LỜI NÓI ĐẦU
Theo thống kê của các địa phương trong cả nước, toàn quốc có trên 12,9 triệu
hécta rừng, bao gồm: 10,35 triệu hécta rừng tự nhiên và trên 2,55 triệu hécta rừng
trồng; độ che phủ đạt 38,27%. Từ năm 1991 đến nay (sau khi Luật bảo vệ và phát
triển rừng được ban hành), hoạt động bảo vệ rừng và thực thi pháp luật lâm nghiệp có
nhiều chuyển biến tích cực, nhưng do nhiều nguyên nhân mà diện tích rừng bị mất
hiện nay vẫn còn ở mức cao (bình quân 57.019ha/năm). Trong đó, diện tích mất chủ
yếu do được phép chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác theo kế hoạch chiếm
76%; diện tích rừng bị thiệt hại do các hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về
quản lý bảo vệ rừng tuy có giảm, nhưng vẫn ở mức cao làm mất 94.055ha rừng,
chiếm 23,5% trong tổng diện tích rừng mất trong 7 năm qua, bình quân thiệt hại
13.436ha/năm. Đấu tranh với các vi phạm này, từ năm 1999 đến tháng 10 năm 2009,
cả nước đã phát hiện, xử lý 494.875 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về quản
lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Mặc dù tình trạng vi phạm giảm qua các năm,
nhưng số vụ vi phạm còn lớn, diễn ra phổ biến ở nhiều nơi, với tính chất, mức độ
ngày càng nghiêm trọng đang tạo gánh nặng cho các lực lượng chức năng, nhất là lực
lượng kiểm lâm trong ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật. Nguyên nhân của vấn đề
này có thể được đề cập ở nhiều phương diện, trong đó phải kể đến công tác giao đất,
giao rừng, khoán bảo vệ rừng, tổ chức thực hiện cơ chế hưởng lợi của người làm rừng
còn chưa hợp lý nên người dân sống xung quanh rừng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu
số còn chưa hiểu, chưa thực hiện các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng;
thậm chí còn xâm hại tài nguyên rừng, tiếp tay cho lâm tặc phá rừng. Trong khi đó,
để quản lý và bảo vệ rừng có hiệu quả, một trong những giải pháp cần được các cấp
chính quyền thực hiện là vừa phải kết hợp giữa xử lý nghiêm minh các hành vi phá
rừng, tiếp tay cho lâm tặc phá rừng với việc tạo các điều kiện cần thiết để cho những
người dân sống xung quanh rừng được hưởng lợi từ rừng và tham gia bảo vệ rừng lại
chưa thực sự được quan tâm. Vì vậy, để góp phần tạo chuyển biến cơ bản và bền
vững trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, tôi lựa chọn vấn đề “Kết hợp giữa xử lý
nghiêm minh hành vi tiếp tay cho lâm tặc phá rừng với tạo điều kiện cho người
1
phá rừng ở gần đó có thể thấy động và đến chi viện thì với lực lượng mỏng, không đủ
2
để giải quyết vụ việc, nên kiểm lâm viên K chỉ đạo tổ công tác tiến hành lập biên bản,
sau đó rút về Hạt để tìm biện pháp giải quyết.
Ngày 4 tháng 7 năm 2010, các kiểm lâm viên đến hiện trường thì thấy diện tích
rừng đặc dụng bị chặt phá khá rộng. Sau khi đo đạc xác định là 987,6 m 2. Trên diện
tích bị chặt phá không có các loại thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm
nhóm IA, IB thuộc danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm quy
định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về
quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Các kiểm lâm viên đã tiến
hành lập biên bản hiện trường để báo cáo cụ thể cho Hạt trưởng.
Nhận thấy tình hình ngày càng có khả năng phát triển phức tạp mà lực lượng
kiểm lâm lại mỏng, tính chất vụ việc có sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số có
thể gây nên nhiều bất ổn nếu không được xử lý một cách khôn khéo. Ngày 6 tháng 7
năm 2010, nhận sự chỉ đạo của Hạt trưởng, kiểm lâm viên K đến buôn LT, nơi gia
đình ông Ha Kien đang sinh sống để gặp trưởng buôn là ông Rơông Tham để yêu cầu
giúp lực lượng kiểm lâm tuyên truyền, giải thích, vận động gia đình ông Ha Kien và
nhiều hộ dân khác không phá rừng để làm rẫy, trồng sắn, trồng điều nữa mà chờ đợi
chính quyền có các chương trình phù hợp cho bà con tham gia vào các dự án trồng
rừng, bảo vệ rừng nhưng trưởng buôn đã từ chối vì “họ đang cần đất để làm rẫy, lấy
củ sắn, bắp ngô để có cái ăn, không sẽ bị đói nên có nói gì thì họ cũng không nghe
đâu” và “Cái nếp sống du canh, du cư vẫn còn nặng lắm các cán bộ kiểm lâm à!”.
Cũng theo trưởng buôn Rơông Tham, gia đình ông Ha Kien từ trước đến nay luôn
chấp hành tốt các quy định của địa phương, nay nghe theo lời của một số “người xấu”
xúi bẩy tham gia phá rừng làm rẫy.
2. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
2.1. Mục tiêu phân tích tình huống
Mục tiêu phân tích tình huống là nhằm làm sáng tỏ hành vi vi phạm của hộ gia
chế tài (hình sự, dân sự, hành chính, kỷ luật) và tính chất, mức độ của hành vi đó mà
các chủ thể có thẩm quyền sẽ tiến hành các biện pháp và các thủ tục cần thiết để truy
cứu trách nhiệm pháp lý tương ứng nhằm trừng phạt vi phạm, khôi phục trật tự pháp
lý bị xâm hại và khắc phục các hậu quả do vi phạm đó gây ra.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nhu cầu gỗ, lâm sản rất lớn, trong khi
dân số ngày càng tăng, công tác quản lý, bảo vệ rừng của các lực lượng chức năng,
4
đặc biệt là lực lượng kiểm lâm còn hạn chế khiến cho các vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực này gia tăng một cách đáng kể cả về số lượng, tính chất, mức độ. Vì vậy,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý rừng cần gắn bó chặt chẽ với việc bảo đảm trật tự
pháp luật (pháp chế xã hội chủ nghĩa). Nghị quyết số 17-TW ngày 1/8/2007 Hội nghị
lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về: “Đẩy mạnh cải cách hành
chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước” xác định cơ sở lý
luận cần thiết cho hoạt động của các cơ quan chức năng, nhất là ở mỗi cấp chính
quyền địa phương và cơ quan kiểm lâm trong việc chủ động phân cấp, kiện toàn tổ
chức, bố trí cán bộ, công chức hợp lý, tham mưu cho hiệu quả cho cơ quan có thẩm
quyền thực hiện các biện pháp, chương trình, dự án để quản lý, bảo vệ rừng ngày
càng tốt hơn, đặc biệt là phải gắn việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này
với việc thực hiện các chương trình, dự án để ổn định đời sống cho nhân dân, giải
quyết nguyên nhân cơ bản dẫn đến phá rừng, huỷ hoại rừng trên phạm vi nhiều địa
phương hiện nay.
2.2.2. Cơ sở pháp lý về quản lý, bảo vệ rừng và xử lý vi phạm pháp luật về
quản lý, bảo vệ rừng
Năm 1991, lần đầu tiên Nhà nước ta ban hành một văn bản luật điều chỉnh
thống nhất các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng. Sau 13 năm
thực hiện, văn bản này đã không còn đáp ứng được các yêu cầu quản lý và phát triển
rừng thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập sâu, rộng vào các quan hệ quốc tế trong khu vực và thế giới. Vì vậy, ngày 03
điều tra hình sự đối với những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về hình sự và
pháp luật về tố tụng hình sự. Trong xử phạt vi phạm hành chính, lực lượng kiểm lâm
thực hiện thẩm quyền theo quy định tại Điều 23 Nghị định của Chính phủ số
99/2009/NĐ-CP. Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm còn có nhiệm vụ tuyên truyền, vận
động nhân dân bảo vệ và phát triển rừng; phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã, phường,
thị trấn xây dựng và bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 về
thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách
nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý toàn bộ tài nguyên rừng
và tài nguyên đất lâm nghiệp của quốc gia thuộc phạm vi địa bàn của tỉnh, thành
phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy
6
ban nhân dân cấp tỉnh về việc để xảy ra phá rừng trái phép, cháy rừng, mất rừng, sử
dụng đất lâm nghiệp sai mục đích ở địa phương; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu
trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc để xảy ra phá rừng trái
phép, cháy rừng, mất rừng, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích ở địa phương.
2.2.3. Đường lối, quan điểm xử lý
Đường lối, quan điểm xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý rừng, bảo vệ rừng
liên quan đến đối tượng là người dân tộc thiểu số là:
- Phải kết hợp chặt chẽ giữa việc phát hiện kịp thời, ngăn chặn vi phạm, tiến
hành xử lý theo quy định của pháp luật với tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân
dân và tạo các điều kiện thuận lợi cho nhân dân ổn định về đời sống vật chất, tinh thần
để ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và giúp đỡ lực lượng
kiểm lâm trong quản lý, bảo vệ rừng.
- Áp dụng đúng các quy định pháp luật để xử lý nhưng có tính đến các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân người vi phạm, điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, trình độ
dân trí.
gia đình gồm 4 người của ông Ha Kien đã thực hiện hành vi phá rừng trái pháp luật.
Theo quy định tại Điều 17 Nghị định của Chính phủ số 99/2009/NDD-CP thì “Người
nào có hành vi chặt phá cây rừng; đào bới, san ủi, nổ mìn, đào đắp ngăn nước, xả
chất độc hoặc các hành vi khác gây thiệt hại đến rừng với bất kỳ mục đích gì (trừ
hành vi quy định tại Điều 18 của Nghị định này) mà không được phép của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền hoặc được phép chuyển đổi mục đích sử dụng rừng nhưng
không thực hiện đúng quy định cho phép” thì bị xử phạt bằng các hình thức và theo
các khung tiền phạt được xác định từ khoản 1 đến khoản 6 Nghị định 99/2009/NĐCP.
Loại rừng mà hộ gia đình ông Ha Kien chặt phá là rừng đặc dụng, có diện tích
từ trên 700m2 đến 1000m2 thì bị áp dụng hình thức xử phạt là phạt tiền (hình thức xử
phạt chính); tịch thu lâm sản, công cụ, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính
(hình thức phạt bổ sung); bị buộc trồng lại rừng hoặc thanh toán chi phí trồng lại rừng
(biện pháp khắc phục hậu quả). Căn cứ quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị định số
99/2009/NDD-CP, vi phạm của các thành viên trong gia đình không cấu thành tội
phạm theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 1999.
Căn cứ quy định tại Điều 6, Điều 7 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm
2002 thì trong gia đình ông Ha Kien, chỉ có ông, vợ ông và con trai Ha Klai là đủ
8
năng lực gánh chịu trách nhiệm hành chính. Ha Klai mới 15 tuổi nên chỉ bị áp dụng
hình thức phạt cảnh cáo.
- Căn cứ quy định tại điểm d khoản 4 Điều 17 Nghị định số 99/2009/NĐ-CP,
ông Ha Klai và vợ đều bị áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền. Theo quy định
thì khung tiền phạt là từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Theo quy định tại
khoản 2 Điều 57, Điều 8 và Điều 9 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, vi
phạm của ông Ha Kien và vợ có cả tình tiết tăng nặng (vi phạm nhiều lần, tiếp tục
thực hiện hành vi vi phạm mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi
đó) và giảm nhẹ (vi phạm vì hoàn cảnh khó khăn mà không do mình gây ra, vi phạm
do trình độ lạc hậu). Vì vậy, trong quyết định có thể áp dụng tình tiết tăng nặng, cũng
tránh) thì gần như “sự đã rồi”. Với tập quán du canh, du cư của đồng bào, việc xử lý
lại càng khó khăn hơn. Dần dần, dẫn đến hiện tượng “nhờn” luật. Đây cũng là nguyên
nhân chính làm gia tăng tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng một cách ồ ạt của
nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ hai, điều kiện sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu tại các vùng núi cao, vùng sâu,
vùng xa, gắn bó mật thiết với rừng, đất rừng và thường có tập quán sinh sống là du
canh, du cư, đốt rừng làm rẫy, săn bắn thú rừng. Phần lớn người dân không biết chữ,
không biết tiếng phổ thông, tâm lý tự ti dân tộc nên thường sống khép kín. Khi Nhà
nước quản lý rừng một cách chặt chẽ để phục vụ cho việc khai thác và phát triển rừng
lâu dài vì lợi ích chung của toàn xã hội thì trực tiếp tác động đến đời sống của người
đồng bào dân tộc thiểu số. Họ không thể sống theo tập quán canh tác cũ, nếp sinh
hoạt cũ mà phải chấp hành pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng. Điều này rất khó khăn
khi bản thân họ trình độ văn hoá thấp, các kỹ thuật canh tác, sản xuất, trồng trọt, chăn
nuôi còn rất lạc hậu, nên kết quả sản xuất thường là năng suất không cao, chất lượng
thấp. Các điều kiện tiếp cận thông tin hạn chế khiến đồng bào càng ít nắm được các
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng,
nhất là không nắm được cơ hội để tham gia vào các chương trình, dự án của Nhà
nước, của địa phương về phát triển rừng, giao đất, giao rừng…Vì vậy, để mưu sinh,
một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số vẫn sống theo tập quán cũ, thậm chí phá rừng,
đốt rừng làm rẫy, tiếp tay cho lâm tặc vận chuyển lâm sản…
Trong khi đó, áp lực về dân số ở các vùng có rừng tăng nhanh do tăng cơ học,
di cư tự do từ nơi khác, đòi hỏi cao về đất ở và đất canh tác, những đối tượng này chủ
10
yếu là những hộ nghèo, đời sống gặp nhiều khó khăn, sinh kế chủ yếu dựa vào khai
thác tài nguyên rừng. Nhận thức về bảo vệ rừng còn hạn chế, do đó vẫn tiếp tục phá
rừng kiếm kế sinh nhai, lấy đất canh tác hoặc làm thuê cho bọn đầu nậu, kẻ có tiền để
phá rừng hoặc khai thác gỗ, lâm sản trái phép.
vật chất cho việc đào tạo, huấn luyện. Mặt khác, cơ sở vật chất cho công tác bảo vệ
rừng hết sức khó khăn. Những năm qua nguồn đầu tư cho bảo vệ rừng chủ yếu từ
chương trình 661, nhưng chỉ được 5% cho xây dựng cơ sở hạ tầng, vì vậy các công
trình phòng cháy, chữa cháy rừng, công trình nghiệp vụ khác được xây dựng không
đáp ứng được yêu cầu bảo vệ rừng bền vững. Tỷ trọng vốn đầu tư của xã hội cho công
tác bảo vệ rừng không đáng kể.
2.4.2. Nguyên nhân chủ quan
Một là, công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và cơ chế chính
sách về lâm nghiệp chưa được thực hiện có hiệu quả. Người dân, nhất là ở vùng sâu,
vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số chưa nhận thức đầy đủ tính cấp thiết của việc bảo
vệ và phát triển rừng, nên vẫn tiếp tục phá rừng, có nơi còn tiếp tay, làm thuê cho bọn
đầu nậu, kẻ có tiền.
Hai là, các ngành, các cấp chính quyền, đặc biệt là cấp xã nhận thức chưa đầy
đủ, tổ chức thực hiện thiếu nghiêm túc trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất
lâm nghiệp. Ở những điểm nóng phá rừng, do lợi ích cục bộ, đã làm ngơ, thậm chí có
biểu hiện tiếp tay cho các hành vi phá rừng, khai thác, tiêu thụ lâm sản, sang nhượng
đất đai trái phép, nhưng không bị xử lý nghiêm túc. Có địa phương sau một thời gian
thực hiện các biện pháp kiên quyết ngăn chặn tình trạng phá rừng còn có biểu hiện
thỏa mãn với thành tích, không duy trì hoạt động thường xuyên, do vậy tình trạng phá
rừng và các hành vi vi phạm pháp luật tiếp tục tái xuất hiện.
Ba là, chủ rừng là các lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng phòng hộ và
rừng đặc dụng không đủ năng lực để quản lý, bảo vệ diện tích rừng được giao. Một
số đơn vị có biểu hiện thiếu trách nhiệm, thông đồng, tiếp tay cho hành vi phá rừng.
Các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác có diện tích quy mô nhỏ
nên không thể tự tổ chức lực lượng bảo vệ rừng được giao. Các diện tích rừng chưa
có chủ, thuộc trách nhiệm quản lý của Uỷ ban nhân dân xã, nhưng chưa có cơ chế để
chính quyền cấp xã thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng có hiệu quả.
12
13
sinh sống của nhiều loài động thực vật rừng, các di tích lịch sử văn hoá, danh lam
thắng cảnh, các lợi ích trong du lịch, nghiên cứu khoa học, phát triển kinh tế-xã hội…
Khi diện tích rừng bị thu hẹp sẽ kéo theo các vấn đề về biến đổi khí hậu, ảnh hưởng
đến đất đai và sức khỏe của con người.
2.5.2. Về phía Nhà nước
Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm của Nhà nước. Vì vậy, khi
rừng bị xâm hại thì ảnh hưởng lớn đến các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) mà
Nhà nước đã, đang và sẽ đầu tư cho sự nghiệp này. Mặt khác, khi các ảnh hưởng về
môi trường, khí hậu, đất đai do mất rừng ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người
dân thì Nhà nước phải tổ chức khắc phục hậu quả. Với các vi phạm pháp luật phát
sinh trong quản lý, bảo vệ rừng cũng khiến Nhà nước phải đầu tư về nhân lực, về
phương tiện, công cụ, tài chính, về cơ chế, chính sách, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực
cho các lực lượng quản lý, bảo vệ rừng và xử lý vi phạm.
Các vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng còn khiến cho Nhà nước mất đi các
nguồn thu từ thuế, từ du lịch, dịch vụ, xuất khẩu các sản phẩm lâm nghiệp, đồng thời
phải tăng nhập khẩu các sản phẩm lâm nghiệp để đáp ứng nhu cầu trong nước. Đồng
thời, quá trình giải quyết các vi phạm có thể không đảm bảo được sự kết hợp hài hoà
giữa chính trị và pháp lý nên sẽ tiềm ẩn những nguy cơ không nhỏ đến an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội tại các địa phương, có thể dẫn đến việc các thế lực thù địch lợi
dụng gây chia rẽ dân tộc.
3. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
3.1. Mục tiêu xử lý tình huống
Mục tiêu của việc xử lý tình huống trên là nhằm đảm bảo tính nghiêm minh
của pháp luật trong xử lý vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ rừng, đồng thời làm
cho người dân nhận thức đúng trách nhiệm, loại bỏ phong tục, tập quán lạc hậu, du
canh du cư, ổn định đời sống và tham gia vào sự nghiệp quản lý, bảo vệ, phát triển
rừng.
người chưa thành niên (các con) vào việc vi phạm. Vì vậy, cần xem tình tiết vi phạm
do trình độ lạc hậu là cơ bản. Theo đó, chỉ áp dụng mức phạt là 30.000.000 đồng
(mức tối thiểu của khung tiền phạt) đối với ông Ha Kien là chủ hộ, đứng ra tổ chức
cho các thành viên gia đình phá rừng. Đồng thời áp dụng biện pháp khắc phục hậu
quả là buộc trồng lại rừng. Còn vợ ông và con trai Ha Klai chỉ áp dụng phạt cảnh cáo.
15
Do đó, ưu điểm của phương án này là đảm bảo kết hợp hài hoà nhất yếu tố chính
trị với yếu tố pháp lý. Vừa thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật, có giá trị
phòng ngừa và đấu tranh chung với các vi phạm pháp luật trên địa bàn, vừa thể hiện
được chính sách nhân đạo của Nhà nước với vi phạm của đồng bào dân tộc thiểu số.
Đồng thời, kết hợp với tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho vợ chông Ha Kien để thấy
được sự linh hoạt trong áp dụng pháp luật của lực lượng kiểm lâm vì lợi ích của gia
đình ông nhưng cũng để răn đe các đối tượng khác cố ý xâm hại đến rừng. Tuy nhiên,
phương án này có nhược điểm rất lớn là số tiền phạt quá cao, biện pháp khắc phục hậu
quả khó có thể được đảm bảo nếu không có các biện pháp cần thiết từ phía các cơ quan
chức năng, trong đó có chính quyền xã và lực lượng kiểm lâm địa bàn.
3.3. Lựa chọn và tổ chức thực hiện phương án xử lý tình huống
3.3.1. Lựa chọn phương án giải quyết
Trong hai phương án trên, mỗi phương án đều có những ưu, nhược điểm nhất
định. Việc thực hiện phương án 1 dễ dàng trong triển khai thực hiện nhưng không thể
hiện được sự nghiêm minh của pháp luật, không có tác dụng ngăn chặn tình trạng phá
rừng trái phép, có thể dẫn đến hệ quả “nhờn” pháp luật. Trong khi đó, phương án 2
cho phép áp dụng đúng pháp luật nhưng để đảm bảo tính khả thi thì cần mềm dẻo
trong quá trình triển khai thực hiện. Có như vậy mới giúp đồng bào dân tộc thiểu số
hiểu được mục tiêu của các chính sách, pháp luật của Nhà nước là phục vụ nhân dân
chứ không nặng về trừng trị.
Với những lập luận này, tiểu luận lựa chọn phương án 2 là phương án tối ưu để
giải quyết tình huống.
Do điều kiện hoàn cảnh khó khăn về kinh tế. Hạt trường có thể quy định ngày
có hiệu lực khác so với ngày ký quyết định xử phạt để kéo dài thời gian cho gia đình
ông Ha Kien có thể đảm bảo thực hiện quyết định nhưng tối đa không quá 1 năm kể
từ ngày quyết định được ban hành (bởi nếu quá thì sẽ hết thời hạn thi hành quyết định
xử phạt).
Sau đó, căn cứ vào tình hình thực tế, khi đến thời hạn thực hiện, nếu ông Ha
Kien chưa thể đảm bảo thực hiện quyết định xử phạt thì cần hướng dẫn ông thực hiện
thủ tục xin nộp tiền phạt nhiều lần. Theo quy định tại Điều 27 Nghị định của Chính
phủ số 128/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2008 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ
sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008 thì thời hạn nộp
17
tiền phạt nhiều lần không quá mười hai tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu
lực; số lần nộp tiền phạt tối đa không quá 03 lần và mỗi lần nộp tiền phạt tối thiểu
không dưới một phần ba (1/3) tổng số tiền phải nộp phạt. Số tiền chưa nộp phạt phải
chịu lãi suất không kỳ hạn được tính từ thời điểm quyết định xử phạt có hiệu lực.
Như vậy, việc thực hiện quyết định xử phạt của ông Ha Kien có thể được kéo
dài trong 2 năm. Ở lần nộp tiền phạt cuối có thể áp dụng quy định về hoãn chấp hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Hạt kiểm lâm cần phối hợp (bằng con đường
công văn) với Uỷ ban nhân dân xã ĐK để giúp ông Ha Kien soạn đơn đề nghị Hạt
trưởng hoãn chấp hành quyết định xử phạt, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã ĐK
về điều kiện gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về kinh tế.
* Tham mưu cho chính quyền địa phương giúp đỡ gia đình ông Ha Kien trong
thời gian thực hiện quyết định xử phạt
Hạt trưởng Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng huyện LD cần tham mưu cho UBND
xã ĐK tổ chức thực hiện tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về bảo vệ và
phát triển rừng thông qua hệ thống truyền thanh cơ sở cho toàn thể nhân dân trên địa
bàn. Xây dựng phương án giao rừng cho gia đình ông Ha Kien để tạo điều kiện cho
khai mạnh mẽ Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 28/8/2008 về nông nghiệp, nông dân
và nông thôn, các nghị quyết liên quan đến xoá đói, giảm nghèo, giảm khoảng cách
giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt là vấn đề quản lý, bảo vệ rừng tại những nơi có
liên quan mật thiết đến cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số để lãnh đạo thực hiện có
hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng của Nhà nước trong mối quan hệ hài hoà với
các chính sách dân tộc.
Đối với Chính phủ cần ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp
luật, quy chế, quy trình, quy phạm, các tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật về bảo
vệ và phát triển rừng và tổ chức chỉ đạo việc thực hiện. Hướng dẫn và chỉ đạo thực
hiện việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng; lập
và quản lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất để trồng rừng. Tổ chức và chỉ đạo thực
hiện việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực,
hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng. Ban hành một số chính sách
về kinh phí cho hoạt động nghiệp vụ, tiền lương, chế độ thương binh, liệt sỹ, cơ chế
sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để trấn áp lâm tặc. Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư
trang thiết bị bảo vệ rừng, đầu tư xây dựng các Trung tâm huấn luyện, đào tạo chuyên
ngành cho lực lượng bảo vệ rừng; trang bị phương tiện đáp ứng yêu cầu công tác hiện
19
trường cho các Hạt Kiểm lâm trên toàn quốc, trước mắt tập trung đầu tư cho các Hạt
Kiểm lâm ở những vùng trọng điểm; ứng dụng khoa học công nghệ, tin học, GIS,
viễn thám vào công tác quản lý bảo vệ rừng, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm
nghiệp; thiết lập và sử dụng có hiệu quả mạng máy tính chuyên ngành; xây dựng
phần mềm quản lý, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và các vụ vi phạm Luật bảo vệ
và phát triển rừng. Xây dựng cơ chế về đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ rừng
từ các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng. Hợp tác quốc tế
để thu hút các nguồn vốn ODA và các hỗ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế cho
công tác bảo vệ rừng.
4.2. Kiến nghị với cơ quan chức năng
có hiệu quả kinh tế cao và hướng dẫn kỹ thuật cho đồng bào. Nghiên cứu chính sách
hỗ trợ của Nhà nước cho đồng bào tương đương với thu nhập từ canh tác quảng canh
nương rẫy hiện nay (tương đương khoảng 1 đến 1,5 tấn thóc/hécta/năm) trong thời gian
3 đến 5 năm, cung cấp giống cây rừng và một số vật tư cần thiết khác cho đồng bào
dân tộc tại chỗ để chuyển căn bản họ sang trồng rừng, đồng thời cho họ được hưởng
100% sản phẩm rừng.
5. KẾT LUẬN
Những năm qua công tác bảo vệ rừng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,
nhận thức về rừng được nâng cao, quan điểm đổi mới xã hội hóa về lâm nghiệp đã
được triển khai thực hiện có hiệu quả; hệ thống pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
ngày càng hoàn thiện; chế độ chính sách lâm nghiệp, nhất là chính sách về đa dạng
hóa các thành phần kinh tế trong lâm nghiệp, giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng
và quyền hưởng lợi từ rừng được ban hành và bước đầu đi vào cuộc sống. Nhà nước
đã tăng cường đầu tư thông qua nhiều chương trình, dự án đã tác động tích cực vào
bảo vệ rừng. Vai trò trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng của các ngành và chính
quyền các cấp được nâng cao hơn, các tổ chức xã hội đã có những nỗ lực tham gia
vào công tác bảo vệ và phát triển rừng... Tuy nhiên, rừng vẫn bị tàn phá do nhiều
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ sự thiếu hiểu biết và do phong tục, tập quán
lạc hậu của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh nhiều biện pháp cương
quyết như tổ chức các đợt truy quét lâm tặc, giải tỏa các tụ điểm phá rừng trái phép,
ngăn chặn chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp ngoài quy hoạch, xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng còn có những biện pháp
mang tính tổ chức, kinh tế để việc thực hiện pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng mang
21
tính bền vững, gắn việc thực hiện tốt chính sách dân tộc nhằm giữ gìn an ninh chính
trị, trật tự xã hội trên phạm vi cả nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm
2008;
7.
Quốc hội, Luật số 29/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004 về Bảo vệ và Phát
triển rừng ;
8.
Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 phê duyệt
Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020;
9.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02 tháng
7 năm 2002 về xử lý vi phạm hành chính;
10.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh số 04/2008/PL-UBTVQH12
ngày 02 tháng 4 năm 2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính;
22