HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG
ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 – BỘ QUỐC PHÒNG
Người thực hiện: ĐẶNG NGỌC TUẤN
Lớp:
K56MTC
Mã SV:
563880T
Ngành:
MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn: TS. NGUYỄN THANH LÂM
HÀ NỘI - 2015
MỤC LỤC
MỤC LỤC.................................................................................................................................................i
DANH MỤC BẢNG..................................................................................................................................iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ.................................................................................................................................v
2.2.1. Đặc điểm Bệnh viện TWQĐ108..........................................................................................
2.2.2. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Bệnh viện TWQĐ108......................................
2.2.3. Tình hình quản lý chất thải rắn của Bệnh viện TWQĐ108.................................................
2.2.4. Đánh giá hiệu quả quản lý thông qua việc so sánh với quy chế quản lý CTRYT................
2.2.5. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý CTRYT phát sinh tại Bệnh
viện TWQĐ108.................................................................................................................
2.3. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................................
2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp..........................................................................
2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp............................................................................
2.3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu.............................................................................
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................................................................................32
3.1. Đặc điểm Bệnh viện Trung ương quân đội 108...........................................................................
3.1.1. Vị trí của bệnh viện.............................................................................................................
3.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển.........................................................................................
3.1.3. Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện...............................................................................
3.1.4. Cơ sở hạ tầng......................................................................................................................
3.1.5. Quy mô giường bệnh..........................................................................................................
3.1.6. Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự..................................................................................
3.1.7. Hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện.......................................................................
3.2. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại bệnh viện TWQĐ108.......................................................
3.2.1. Nguồn gốc...........................................................................................................................
3.2.2. Thành phần chất thải rắn y tế tại bệnh viện......................................................................
3.2.3. Khối lượng chất thải rắn y tế tại bệnh viện........................................................................
3.3. Tình hình quản lý chất thải rắn của Bệnh viện TWQĐ108...........................................................
3.3.1. Cơ sở pháp lý quản lý chất thải rắn y tế.............................................................................
3.3.2. Mô hình hoạt động thu gom quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Trung ương
quân đội 108....................................................................................................................
3.3.3. Thực trạng thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải rắn y tế................................
3.3.4. Nguồn lực cho công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Trung ương quân
đội 108.............................................................................................................................
Bảng 1.5. Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại các cơ sở y tế khác nhau. 19
Bảng 1.6. Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh qua các năm.........................20
Bảng 1.7. Dự báo lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn cả nước........20
Bảng 1.8. Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trên địa bàn
thành phố Hà Nội năm 2013...............................................................................................23
Bảng 3.1. Các loại CTR điển hình được tạo thành từ các hoạt động của bệnh viện.........38
Bảng 3.2. Lượng rác thải giai đoạn 2012-2014 của bệnh viện...........................................40
Bảng 3.3. Hiện trạng thu gom chất thải rắn y tế tại các khoa của bệnh viện Trung ương
quân đội 108........................................................................................................................51
Bảng 3.4. Đánh giá của người bệnh về công tác thu gom CTRYT tại bệnh viện TWQĐ 108
..............................................................................................................................................52
Bảng 3.5. Phương pháp xử lý chất thải lây nhiễm tại Bệnh viện........................................56
iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của bệnh viện.............................................36
Sơ đồ 3.2: Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện 108...................................38
Sơ đồ 3.3. Khối lượng chất thải của bệnh viện qua các năm.........................................42
Sơ đồ 3.4. Hệ thống quản lý chất thải rắn tại bệnh viện TWQĐ108..............................44
Sơ đồ: 3.5. Quy trình thu gom, phân loại, quản lý CTRYT tại Bệnh viện........................46
Sơ đồ 3.6. Phân loại chất thải rắn y tế tại Bệnh viện TWQĐ 108...................................47
Sơ đồ 3.7. Hệ thống tự xử lý CTR nguy hại tại bệnh viện...............................................55
Sơ đồ 3.8. Quy trình xử lý rác thải sinh hoạt tại bãi rác Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ
thành phố Hà Nội.............................................................................................................58
v
Tài nguyên môi trường
TW
Trung ương
TWQĐ 108
Trung ương quân đội 108
UBND
Ủy ban nhân dân
WHO
Tổ chức y tế thế giới
vi
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, vấn đề môi trường đang là mối quan tâm hàng đầu của các
quốc gia và cộng đồng trên thế giới. Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái
và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến thế hệ mai
sau. Từ đó, toàn cầu đã nhận thức được rằng phải bảo vệ môi trường, làm cho
môi trường ngày cành trong sạch và bền vững. Bảo vệ môi trường chính là
việc giải quyết ô nhiễm do nguồn nước thải, ô nhiễm do chất thải sinh hoạt,
Bệnh viện Trung ương quân đội 108 nhằm tìm hiểu những thiếu sót còn tồn
tại trong công tác quản lý hiện nay tại bệnh viện góp phần làm giảm tỷ lệ
nhiễm khuẩn và giảm rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế cũng như
hạn chế những tác động xấu đến cộng đồng và môi trường xung quanh.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi xin tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh
giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh
viện Trung ương quân đội 108 – Bộ Quốc Phòng ”.
Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng quản lý CTRYT phát sinh tại bệnh viện Trung
ương quân đội 108
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTR tại
bệnh viện.
Yêu cầu nghiên cứu
- Xác định được hệ số rác thải CTRYT tại bệnh viện viện Trung ương
quân đội 108
- Đánh giá được ưu nhược điểm hệ thống quản lý CTRYT
- Đề xuất được các giải pháp khả thi
2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các khái niệm chung
Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh
hoạt hoặc hoạt động khác (Quốc hội, 2014).
Chất thải nguy hại (CTNH) là chất thải chứa các chất hoặc hợp chất có
một trong những đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc,
dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác), hoặc tương tác với
những chất gây nguy hại cho môi trường và cho sức khỏe con người (Trịnh
Thị Thanh & Nguyễn Khắc Kinh, 2005).
Nguồn tạo thành
Các chất thải từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các
loại bao gói…
Chất thải chứa các Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của
vi trùng gây bệnh
người sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình
xét nghiệm, các gạc bong lẫn máu mủ của bệnh
nhân…
Chất thải bị nhiễm Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân,
bẩn
Chất thải đặc biệt
các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà…
Các loại chất độc hại hơn các loại trên, các chất phóng
xạ, hóa chất dược… từ các khoa khám, chữa bệnh,
hoạt động thực nghiệm, khoa dược…
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011
1.2.2. Phân loại chất thải y tế
Theo Quy chế Quản lý chất thải y tế ban hành theo quyết định số
43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế, chất thải trong các cơ sở y tế
được phân thành 5 nhóm sau: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại,
chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất, chất thải thông thường (Bộ Y tế, 2007).
Chất thải lây nhiễm
Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc
chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh
5
cách ly)
Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như chai lọ thủy tinh,
chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín. Những
chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật
liệu đóng gói, thùng các tông, túi ni long. túi đựng phim.
Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
1.2.3. Khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế
2.2.3.1. Khối lượng chất thải rắn y tế
Nắm được số lượng chất thải phát sinh là điều quan trọng để đưa ra
những cách xử lý khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế việc ước tính khối lượng
chất thải phát sinh từ hoạt động của các cơ sở y tế nói chung và từ hoạt động
của các bệnh viện là công việc khó khăn. Thông thường, khối lượng chất thải
phát sinh phụ thuộc vào quy mô bệnh viện, cán bộ y tế và các phương pháp kĩ
thuật áp dụng trong điều trị bệnh
Bảng 1.2. Lượng chất thải phát sinh theo loại bệnh viện
Đơn vị: Kg/giường bệnh/ngày
Loại bệnh
viện
Trung ương
Tỉnh
Huyện
Tổng lượng chất
gồm: Mô bệnh phẩm và cơ quan người từ các phòng mổ và tiểu phẫu, các
bệnh phẩm nuôi cấy, mô hoặc xác động vật từ phòng thí nghiệm thải ra, các
chất thải nhiễm trùng từ phòng cách ly và các khoa truyền nhiễm, các bông
băng thấm dịch hoặc máu, kim tiêm, ống tiêm, lọ thuốc, dược phẩm hư hỏng
và quá đát… (Bộ tài nguyên và Môi trường, 2012).
1.3. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường và cộng đồng
1.3.1. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường
Nguy cơ đối với môi trường nước
Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải
bệnh viện. Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh hoặc chứa kim loại
nặng (phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X
quang). Một số dược phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý có thể gây
nhiễm độc nguồn nước thứ cấp. Bên cạnh đó, việc xả bừa bãi chất thải lâm
sàng, ví dụ: xả chung chất thải lây nhiễm vào chất thải thông thường, có thể
tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD (Bộ Y tế, 2010).
Nguy cơ đối với môi trường đất
Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt hay bùn của
hệ thống xử lý nước thải rất có vấn đề khi các chất gây ô nhiễm từ bãi rác có
khả năng rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước, và cuối cùng là tác động
tới sức khỏe cộng đồng trong dài hạn (Bộ Y tế, 2010).
Nguy cơ đối với môi trường nước và không khí
Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại
được thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng. Việc thiêu đốt không đủ nhiệt
7
độ trong khi rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen. Việc đốt
chất thải y tế đựng trong túi ni long PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất
định, có thể tạo ra khí axit , thường là HCl và S
hiểm như HIV, HBV, và HCV. Khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV, HCV
nghề nghiệp là do thương tích do vật sắc nhọn và kim tiêm. Việc tái chế hoặc
xử lý không an toàn chất thải lây nhiễm, bao gồm cả nhựa và vật sắc nhọn có
thể tác động lâu dài tới sức khỏe cộng đồng (Viện Y học lao động 2006).
Nguy cơ của chất thải hóa học và dược phẩm
Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại
(ví dụ chất độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc) nhưng
thường ở khối lượng thấp. Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với hóa chất
qua đường da niêm mạc, qua đường hô hấp tiêu hóa. Tổn thương da mắt và
niêm mạc đường hô hấp có thể gặp khi tiếp xúc với hóa chất gây cháy, gây ăn
mòn, gây phản ứng (ví dụ formaldehyde và các chất dễ bay hơi khác). Tổn
thương thường gặp nhất là bỏng. Các hóa chất khử trùng được phổ biến trong
bệnh viện thường có tính ăn mòn. Trong quá trình thu gom, vận chuyển và lưu
giữ, chất thải nguy hại có thể bị rò rỉ thoát, đổ tràn. Việc rơi vãi chất thải lây
nhiễm, đặc biệt là chất thải lây nhiễm có nguy cơ cao có thể lan truyền trong
bệnh viện, như có thể gây ra đợt bùng phát nhiễm trùng bệnh viện trong nhân
viên và bệnh nhân, hoặc gây ô nhiễm đất và nước (Bộ Y tế, 2010).
Nguy cơ gây độc tế bào
Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào. Chúng có thể
gây kích thích hay tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt,
buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da. Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người
chịu trách nhiệm thu gom chất thải, có thể phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung
thư qua hít thở hoặc hạt lơ lửng trong không khí, hấp thu qua da, tiêu hóa qua
thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế bào (Bộ Y tế, 2010).
Nguy cơ của chất thải phóng xạ
Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định
những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến
các vấn đề đột biến gen trong dài hạn (Bộ Y tế, 2010).
1.4.2. Công nghệ đốt
Phương pháp đốt là phương pháp õi hóa ở nhiệt độ cao với sự có mặt
của oxi trong không khí, trong đó chất thải sẽ được chuyển hóa thành khí và
10
các chất trơ không cháy. Kết quả là tiêu diệt hoàn toàn vi sinh vật, giảm được
95% thể tích và khối lượng chất thải, làm thay đổi hoàn toàn trạng thái vật lý
của chất thải. Lò đốt thiết kế chuyên dùng cho xử lý chất thải bệnh viện được
vận hành trong khoảng nhiệt độ từ 700 -
C. Phương pháp đốt áp dụng
chủ yếu cho chất thải lây nhiễm, chất thải gây độc tế bào, không áp dụng cho
các hóa chất có hoạt tính phản ứng, bình chứa khí có áp suất, các chất nhựa có
chứa halogen như PVC vì phát thải ddioxxil (Ngô Kim Chi, 2012). Phương
pháp đốt có ưu điểm là có nhiệt độ cao thì CTRYT nguy hại được xử lý triệt
để, loại trừ được các mầm bệnh trong các chất thải lây nhiễm, giảm tối đa thể
tích chôn lấp sau khi xử lý. Tuy nhiên đốt ở nhiệt độ không đủ theo quy định
có thể phát sinh khí thải gây ô nhiễm không khí; chi phí đầu tư xây dựng và
quản lý vận hành cao (Bộ Xây dựng, 2012).
1.4.3. Công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường
Hiện nay có 2 loại công nghệ thân thiện với môi trường chủ yếu được
lựa chọn thay thế các lò đốt CTRYT là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm
và công nghệ có sử dụng vi sóng.
Công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm: bản chất là tạo ra môi trường hơi
nước nóng với áp suất cao đẻ khử khuẩn CTRYT. Công nghệ này thường phải
sử dụng thêm hóa chất để đảm bảo hiểu quả khử tiệt khuẩn ổn định, do đó làm
tăng chi phí vận hành của hệ thống.
Công nghệ sử dụng vi sóng: Bao gồm sử dụng vi sóng thuần túy trong
lấp phải đáp ứng các yêu cầu: có hàng rào vây quanh, cách xa giếng nước, xa
nhà tối thiểu 100m, đáy hố cách mức nước tối thiểu 1,5 m, miệng hố nhô cao
và che tạm thời để tránh nước mưa, mỗi lần chôn chất thải, phải đổ lên trên
mặt hố lớp đất dày từ 10-25 cm và lớp đất trên cùng dày 0,5m. Không chôn
chất thải lây nhiễm lẫn với chất thải thông thường. Chất thải lây nhiễm phải
được khử khuẩn trước khi chôn lấp (Bộ Y tế, 2008)
1.5. Tình hình phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1. Tình hình phát sinh và quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
12
1.5.1.1. Tình hình phát sinh
Khối lượng CTRYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và
phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại,
quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc
khám chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân cũng như rác thải của các bệnh nhân
tại các khoa phòng (Hoàng Thị Liên, 2009). Một điều dễ nhận thấy trên thực
tế những nước có thu nhập cao thường tạo ra nhiều chất thải hơn nước có thu
nhập trung bình và nước có thu nhập thấp, lượng chất thải tạo ra từ các bệnh
viện cấp trên cao hơn so với các bệnh viện cấp dưới. Tại các nước phát triển
như Hoa Kì, mỗi người tạo ra trung bình 13 kg CTRYT mỗi năm trong khi
người dân ở các nước thu nhập thấp như Campuchia chỉ tạo 0,5- 3 kg CTRYT
mỗi năm (Natural Standard Research Collaboration, 2013).
Bảng 1.3. Phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới
Đơn vị: Kg/người
Quốc gia
Các quốc gia phát triển
Lượng CTRYT phát sinh
Tổng lượng CTRYT
4,1 – 8,7
2,1 – 4,2
0,5 – 1,8
CTRYT nguy hại
0,4 – 1,6
0,2 – 1,1
0,1 – 0,4
1.5.1.2. Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải được nhiều quốc gia quan tâm và tiến
hành một cách triệt để từ rất lâu. Về quản lý, một loạt các chính sách, quy
định đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này. Các hiệp
ước quốc tế, các nguyên tắc pháp luật quy định về chất thải nguy hại trong đó
có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và áp dụng ở nhiều quốc
gia trên thế giới.
Công ước Basel: được kí kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận
chuyển của chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng với cả CTRYT.
Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại
từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang quốc gia có
điều kiện vật chất kĩ thuật để xử lý an toàn các chất thải đặc biệt.
Nguyên tắc polluter pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh
chất thải chịu trách nhiệm về pháp luật, tài chính trong việc đảm bảo an toàn
và giữ môi trường trong sạch
Nguyên tắc proximitri: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần
được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt, tránh tình trạng chất
thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường.
- Phân loại chất thải: trước những năm 80 của thế kỉ XX, thế giới chưa
hề có khái niệm về việc phân loại CTRYT ngay tại nguồn phát sinh kể cả ở
xe chuyên dụng) tạo ra sẽ chuyển động theo đường ống ngầm đặt dưới mặt
đất đến xe chuyên dụng chở rác. Luồng không khí được lọc cẩn thận đảm bảo
tiêu chuẩn cho phép trước khi thải ra ngoài môi trường. Phương pháp này có
ưu điểm là hạn chế được lượng lớn xe vào lấy rác trong thành phố do vậy
giảm được tắc đường vào các giờ cao điểm, hạn chế được việc con người tiếp
xúc trực tiếp với CTRYT. Nhưng hệ thống này vẫn còn nhiều hạn chế đó là
15
kinh phí đầu tư lớn, công tác vận hành bảo trì yêu cầu công nhân phải có trình
độ tay nghề cao. Do vậy tính tới thời điểm này mới chỉ có 500 hệ thống này
được lắp đặt trên toàn thế giới mà chủ yếu là tại các nước phát triển.
+ Hệ thống thu gom và vận chuyển CTRYT bằng các xe chuyên dụng
với các dụng cụ, phương tiện thu gom theo đúng tiêu chuẩn quy định. Phương
pháp này được phổ biến rộng rãi tại nhiều nước hơn do kinh phí không quá
lớn, không yêu cầu công nhân phải có trình độ chuyên môn.
- Xử lý CTRYT: Theo tổ chức Y tế thế giới, ở các nước đang phát triển có
tới 18 – 64 % bệnh viện chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách. Tùy thuộc
vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có
những biện pháp khác nhau để xử lý loại chất thải độc hại này (WHO, 2006)
+ Đối với các nước đang phát triển: Lò đốt CTRYT là nguồn chính phát
sinh ra dioxin và thủy ngân trong các hoạt động dân sự hiện nay. Với mục tiêu
bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe, các nước phát triển như Mỹ và Châu
Âu ngày càng thắt chặt các tiêu chuẩn khí thải lò đốt CTRYT. Trong tình hình
như vậy, nhiều loại lò đốt được sản xuất tại Mỹ và châu Âu cũng không đáp
ứng được tiêu chuẩn môi trường và tìm cách xuất khẩu sang các nước đang
phát triển, nơi mà các tiêu chuẩn môi trường còn lỏng lẻo hoặc chưa có các
biện pháp kiểm soát chặt chẽ. Năm 1988, cả nước Mỹ có 6.200 lò đốt CTRYT
nhưng đến năm 2006 chỉ còn 62 lò đốt hoạt động. Ở Canada, năm 1995 có
219 lò đốt nhưng đến năm 2003 chỉ còn 56 lò đốt vận hành. Nhiều nước châu
1.5.2.1. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế
Hiện nay, nước ta có 13.640 cơ sở khám chữa bệnh các loại với tổng số
hơn 219800 giường bệnh. Với số lượng bệnh viện và số giường bệnh khá lớn,
thống kê đã cho thấy tổng lượng CTR phát sinh từ các cơ sở y tế năm 2005
vào khoảng 300 tấn/ngày, trong đó có 40-50 tấn/ngày là CTRYT nguy hại
phải xử lý. Đến năm 2008, tổng lượng CTRYT phát sinh là hơn 490 tấn/ngày,
trong đó có khoảng 60-70 tấn/ngày là CTRYT nguy hại phải xử lý (Bộ Tài
Nguyên và Môi trường, 2011). Con số này ước tính sẽ tăng lên 600 tấn/ngày
17
vào năm 2015 và 800 tấn/ngày vào năm 2020 (JICA,2011). Nếu chỉ tính riêng
cho 19 bệnh viện tuyến trung ương, khối lượng CTRYT phát sinh vào khoảng
19,8 tấn/ngày, trong đó, khoảng 80,7% là CTRYT thông thường , 19,3% là
CTRYT nguy hại (chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học và phóng xạ). Tuy
nhiên, còn trên 13.400 cơ sở khám chữa bệnh do địa phương (cụ thể là Sở Y tế)
và các ngành khác quản lý là nguồn phát sinh CTRYT rất lớn. Với 373 cơ sở y
tế của tuyến tỉnh, lượng CTRYT phát sinh vào khoảng 24 tấn/ngày. Lượng chất
thải này được phân tán tại nhiều điểm nên cần có sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư
hiệu quả để quản lý chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm này (Bộ Y tế, 2011).
Trong CTRYT, thành phần đáng quan tâm nhất là dạng chất thải nguy
hại (chiếm khoảng 20% tổng lượng CTRYT), do nguy cơ lây nhiễm mầm
bệnh và hóa chất độc hại cho con người. Lượng CTRYT nguy hại phát sinh
không đồng đều tại các địa phương, chủ yếu tập trung tại các tỉnh, thành phố
lớn. Xét theo 7 vùng kinh tế trong cả nước (trong đó, vùng đông Bắc và Tây
Bắc Bộ được gộp chung vào 1 vùng), vùng Đông Nam Bộ phát sinh lượng
CTRYT nguy hại lớn nhất trong cả nước chiếm 32% với tổng lượng thải là
10.502,8 tấn/năm. tiếp đến là vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 21% (Bộ tài
nguyên và Môi trường, 2011). Riêng thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hóa và
Hà Nội đã phát sinh cỡ 6.000 tấn CTRYT nguy hại mỗi năm. Các tỉnh, thành