộ trẻ, ít kinh nghiệm thực tế, tâm lý, tư tưởng luôn bị
tác động chi phối, dao động trong thực tiễn công tác. Tác giả xác định:
Trong kế hoạch công tác đảng - công tác chính trị của tổ chức các
cấp cần phải dự kiến trước những biện pháp giúp đỡ các sĩ quan
trẻ như: tổ chức gặp gỡ những người chỉ huy có kinh nghiệm và
chuyên gia giỏi về phương pháp giảng dạy, những nhà cách mạng
lão thành và cựu chiến binh, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ họ
trong công tác, trong tổ chức đời sống và các hoạt động văn hóa
quân đội, làm cho quân đội thực sự là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành,
tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào.
Khi bàn về: nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ huy, quản lý
đơn vị của ĐNCB, tác giả chỉ rõ: thực hiện các nội dung trong công tác cán
bộ, nâng cao trình độ mọi mặt của ĐNCB phải gắn với trách nhiệm lãnh đạo,
19
quản lý chỉ huy đơn vị; lấy kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao
của cán bộ mà đánh giá chất lượng công tác xây dựng ĐNCB.
Neang Phat (2016) “Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia Cam
puchia hiện nay” [91]. Tác giả cho rằng: trong Quân đội Hoàng gia
Campuchia, ĐNCB có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần
xây dựng quân đội, cơ quan, đơn vị VMTD, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ
mà Nhà vua, Chính phủ Hoàng gia và nhân dân giao cho. Từ khi ra đời cho
đến nay, Hoàng gia và Chính phủ Campuchia đặc biệt quan tâm, chăm lo xây
dựng ĐNCB quân đội, bảo đảm cho quân đội được quản lý và chỉ huy thông
suốt. Trên cơ sở phân tích các đặc điển của ĐNCB, chỉ ra những yếu tố tác
động đến xây dựng ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia, tác giả đã đề
xuất 06 giải pháp tăng cường xây dựng ĐNCB Quân đội Hoàng gia
Campuchia hiện nay, Ở giải pháp thứ 03, bàn về đổi mới, nâng cao chất lượng
tạo nguồn, tuyển chọn, quy hoạch ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia,
tác giả cho rằng: thực hiện đúng phương châm “động”, “mở” và “mềm” trong
quy hoạch ĐNCB các cấp, đảm bảo cho công tác quy hoạch không hạn chế số
người định sẵn, có nhiều nguồn để lựa chọn, không khép kín trong từng cơ
quan, đơn vị; cần nhớ đến chính sách tiến cử, bầu cử, thăng chức vượt cấp
của các triều đại Campuchia trong lịch sử dựng nước và giữ nước nhằm trọng
dụng, không bỏ sót người tài. Chính sách này đã được thực tiễn lịch sử chứng
minh là đúng đắn và có hiệu quả.
2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài
hành động theo phương châm “việc gì lợi cho dân, phải hết sức làm; việc gì
hại cho dân, phải hết sức tránh”. Thứ ba, mỗi cán bộ, viên chức phải yêu
dân, tin dân, trọng dân, gần dân, học dân. Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên luôn
thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Thứ năm, mỗi cán bộ, công
chức phải ra sức học tập, không ngừng nâng cao trình độ, năng lực để có
cống hiến cao nhất cho nhân dân. Thứ sáu, Nhà nước chăm lo đến chế độ,
chính sách đối với ĐNCB, công chức để họ thực sự là “công bộc” của dân.
Thứ bảy, mỗi cán bộ công chức nghiêm túc và thường xuyên thực hành phê
bình và tự phê bình [61, tr.51-52].
21
Nguyễn Quang Phát (2001), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị phân
đội của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng
Hồ Chí Minh” [94], tác giả khái quát tư tưởng của Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn
cán bộ chính trị, đó là: phải là người thật sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng,
có năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của
quân đội; thực sự mẫu mực về phong cách, phương pháp công tác, nói đi đôi
với làm. Tác giả đánh giá thực trạng xây dựng ĐNCB chính trị cấp phân đội
theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đề xuất những nội dung cơ bản về tạo nguồn,
đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, thực hiện chính sách đối với ĐNCB chính trị cấp
phân đội, bảo đảm đội ngũ này có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, số lượng phù
hợp theo yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Tuyển chọn chặt chẽ qua thực tiễn,
đào tạo, bồi dưỡng toàn diện, chú trọng về bồi dưỡng đạo đức cách mạng,
đánh giá đúng đắn, khéo bố trí, sử dụng và quan tâm đến đời sống vật chất,
tinh thần của cán bộ chính trị.
2.2. Các công trình nghiên cứu về phòng chính trị, đội ngũ cán bộ
chính trị trong quân đội
Tổng Cục chính trị (1990), “Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” [124]. Cuốn sách đã bàn về vấn
nắm tình hình, nghiên cứu, đề xuất; năng lực hướng dẫn, kiểm tra việc thực
hiện kế hoạch của ngành, kế hoạch CTĐ, CTCT; năng lực tổng hợp, báo cáo,
sơ kết, tổng kết. Cùng với bồi dưỡng năng lực cần bồi dưỡng nâng cao tính
nguyên tắc, sáng tạo, nhạy bén, linh hoạt trong các hoạt động thể hiện đúng tác
phong của cán bộ chính trị; bồi dưỡng nâng cao trí tuệ, trình độ nghiên cứu
khoa học xã hội nhân văn cho ĐNCB chính trị, bảo đảm nắm, phân tích, đánh
giá đúng đắn mọi diễn biến của tình hình làm cơ sở xử lý kịp thời, chính xác
những vấn đề nảy sinh. Nâng cao năng lực đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư
tưởng hiện nay cũng như đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, thoái hoá
trong hệ thống chính trị nói chung và quân đội nói riêng. Bản thân ĐNCB
chính trị phải tự mình phấn đấu để có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ và yêu cầu nâng cao hiệu lực CTĐ, CTCT. Ở từng cấp, ngành, đơn vị
cần có kế hoạch cụ thể và tổ chức chu đáo việc bồi dưỡng cơ quan chính trị,
23
cán bộ chính trị; phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ chủ trì
trong vấn đề này; kết hợp tốt giữa cấp trên với cấp dưới, giữa tổ chức với từng
cá nhân trong quá trình bồi dưỡng. Coi trọng việc lựa chọn cán bộ đi đào tạo
tập trung, đồng thời tích cực bồi dưỡng trong thực tiễn công tác.
Tổng Cục chính trị (2008), “Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị
trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 1975 - 2005” [131]. Cuốn sách
đã đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm chính về hoạt động CTĐ, CTCT và
rút ra những bài học kinh nghiệm CTĐ, CTCT trong quá trình xây dựng quân
đội. Bài học kinh nghiệm thứ bảy, đã xác định: xây dựng hệ thống cơ quan
chính trị và cán bộ chính trị các cấp có chất lượng cao, thực sự làm nòng cốt
trong tiến hành CTĐ, CTCT, xây dựng quân đội về chính trị. Đưa ra những
biện pháp cụ thể trong xây dựng cơ quan chính trị và ĐNCB chính trị các cấp
trong quân đội, gồm: xây dựng hệ thống cơ quan chính trị và cán bộ chính trị
làm nòng cốt trong tiến hành CTĐ, CTCT và xây dựng quân đội vững mạnh
cơ quan chính trị cấp trung, sư đoàn, đề tài quan niệm: “….tổng hoà chất
lượng các yếu tố hợp thành hoạt động của cơ quan chính trị theo yêu cầu,
chức năng, nhiệm vụ, phản ánh giá trị của các nội dung, hình thức, biện pháp
tiến hành….” [11, tr.42].
2.3. Các công trình nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ chính trị trong quân đội
Trần Xuân Trường (2002), (chủ biên), “Nâng cao chất lượng đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ
mới” [139], đã trình bày có tính hệ thống toàn bộ nội dung nâng cao chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB chính trị quân đội trong các thời kỳ. Các tác
giả đã phân tích làm rõ vị trí, vai trò cán bộ chính trị quân đội; xác định
những yêu cầu về đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB chính trị quân đội; đánh giá thực
trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị của Quân đội nhân dân Việt
Nam trong tiến trình lịch sử và hiện nay. Trong đó, khẳng định những thành
công trong bồi dưỡng cán bộ chính trị tại chức ở một số đơn vị, đó là: các cấp
ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp đã có nhận thức đúng về vị trí, vai trò
của cán bộ chính trị và công tác bồi dưỡng cán bộ chính trị; đã lựa chọn
25
những nội dung bồi dưỡng phù hợp; vận dụng các hình thức, phương pháp
thích hợp để bồi dưỡng cho cán bộ chính trị các cấp ở các đơn vị trong toàn
quân; tổ chức và duy trì chặt chẽ nền nếp, chế độ bồi dưỡng. Vì vậy, đã khắc
phục được một phần những hạn chế về năng lực của ĐNCB chính trị trong
thực tiễn công tác ở đơn vị. Đồng thời, đưa ra yêu cầu đối với người cán bộ
chính trị và một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
ĐNCB chính trị quân đội thời kỳ mới. Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích
nghiên cứu, cũng như do thời điểm lịch sử chưa có Nghị quyết 51 của Bộ
Chính trị khóa IX “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng thực hiện
chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên
tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng toàn diện. Đối với cán bộ chỉ huy, quản lý
phải chú ý kiến thức, năng lực toàn diện; cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ phải
chú ý trình độ chuyên môn sâu; đào tạo càng cao càng phải nhuần nhuyễn giữa
kiến thức khoa học xã hội nhân văn với kiến thức chuyên ngành và tạo được
tiềm năng phát triển lâu dài. Trong quá trình đào tạo, cùng với việc nâng cao
trình độ lý luận, cần hết sức chú ý bồi dưỡng năng lực thực tiễn, truyền thụ
kinh nghiệm chiến đấu; kết hợp giữa đào tạo tại nhà trường với bồi dưỡng tại
chức, gắn đào tạo với tự đào tạo.
Cấn Xuân Hùng (2015), “Nâng cao năng lực công tác xây dựng Đảng
của đội ngũ bí thư đảng ủy trung, lữ đoàn phòng không hiện nay” [65], cho
rằng năng lực công tác xây dựng Đảng của bí thư đảng ủy trung, lữ đoàn
phòng không là một dạng năng lực chuyên biệt của người đứng đầu đảng ủy
trung, lữ đoàn phòng không, được cấu thành bởi kiến thức, kinh nghiệm, kỹ
năng tiến hành các hoạt động xây dựng Đảng, biểu hiện ra ở khả năng, trình
độ tổ chức thực tiễn công tác xây dựng Đảng theo phạm vi chức trách, nhiệm
vụ, phản ánh mức độ, kết quả công tác xây dựng đảng bộ TSVM, đủ sức lãnh
đạo trung, lữ đoàn hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống. Năng lực đó
không hình thành tự phát mà phải được trang bị cơ bản ở các nhà trường, bồi
dưỡng và tự học tập, bồi dưỡng công phu, thường xuyên trong thực tiễn.
Việc nâng cao năng lực công tác xây dựng Đảng của đội ngũ bí thư đảng
ủy trung, lữ đoàn phòng không là tổng hợp những chủ trương, biện pháp, cách