TỔNG KẾT KINH NGHIỆM GIÁO DỤC
Tên đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CHO
HỌC SINH LỚP 4.
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch, ảnh hưởng tự giác chủ động đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển
tâm lý, ý thức nhân cách. Theo nghĩa rộng giáo dục là toàn bộ tác động của gia đình nhà trường - xã hội. Theo nghĩa hẹp thì giáo dục có thể xem như là quá trình tác động
đến tư tưởng, đạo đức, hành vi của con người (giáo dục đạo đức, giáo dục lao động,
giáo dục lối sống, hành vi... ). Chính vì thế ở trường tiểu học mỗi giáo viên đều dạy hầu
hết các môn học và tham gia quản lý học sinh theo sự phân công của nhà trường. Mặc
dầu ở mỗi lớp học đều có tổ chức tự quản của học sinh, nhưng giáo viên chủ nhiệm mới
là người thay mặt hiệu trưởng - hội đồng nhà trường và cha mẹ học sinh quản lý tập thể
học sinh lớp mình phụ trách, phấn đấu học tập và rèn luyện theo mục tiêu chung của nhà
trường. Giáo viên chủ nhiệm thường là người dạy chủ yếu của lớp, đồng thời tổ chức
lãnh đạo, điều hành, kiểm tra, đánh giá mọi hoạt động và các mối quan hệ ứng xử trong
phạm vi lớp mình phụ trách nhằm hình thành nhân cách cho học sinh. Với vị trí, vai trò
như vậy, giáo viên chủ nhiệm còn là cầu nối liền nhà trường với đời sống xã hội.
Người giáo viên chủ nhiệm bậc tiểu học có chức năng hình thành cho các em những
cơ sở ban đầu của nhân cách con người Việt Nam trong bối cảnh xây dựng một nước
Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Trong tình hình thế giới và
đất nước đang có những thay đổi mạnh mẽ vì vậy người giáo viên có nhiệm vụ khơi dậy
ở trẻ những mầm mống tốt đẹp, hình thành ở các em khả năng thích ứng với cuộc sống
ở gia đình - nhà trường và xã hội. Đứng trước mục đích yêu cầu giáo dục hiện nay, vai
trò người giáo viên chủ nhiệm rất quan trọng ( nhất là đối với bậc tiểu học). Vì vậy giáo
viên chủ nhiệm ở tiểu học phải có phương pháp giáo dục trẻ khoa học, có kế hoạch và
Trang 1
lan Hyêk và Rơ mah Hung) việc tiếp thu bài của các em so với những em khác vẫn còn
Trang 2
chậm nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc dạy và học. Một số em còn ham chơi ý thức
học tập kém mà gia đình lại ít quan tâm, các em chưa có ý thức tự giác trong rèn luyện
đạo đức và học tập.
Hầu hết học sinh trong lớp là con em những gia đình nông dân lao động nghèo,
buôn bán lại rất đông con, mức độ kinh tế gia đình còn eo hẹp, thiếu thốn, trình độ nhận
thức đến việc học tập của con em mình còn nhiều hạn chế nên phần nào ảnh hưởng đến
chất lượng giáo dục và học tập của các em. Nhiều gia đình phụ huynh còn phó thác cho
giáo viên và nhà trường chưa quan tâm đến việc học của con em mình. Học được chăng
hay chớ, thậm chí những đợt họp phụ huynh giáo viên chủ nhiệm gửi giấy về đến tận
tay phụ huynh nhưng cũng có một số trường hợp không đi họp, để nắm bắt tình hình
học tập của con em mình. Còn nhiều gia đình có hoàn cảnh éo le, không có điều kiện để
cho con em đi học phụ đạo vào những ngày thứ bảy hàng tuần. Với tình hình trên tôi
thấy hầu như những em không đi học phụ đạo thứ bảy đều có lực học trung bình yếu.
Còn nhiều em hiện tại bảng cửu chương vẫn chưa thuộc hết, kĩ năng đặt tính chậm như
em :( Ánh, Hyêk ...)Vì thế nên tôi rất băn khoăn về chất lượng của lớp. Tôi đã tìm ra
một số biện pháp giáo dục các em ngay từ đầu năm học, tiếp tục vận động học sinh ra
lớp để đảm bảo chất lượng cũng như sĩ số trên lớp.
* Kết quả đạt được phẩm chất của năm học 2015 – 2016 là:
Tổng số học sinh: 35 em.
Đạt : 100% . (Không có học sinh không hoàn thành )
3) Nguyên nhân:
3.1. Về phía học sinh:
Tình trạng học sinh đi học muộn vẫn còn.
Trong lớp còn có em hay nói chuyện, làm việc riêng làm ảnh hưởng đến lớp.
Học sinh chưa ý thức được việc học là quan trọng mà còn ham chơi.
Thích học nhưng chưa có phương pháp pháp học cụ thể trong việc chuẩn bị bài ở nhà.
không nhất nhất bắt học sinh phải học thuộc làu làu bài học mà chú trọng vào sự hiểu
biết, thể hiện qua các hành vi đạo đức của các em thông qua bài học. Ví dụ như học bài:
“ Kính già - yêu trẻ’’; Sau khi giúp các em biết trách nhiệm, bổn phận của mình đối
với ông bà, cha mẹ (vì người già và trẻ em cần phải được quan tâm chăm sóc, giúp đỡ ở
mọi nơi mọi lúc...), thì học sinh cần phải thể hiện bằng hành động việc làm cụ thể như:
Trang 4
chăm sóc ông bà, cha mẹ khi đau ốm, khi tuổi già sức yếu (múc nước mời bố mẹ khi đi
làm về mệt, đấm lưng cho ông bà khi bị đau ốm, nấu cháo cho ông bà ăn....) Như vậy
em đã làm vui lòng ông bà, cha mẹ rồi đấy. Từ những hành vi đạo đức thực tế trong đời
sống hàng ngày như thế dần dần làm cho những tri thức về chuẩn mực đạo đức bắt rễ
sâu vào trí tuệ học sinh và tiến đến tạo ra cho các em tình cảm đạo đức, động cơ đạo đức
và niềm tin đạo đức...
Biến tri thức đạo đức thành niềm tin đạo đức : Muốn biến tri thức đạo đức thành
niềm tin và tình cảm đạo đức không thể không tìm mọi cách tác động vào tình cảm và ý
chí của học sinh vào hành vi, thói quen đạo đức, tác động vào tình cảm, sự học tập, thái
độ và chuyển được tri thức đạo đức thành niềm tin đạo đức. Việc tổ chức cho học sinh
tiếp xúc với người thực, việc thực, với chính chủ thể của các hành vi đạo đức có thật sẽ
tác động hơn nhiều so với lý thuyết dài dòng, khô khan, cứng nhắc về những điều phải
làm và không được làm. Việc thực và người thực có khả năng đi vào niềm tin của mỗi
học sinh, của nhóm và tập thể mà học sinh là thành viên. Những hành vi đó là mẫu mực
để học sinh noi theo. Như giáo dục các em đức tính thật thà: “ nhặt được của rơi trả
lại cho người mất”, các em nhặt được từ cái bút chì, thước kẻ, cho đến dây chuyền
vàng... đều báo với thầy cô và trả lại cho người đánh mất. Giáo viên chủ nhiệm cũng
như nhà trường đều khen ngợi nêu gương kịp thời để các em còn lại noi theo, đây là một
việc làm thiết thực có tác dụng giáo dục đạo đức có hiệu quả cao mà toàn trường cũng
như lớp tôi đã phát động thực hiện.
Trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học không nên dùng phương
pháp giáo dục nặng nề về lý thuyết, người dạy không nên nặng về đưa ra những lời
tế khó khăn...). Nhiều em gặp những cuộc sống không ít khó khăn, đặc biệt lớp tôi cũng
có những em có hoàn cảnh đó. Tổng số học sinh của lớp 35 em, có 3 học sinh nghèo,
trong đó 2 em học sinh dân tộc. Nếu giáo viên không hiểu hoàn cảnh, tìm hiểu tâm tư
tình cảm của mỗi học sinh thì không thể có sự quan tâm và giúp đỡ thích đáng. Vì vậy
sau khi nhận lớp, việc đầu tiên của tôi là tìm hiểu nắm vững đối tượng giáo dục: Bắt đầu
từ việc nghiên cứu hồ sơ từng cá nhân, theo dõi mức độ phát triển trí tuệ, tình cảm và
năng lực hoạt động của các em (quan sát cả trên lớp, trong giờ chơi, trong các hoạt động
khác...). Tôi bố trí thời gian đi thăm gia đình học sinh, đặc biệt là số học sinh chậm tiến,
Trang 6
học sinh có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế cũng như tinh thần, theo dõi sự phản ánh từ
phụ huynh từ đó để có hiểu biết rõ hơn về từng em.
Thông qua các môn học, nhất là môn đạo đức, học sinh có được một hệ thống khái
niệm, tri thức đạo đức. Tôi giáo dục các em những hành vi đạo đức tốt, biết được cần
phải làm gì, phân biệt được cái tốt cái xấu, “ hành vi đạo đức, hành vi vô đạo đức “. Từ
đó các em có những thái độ, tình cảm và hành vi đạo đức đúng đắn. Ví dụ bạn bị ốm
nằm viện, các em tổ chức đến thăm bạn, giúp bạn về vật chất, chép bài cho bạn... qua đó
tình cảm các em được phát triển và trở nên sâu sắc hơn, gắn bó hơn, từ đó các em gần
gũi nhau hơn. Với sự hướng dẫn của tôi các em có những kế hoạch giúp bạn rất cụ thể:
Đối với những bạn thiếu thốn về tình cảm thì các em thường xuyên thăm hỏi, đến nhà
bạn giúp bạn cùng học, giúp việc nhà, gần gũi, động viên bạn, tâm sự với bạn...
Đối với những bạn có hoàn cảnh khó khăn thì động viên, an ủi và giúp bạn bằng hiện
vật như: sách, vở, bút... những tấm áo tình bạn, hoặc gia đình gặp những chuyện không
may thì các em cùng giáo viên chủ nhiệm kịp thời chia sẻ, thăm hỏi, động viên.
Trong các phong trào nhà trường phát động như ủng hộ lũ lụt, quỹ nhân đạo “ học sinh
nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn” Tập thể học sinh lớp tôi bao giờ cũng tham gia
tích cực và đạt kết quả cao, mặc dầu nhiều em phải nhịn bớt phần quà sáng của mình,
điều đó cho thấy các em đã có tinh thần “ Mình vì mọi người”.
Bằng những việc làm cụ thể trên, mỗi ngày được nhân lên dần hướng tới xây dựng tập
giờ, sinh hoạt đầu giờ, sinh hoạt cuối tuần dưới sự hướng dẫn và góp ý của giáo viên.
Chẳng hạn trước khi vào lớp cán bộ lớp kiểm tra tác phong học sinh, các tổ trưởng kiểm
tra các thành viên trong tổ mình về trang phục (quần xanh, áo trắng), khăn quàng hay
đầu tóc, vệ sinh cá nhân... rồi báo cáo số liệu về cho lớp trưởng. Đầu giờ lớp trưởng báo
cáo giáo viên chủ nhiệm, cả việc chuyên cần: lớp đủ hay vắng, nếu vắng thì vắng ai, có
phép hay không, hay việc xếp hàng vào lớp thế nào. Còn một số em thường xuyên thiếu
đồ dùng học tập, hôm thì quên mang vở bài tập, hôm thì mang thiếu vở, lại có thói quen
lười học bài cũ có nhiều em đến lớp chưa thuộc bài. Để giúp các em khắc phục những
nhược điểm trên tôi đã cùng cán bộ lớp, thường xuyên kiểm tra đồ dùng học tập, sách
vở, việc chuẩn bị bài ở nhà vào đầu giờ học, đầu mỗi tiết và ghi tên những em vi phạm
vào sổ theo dõi riêng của mình để theo dõi. Vi phạm lần 1, lần 2 nhắc nhở, lần 3 cho các
Trang 8
em viết bản kiểm điểm, trong bản kiểm điểm yêu cầu các em ghi rõ khuyết điểm của
mình và xin hứa sửa chữa khuyết điểm và kèm theo chữ kí của phụ huynh học sinh. Tất
cả mọi việc dù nhỏ nhất giáo viên đều có sự quan tâm - nhận xét - đánh giá cụ thể sát
hợp dần dần tạo cho các em một thói quen và đi vào quỹ đạo hoạt động nề nếp của tập
thể lớp.
3.2) Xây dựng và bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ cán bộ lớp. Để xây dựng thành
công nề nếp lớp nhân tố tích cực là phải có cán bộ lớp có đạo đức có năng lực học tập,
có khả năng tổ chức và lãnh đạo lớp, các em tích cực năng động và sôi nổi trong mọi
hoạt động của lớp. khi chọn những em có mặt trội, tôi không quên việc bồi dưỡng các
mặt khác, giúp các em đó trở thành toàn diện. Trong công việc, khi các em làm, tôi
thường góp ý và bổ sung ít, bổ sung dần dần, vì bổ sung quá nhiều ngay một lúc sẽ
khiến các em rối thêm và thiếu tự tin ở mình. Nhằm đảm bảo yêu cầu chỉ đạo, gây lòng
tin và uy tín cho cán bộ lớp. Tôi luôn suy nghĩ để giúp cho việc thực hiện các biện pháp
mà các em đề ra đạt kết quả cao. Tôi không bao giờ tỏ ra khó chịu trước tập thể lớp khi
các em điều khiển chưa đạt yêu cầu, mà chỉ trao đổi riêng để các em rút kinh nghiệm
làm tốt hơn. Trên cơ sở có được một đội ngũ cán bộ lớp có năng lực, có khả năng lãnh
thể
lớp
vững
mạnh,
một đội ngũ cán bộ và nề nếp lớp tốt thì điều thiết thực cốt lõi là xây dựng một nề nếp
học tập tốt. Trên tinh thần học và thực hiện tốt nội qui nề nếp chung nhà trường đề ra,
tôi luôn có kế hoạch xây dựng nề nếp học tập ngay từ đầu một cách cụ thể:
Thông qua các phương pháp dạy học tích cực tôi chia lớp thành các nhóm học tập
(nhóm 6 em), trong nhóm cử nhóm trưởng có khả năng điều khiển cả nhóm hoạt động các thành viên trong nhóm kiểm tra bài chéo nhau nhằm phát huy khả năng tự thể hiện
mình và thi đua nhau trong học tập.
Tăng cường kiểm tra thường xuyên, liên tục: kiểm tra bài tập, kiểm tra bài học, kiểm tra
đầu giờ, kiểm tra 15 phút... kiểm tra mang tính chất thi đua, nội dung kiểm tra vừa phải
ngắn gọn nhẹ nhàng nhằm khích lệ tinh thần và ý thức tự giác học tập của các em (nhất
là đối với học sinh yếu nếu các em đạt điểm tốt cần tuyên dương khen ngợi kịp thời,
động viên sự cố gắng tiến bộ vươn lên của các em). Lập một “vở kiểm tra” để có thể
kiểm tra nhanh gọn trong vòng 10 - 15 phút nhằm nắm bắt được tinh thần học bài, làm
bài hay hiểu bài của cả lớp và sàng lọc được đối tượng lười học để có biện pháp giáo
dục.
Phát động phong trào thi đua học tập tốt lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn trong
năm học do nhà trường phát động. Phong trào “vào lớp thuộc bài - ra lớp hiểu bài ”.
Xây dựng phong trào vở sạch chữ đẹp”. Tăng cường chức năng làm việc của lớp phó
học tập, các nhóm trưởng, các em kiểm tra bài tập, bài học, dụng cụ học tập... trước giờ
vào lớp. Mỗi cán bộ lớp đều có sổ sách ghi chép công việc kiểm tra, đôn đốc hàng ngày.
Phát huy tích cực ý thức tự giác và tính trung thực trong học tập, trong kiểm tra, thi cử...
Giáo viên có sự phân loại đối tượng học sinh, có kế hoạch thường xuyên quan tâm sát
diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau liên quan rất nhiều đến các mối quan hệ xã hội
phức tạp. Vì thế trong giáo dục học từ trước tới nay việc giáo dục nói chung và giáo dục
trẻ tiểu học nói riêng luôn đòi hỏi sự phối hợp, kết hợp trong công việc giáo dục của
nhiều lực lượng, đoàn thể xã hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm thực sự sâu sắc của mọi
người trong toàn xã hội. Ý nghĩa sâu sắc của việc kết hợp giáo dục đã được Bác Hồ chỉ
ra từ lâu “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần còn cần có sự giáo dục ngoài xã
hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục
trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì
kết qủa cũng không hoàn toàn”.
Trang 11
4.1)Giáo dục trong nhà trường:
Nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng là nơi kết tinh trình độ văn minh
của xã hội trong công tác giáo dục trẻ em. Trong trường tiểu học người giáo viên đại
diện cho sự phát triển của xã hội đương thời, người được xã hội giao trọng trách hình
thành nhân cách cho học sinh theo mục tiêu giáo dục. Người giáo viên có kiến thức kinh
nghiệm, am hiểu các em và có uy tín tuyệt đối với các em. Chính vì thế có thể nói nhà
trường là nơi tổ chức chuyên biệt quá trình hình thành nhân cách của các em.
Quan hệ thầy trò là quan hệ đặc biệt của mối quan hệ người với người. Ở tiểu học do uy
tín của người thầy giáo mà các quan điểm, niềm tin và toàn bộ hành vi, cử chỉ của thầy
thường là những mẫu mực cho hành vi của học sinh. Nó ảnh hưởng sâu sắc đến thái độ
và cách ứng xử của các em trong quan hệ với người khác và với xã hội. Các em thường
tin tưởng tuyệt đối ở nơi thầy cô giáo nên chúng thường bắt chước những cử chỉ, tác
phong của thầy cô giáo mình.
4.2)Giáo dục trong gia đình:
Gia đình là tế bào của xã hội. Giáo dục của gia đình đối với trẻ em có những sắc
thái khác với nhà trường - xã hội. Chẳng hạn, ảnh hưởng của của gia đình về tinh thần
luôn luôn gắn liền với những ảnh hưởng về điều kiện vật chất, những ảnh hưởng về tinh
thần luôn luôn gắn liền với mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, ảnh hưởng
5. Giáo dục học sinh trong công tác đoàn thể:
Cùng với Đội xây dựng lớp thành một tập thể vững mạnh. Một chi đội xuất sắc,
giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho đội TNTPHCM của lớp hoạt động và phát huy ý thức làm
chủ, tính tự giác, tính chủ động của học sinh trong các hoạt động đoàn thể.
Thực hiện 100% đội viên tác phong tốt. Đọc và làm theo báo đội. Rèn luyện tốt đầy khí
thế phấn đấu theo các chuyên hiệu rèn luyện đội viên. Phát động phong trào “nói lời hay
làm việc tốt”. Thành lập đội cờ đỏ của lớp, thường xuyên tham gia tích cực các hoạt
động do trường, đoàn thể, liên đội đề ra.
Tổ chức đại hội chi đội, bầu ra ban chấp hành chi đội, đề ra phương hướng hoạt động
của chi đội. Tích cực tham gia có hiệu quả các phong trào thi đua, sinh hoạt ngoại khóa,
các hoạt động đội mà liên đội tổ chức: chuyên mục“ Em yêu khoa học’’, sưu tầm tranh
ảnh về truyền thống, về anh bộ đội cụ Hồ, hoạt động thể dục thể thao, các trò chơi dân
gian, thi kể chuyện về Bác Hồ, kể về Gia lai quê hương em và tìm hiểu về 1 nghìn năm
Trang 13
Thăng Long... Các hoạt động này thường có sức hấp dẫn và thu hút học sinh cả lớp đều
tham gia, các em hăng say tham gia, hòa mình và hết sức vì tập thể. Qua đó học sinh thể
hiện được khả năng của mình, tinh thần ham hiểu biết, ý chí chiến thắng, sự đoàn kết,
sức rướn, sức bật, khả năng nhạy cảm linh động, hoạt bát, óc sáng tạo của học sinh. Bên
cạnh đó các họat động văn nghệ, trò chơi, lao động trường lớp, lao động tự phục vụ, ý
thức bảo vệ của công, môi trường đều góp phần rèn luyện các em phát triển cả trí tuệ lẩn
thể chất.
6.Giáo dục trong hoạt động lao động:
Lao động là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành tâm lý, nhân
cách của các em từ lúc nhỏ. Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, lao động tự phục vụ, lao động
công ích như làm kế hoạch nhỏ, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sĩ, chăm sóc công
trình Măng Non, cây cảnh, vườn hoa, vườn cỏ ở trong trường, vườn nhà, lao động vệ
sinh trường lớp... Thông qua lao động nhiều điều học được trong lớp được sáng tỏ thêm
và quan trọng hơn cả là nhờ lao động tri thức được cũng cố, đào sâu, được cụ thể rất
SL
Chưa đạt
TL
Hoàn thành
SL
TL
35
100%
Chưa hoàn thành
SL
TL
Phấn đấu đến cuối học kì II của năm học 2015 – 2016 tất cả các học sinh sẽ cố gắng
thực hiện tốt phẩm chất đạo đức. Các em đã biết thực hiện những hành vi lối sống văn
minh, tiến bộ, bỏ được những thói hư tật xấu. Nhiều em đầu năm còn nghịch, nhưng nay
đã tiến bộ hẳn. Không còn học sinh nghịch ngợm, ham chơi trốn học ...
IV/ KẾT LUẬN:
Các biện pháp trên đều có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, giáo dục
đạo đức cho học sinh tiểu học và phương pháp học tập tốt. Người giáo viên tiểu học
cần:
Biết đưa học sinh vào hoạt động có tính giáo dục.
Biết lựa chọn điều kiện phù hợp.
Biết theo dõi và đánh giá hoạt động.
Động viên, nhắc nhở kịp thời.
Thường xuyên gần gũi với các em.
Tránh các trường hợp giáo dục cứng nhắc.
Giáo dục và đào tạo chủ nhân tương lai đất nước trong thiên niên kỷ mới đòi hỏi con
mục tiêu cần đạt được của từng bài.
Xây dựng lớp thành tập thể vững mạnh - giáo dục tình yêu thương, đoàn kết, biết giúp
đỡ nhau trong học tập, lao động và các hoạt khác.
Kiên trì giáo dục học sinh chậm tiến, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Biết kết hợp nhuần nhuyển giữa nhà trường - gia đình - xã hội. Đặc biệt Giáo viên cần
có sự quan hệ mật thiết với gia đình học sinh, thường xuyên thông tin kịp thời những
diễn biến cho phụ huynh học sinh để có sự phối hợp tích cực trong công tác giáo dục.
Trên đây là một vài sáng kiến nhỏ mà trong quá trình công tác tôi đã thực hiện và
mang lại được những kết quả khả quan trong công tác chủ nhiệm, giáo dục phẩm chất
đạo đức học sinh. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của tất cả các đồng chí, đồng
nghiệp để giúp tôi thành công hơn trong công tác của mình.
Trang 16
Xin chân thành cám ơn.
Chư Prông, ngày 20 tháng 09 năm 2016.
Người viết
Hoàng Thị Thủy
MỤC LỤC
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 17
I. Lí do chọn đề tài.
trang 1
II. Mục đích của bản SKKN.
trang 3
3.2. Về phía giáo viên
trang 4
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP
trang 4
1)Giáo dục đạo đức học sinh
trang 4
2) Giáo dục tình thương yêu đoàn kết trong học sinh
trang 6
3)Giáo dục học sinh trong học tập
trang 7
3.1. Xây dựng nề nếp lớp
trang 8
3.2. Xây dựng và bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ cán bộ lớp
trang 9