BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o-
NGÔ THỊ THANH TRANG
NGHIÊN CỨU HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (ERPT) Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2001-2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh- Năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o-
NGÔ THỊ THANH TRANG
NGHIÊN CỨU HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (ERPT) Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2001-2011
Chuyên ngành : Kinh tế Tài chính-Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
TP Hồ Chí Minh- Năm 2012
gốc sau mỗi trích dẫn để dễ tra cứu, kiểm chứng.
TPHCM, ngày 21 tháng 10 năm 2012
Tác giả
Ngô Thị Thanh Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
-
CPI:
Chỉ số giá tiêu dùng
-
PPI:
Chỉ số giá sản xuất
-
IMP:
Chỉ số giá nhập khẩu
-
VAR:
-
WB:
Ngân hàng thế giới
-
GSO:
Tổng cục thống kê Việt Nam
-
IMF:
Qũy tiền tệ quốc tế
-
NHNN: Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
-
VNĐ:
-
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Hình 4.7
Kết quả hàm phản ứng xung theo thứ tự Cholesky 3
Hình 4.8
Kết quả hàm phản ứng xung theo thứ tự Cholesky 4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1
Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị
Bảng 4.2
Độ trễ tối ưu của mô hình Var
Bảng 4.3
Phản ứng tích lũy của các n hân tố do tác động của c sốc Neer
Bảng 4.4
Kết quả hàm phản ứng xung của chỉ số giá với c sốc 1% từ NEER
Bảng 4.5 : Phân rã phương sai của các chỉ số giá CPI, PPI, IMP
4.3.2 Phản ứng tích lũy của các nhân tố do tác động của cú sốc giá dầu .......... 32
4.3.3 Phản ứng tích lũy của các nhân tố do tác động của cú sốc sản lượng ...... 33
4.3.4 Phản ứng tích lũy của các nhân tố do tác động của cú sốc cung tiền M2 34
4.3.5 Phản ứng tích lũy của các nhân tố do tác động của cú sốc chỉ số giá
nhập khẩu .................................................................................................. 35
4.4 Kiểm định Robustness ........................................................................................ 36
4.5 Phân rã phương sai (Variance decomposition) .................................................. 40
5. Kết luận ........................................................................ 43
5.1 Các kết quả nghiên cứu chính của đề tài ............................................................ 43
5.2 Thảo luận và đề xuất .......................................................................................... 44
5.3 Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo ...................................... 46
5.3.1 Hạn chế của mô hình định lượng .............................................................. 46
5.3.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo ............................................................... 47
Danh mục tài liệu tham khảo ................................................................................... 48
Phụ lục 1 .................................................................................................................... 50
Phụ lục 2 .................................................................................................................... 60
Phụ lục 3 .................................................................................................................... 61
Phụ lục 4 .................................................................................................................... 62
Phụ lục 5 .................................................................................................................... 63
Phụ lục 6 .................................................................................................................... 64
Phụ lục 7 .................................................................................................................... 65
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu kiểm định tác động của tỷ giá hối đoái đến các chỉ số giá nhập khẩu
IMP, chỉ số giá sản xuất PPI và chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam giai đoạn
200-2011 thông qua việc sử dụng phân tích hồi qui đa biến (VAR) kết hợp với một
1. Giới thiệu:
Tỷ giá hối đoái là cầu nối quan trọng để một nền kinh tế hội nhập với nền kinh tế
thế giới. Có một chính sách điều hành tỷ giá đ ng đắn sẽ góp phần quan trọng trong
việc ổn định nền kinh tế vĩ mô, th c đẩy sản xuất phát triển. Do đó, tại bất kì một
quốc gia nào, tỷ giá được xem là một biến số kinh tế vĩ mô có vai trò cực kì quan
trọng. Nó rất nhạy cảm và sự thay đổi của nó sẽ gây ra những tác động phức tạp ảnh
hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân và có khi tới cả chế độ chính trị hiện hành.
Để lấy ví dụ, ch ng ta chắc vẫn chưa quên sự khủng hoảng của đồng pêsô (
Argentina ) năm 2001 đã gây ra c sốc trầm trọng tới nền kinh tế của Argentina.
Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây ở các nền kinh tế mới nổi như ở Mexico vào
năm 1994, Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc vào năm 1997, Nga và Brazil năm
1998, và Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2000, và một lần nữa khủng hoảng kinh tế Mỹ vào
năm 2001 là có ít nhiều liên quan đến một cuộc khủng hoảng tỷ giá hối đoái. Tỷ giá
hối đoái, là một trong những yếu tố kết nối các nền kinh tế quốc gia. Do đặc tính kết
nối này, tỷ giá hối đoái là nguyên nhân của một số khủng hoảng tài chính toàn cầu
và khu vực . Hơn thế nữa, ngày nay với sự toàn cầu hóa và quốc tế hóa, đã đánh dấu
sự phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế. Vì vậy tỷ giá hối đoái ngày càng đóng
vai trò quan trọng hơn. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái không chỉ có một tác động bên
ngoài, mà còn có tác động bên trong của nền kinh tế. Một trong những tác động
quan trọng nhất của tỷ giá hối đoái trên một nền kinh tế là tác động của nó đối với
lạm phát, còn được gọi là tác động truyền dẫn tỷ giá (ERPT)
Tầm quan trọng của ERPT đã được nói đến trong nhiều nền kinh tế khác nhau. Hai
định nghĩa quan trọng của ERPT là dự báo năng lực của lạm phát và những tác
động chính sách về chính sách tiền tệ. Về cơ bản, vai trò quan trọng nhất của ERPT
là ảnh hưởng của nó trong khả năng dự báo của lạm phát, chính vì vậy nó rất quan
trọng đối với bất kỳ một nhà hoạch định chính sách trong việc thực hiện chính sách
tiền tệ. Nếu có một cái nhìn đầy đủ, cũng như có một sự đánh giá tốt đối với ERPT,
các nhà làm chính sách có thể hiểu được ảnh hưởng, mức độ và thời gian, của bất
kỳ cú sốc tỷ giá hối đoái đến lạm phát. Từ đó, sẽ giúp họ đưa ra các quyết định thích
hỏi nghiên cứu của mình
3
Chương 3:Trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình được sử dụng trong bài, lựa
chọn biến nghiên cứu; nhược điểm của mô hình, mô hình này đã được các tác giả
nào sử dụng trước đây và lý do lựa chọn mô hình này. Trình bày quá trình thu thập
và xử lý dữ liệu gồm: nguồn dữ liệu, quy trình xử lý dữ liệu đầu vào
Chương 4: Trình bày nội dung và kết quả của tác động tỷ giá lên lạm phát (CPI,
IMP, PPI) ở Việt Nam, thông qua hệ số có được từ kết quả nghiên cứu. Từ đó tiến
hành thảo luận về các kết quả nghiên cứu đạt được.
Chương 5: Tổng kết các vấn đề được trình bày gồm có những phát hiện chính của
nghiên cứu và một số gợi ý chính sách, đồng thời chỉ ra những hạn chế còn gặp phải
và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo.
4
2. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây
2.1 Khung lý thuyết về truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) .
Trước khi đi vào phân tích định tính, chúng tôi sẽ làm rõ khái niệm về truyền dẫn tỷ
giá hối đoái và một số yếu tố khác xuyên suốt trong bài nghiên cứu của mình
Có nhiều tác giả với những quan điểm khác nhau về truyền dẫn tỷ giá tuỳ theo mục
đích nghiên cứu, chẳng hạn Goldberg và Knetter (1997) cho rằng truyền dẫn tỷ giá
hối đoái là phần trăm thay đổi của giá nhập khẩu (tính theo đồng nội tệ) khi tỷ giá
thay đổi. McCarthy (2000) lại xem xét dưới góc độ là sự biến động tỷ giá và giá
nhập khẩu đến lạm phát. Nhưng theo ch ng tôi, tác động truyền dẫn của tỷ giá hối
đoái là thường được hiểu là mức % thay đổi giá trong nước tính bằng đồng tiền của
nước nhập khẩu khi tỉ giá tiền tệ giữa các đối tác thương mại thay đổi 1%. Nói cách
sản xuất (Chỉ số
giá sản xuất PPI)
Hàng hóa tiêu dùng
cuối cùng (Chỉ số
giá tiêu dùng CPI)
3
Hàng hóa tiêu dùng
cuối cùng (Chỉ số
giá tiêu dùng CPI)
5
Bên cạnh cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái tới lạm phát, còn 01 cơ chế truyền dẫn
nữa đến lạm phát, đó là cơ chế truyền dẫn lãi suất, có thể mô tả qua hình sau:
Kênh gián tiếp:
Khi đồng nội tệ giảm giá, hàng nội địa sẽ trở nên rẻ hơn so với hàng quốc tế khiến
cầu hàng nội địa tăng dẫn đến giá tăng theo cơ chế cung – cầu thị trường hoặc dẫn
đến gia tăng sản xuất, tăng cầu lao động, tiếp đến là tăng lương và tăng tổng cầu,
kết quả là tỷ lệ lạm phát gia tăng. Tuy nhiên, tác động này chủ yếu là trong dài hạn
do giá thị trường cứng nhắc trong ngắn hạn.
Một kênh gián tiếp quan trọng khác trong ngắn hạn cũng như dài hạn là thông qua
tỷ lệ đô là hóa nền kinh tế, tức là tình trạng người dân sở hữu các tài sản tính bằng
ngoại tệ. Giả định, tỷ giá hối đoái tăng, tức là nội tệ giảm giá và ngoại tệ tăng giá,
người dẫn có xu hướng chuyển sang nắm giữ các tài sản bằng ngoại tệ, đẩy giá các
tài sản tính bằng ngoại tệ tăng, thông thường là bất động sản và các mặt hàng xa xỉ,
Một số nghiên cứu của Mann (1986) và Taylor (2002) đã nhận dạng một vài nhân tố
ảnh hưởng đến tác động truyền dẫn của tỷ giá theo mức độ vĩ mô gồm:
Quy mô của một quốc gia : Theo Mc Carthy (2000), trong một nước lớn, hiệu ứng
của việc giảm giá tiền tệ lên mức giá trong nước bị trung hòa do giá thế giới giảm.
Đối với nước nhỏ, giảm giá tiền tệ sẽ không ảnh hưởng đến giá thế giới nên mức
chuyển tỷ giá có thể là hoàn toàn
Độ mở của nền kinh tế: có thể được đại diện thông qua tỷ trọng nhập khẩu của quốc
gia đó. Thông thường một nước có độ mở càng cao thì ERPT càng cao.
7
Tính bất ổn của các cú sốc tỷ giá: Mann (1986) cho rằng tính bất định của cú sốc tỷ
giá có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với ERPT. Nếu các nhà xuất khẩu nhận thấy cú
sốc tỷ giá chỉ là nhất thời, họ sẽ hạn chế thay đổi giá sản phẩm. Thay vào đó họ sẽ
thay đổi giá đôn và chuyển sang hướng “ chờ đợi và quan sát”. Ngược lại nếu họ
nhận thấy cú sốc tỷ giá là dai dẳng, họ sẽ thực hiện chiến lược thay đổi giá thay vì
điều chỉnh lợi nhuận biên. Do vậy ERPT sẽ cao.
Tính không ổn định của tổng cầu : Đối với những quốc gia có tổng cầu ổn định thì
ERPT sẽ thấp, ngược lại đối với quốc gia có tổng cầu khá nhạy cảm thì ERPT sẽ
cao.
Môi trường lạm phát : Theo Taylor (2000), trong môi trường lạm phát cao và dai
dẳng, thường tạo ra kỳ vọng lạm phát cao do vậy một cú sốc tỷ giá sẽ khiến các
doanh nghiệp nước ngoài thay đổi giá xuất khẩu để giữ mức lợi nhuận biên, tạo
ERPT cao. Ngược lại trong môi trường lạm phát thấp và ổn định, các doanh nghiệp
nước ngoài nhận thức đây chỉ là thay đổi nhất thời và kỳ vọng lạm phát thấp nên họ
sẽ hạn chế thay đổi giá bán và chấp nhận thay đổi lợi nhuận biên, khiến ERPT sẽ
thấp ở những quốc gia này.
Môi trường chính sách tiền tệ: Theo Taylor (2000) sự ổn định tương đối cuả chính
sách tiền tệ có ảnh hưởng nhất định đến ERPT. Lập luận này cũng được củng cố bởi
giải thích phản ứng của chỉ số giá nội địa do thay đổi trong tỷ giá.
Tiêu biểu là nghiên cứu của Feenstra (1989) và Olivei (2002). Tiếp đó vào năm
2003, hai tác giả Campa and Goldberg trong bài nghiên cứu
: “Exchange Rate
Pass-Through into Import Prices” đã nghiên cứu tác động của sự truyền dẫn tỷ giá
hối đoái vào giá nhập khẩu của 23 quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế OECD. Kết quả cho thấy rằng các nước có tỷ lệ biến động tỷ giá cao hơn
cũng là những nước có độ co giãn chuyển dịch cao hơn. Các biến kinh tế vĩ mô chỉ
đóng một vai trò nhỏ trong tính toán đối với sự phát triển theo thời gian của độ co
giãn chuyển dịch của các nước OECD. Tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy các
nước có tỷ giá hối đoái và lạm phát biến động ít hơn có thể sẽ có tỷ lệ của sự
chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu thấp hơn và không có mối quan hệ hệ
thống tương tự giữa quy mô quốc gia và sự chuyển dịch gói nhập khẩu tổng hợp.
Bằng cách tập trung vào giá nhập khẩu, tác giả đã chỉ ra rằng giá hàng hoá biên trên
thực tế là rất nhạy cảm với biến động tỷ giá hối đoái.
9
Một nghiên cứu nữa vào năm 2003, trong đó tác giả cũng r t ra được kết luận
tương tự như nghiên cứu Campa and Goldberg (2003) là bài nghiên cứu của Otani,
Shiratsuka và Shirota Bài nghiên cứu kết luận rằng với một tỷ lệ lạm phát thấp và
được duy trì, mức độ chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào lạm phát sẽ thấp và ổn định,
điều này có nghĩa là nếu lạm phát gia tăng để phản ứng lại các cú sốc bên ngoài,
mức độ chuyển dịch của tỷ giá hối đoái vào lạm phát cũng sẽ tăng lên. Ngoài ra bài
nghiên cứu cũng phát hiện ra sự khác biệt trong hành vi của các công ty thiết lập giá
ảnh hưởng đáng kể đến việc truyền tải chính sách tiền tệ bằng cách thay đổi mức độ
truyền dẫn tỷ giá hối đoái.
hối đoái bị mất giá mạnh
Tóm lại, hầu hết các mô hình nghiên cứu thực hiện theo phương pháp hồi qui tuyến
tính đều xuất phát theo mô hình luật một giá (LOP), từ đó khi các tác giả xem xét
mức độ truyền dẫn (ERPT) vào các chỉ số giá bằng cách thêm vào các biến kiểm
soát khác có tác động đến giá hàng hóa nhập khẩu như: yếu tố đại diện cho chi phí
của quốc gia xuất khẩu, yếu tố đại diện cho nhu cầu hàng hóa của quốc gia nhập
khẩu…
2.2.2 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp Var:
Tiếp nối thành công của các bài nghiên cứu về EPRT, hàng loạt các nghiên cứu
khác ra đời nhưng lại sử dụng phương pháp Var để xem xét sự chuyển dịch một vài
cú sốc đến lạm phát trong nước.
Mở đầu là bài nghiên cứu của McCarthy (2000).Trong bài nghiên cứu : “PassThrough of Exchange Rates and Import Prices to Domestic Inflation in Some
Industrialized Economies”. Ông là người tiên phong trong việc sử dụng mô hình
VAR để thực hiện nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá hối đoái. Ông sử dụng mô hình
VAR đệ qui (Recursive VAR) để nghiên cứu mức tác động của tỷ giá hối đoái và
chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dung tại một số nền kinh tế phát triển giai đoạn
1976-1988. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Việc nâng giá đồng nội tệ sẽ làm giảm
giá cả nhập khẩu và điều này kéo dài với thời gian ít nhất là 1 năm ở hầu hết các
nước khảo sát. (2) Phản ứng của chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dung đối với
chỉ số giá nhập khẩu là dương và có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các nước khảo sát
11
Năm 2006, Takatoshi Ito và Kiyotaka Sato đã thực hiện một nghiên cứu về sự thay
đổi tỷ giá và lạm phát trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế Châu Á (Exchage rate
changes and Inflation in Post – Crisis Asian Economies) bằng cách sử dụng mô
hình VAR phân tích cơ chế truyền dẫn trong tỷ giá (VAR Analysis of the Exchange
Rate Pass – Through). Kết quả bài nghiên cứu này cho thấy rằng (1) Hệ số truyền
dẫn từ tỷ giá hối đoái tới giá nhập khẩu (import price) là khá cao trong nền kinh tế
mối tương quan với lạm phát hơn là những thay đổi về giá nhập khẩu. Ngoài ra còn
có một số bằng chứng về thống kê cho thấy khi tỷ giá thay đổi tác động lên lạm phát
và khi giá nhập khẩu thay đổi cũng tác động lên lạm phát ở một vài nước. (2) Kết
quả chỉ ra rằng hiệu ứng truyền dẫn được ước tính bằng giá nhập khẩu tính bằng nội
tệ do đó có thể nó không được thích hợp. Thay vào đó, có vẻ như cần thiết phải
phân tích riêng biệt hai hiệu ứng truyền dẫn này. (3) Các hiệu ứng truyền dẫn từ
thay đổi tỷ giá vào lạm phát thì thông thường là mạnh hơn truyền dẫn từ giá nhập
khẩu. Nhưng có một sự suy giảm đáng kể từ giữa những năm 1990, có lẽ là do kết
quả của những điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định và cải cách cơ cấu được thực hiện ở
các nền kinh tế mới nổi.
Cùng nghiên cứu về thị trường châu âu, chúng ta có thể tham khảo thêm 2 bài
nghiên cứu của Hahn (2003) và Faruqee (2006):
Hahn (2003): “Pass-Through of External Shocks To Euro Area Inflation”. Báo cáo
này nghiên cứu tác động chuyển dịch của cú sốc bên ngoài, tức là cú sốc giá dầu, tỷ
giá hối đoái và giá hàng hóa nhập khẩu phi dầu mỏ đến lạm phát khu vực sử dụng
đồng Euro thông qua các bộ phận phân phối khác nhau (giá hàng nhập khẩu, giá sản
xuất, giá tiêu dùng). Phân tích dựa trên mô hình VAR, bao gồm dãy phân phối của
giá (giá hàng nhập khẩu, sản xuất và tiêu dùng).
Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy tác động chuyển dịch lớn nhất và nhanh nhất là
cú sốc giá hàng nhập khẩu phi dầu mỏ, kế tiếp là cú tỷ giá hối đoái và c sốc giá
dầu. Kích cỡ và độ lớn tác động chuyển dịch của những cú sốc giảm dần theo suốt
dãy phân phối. Cú sốc bên ngoài giải thích phần lớn các biến trong các chỉ số giá và
góp phần lớn hơn đến lạm phát trong khu vực Euro khi bắt đầu sử dụng đồng tiền
chung Châu Âu.
Faruqee (2006): “Exchange Rate Pass-Through in the Euro Area” bài nghiên cứu
đã sử dụng mô hình Var để phân tích hành vi theo thời gian của tỷ giá hối đoái và
13
14
một sự linh hoạt hơn của cơ chế tỷ giá hối đoái ví dụ như cho phép sự biến động
biên độ tỷ giá hối đoái lớn hơn được tác giả khuyến nghị
Mặc dù vậy, ERPT bình quân trong năm thứ nhất là 0.08, thấp hơn kết quả đo lường
của IMF năm 2003 là 0.25 trong năm thứ nhất. Có một số nguyên nhân giải thích
cho những thay đổi này:
Thứ nhất, chỉ số CPI bình quân trong giai đoạn 1995 – 2003 được sử dụng trong
nghiên cứu của IMF là 5.9%, cao hơn mức 4.9% trong giai đoạn 2001 – 2007. Giả
thiết Taylor (2000) cho rằng môi trường lạm phát thấp hơn, nhìn chung, sẽ làm
giảm ERPT. Do đó, lạm phát thấp hơn ở giai đoạn 2001- 2007 so với giai đoạn
1995-2003 có thể giai thích hiện tượng này.
Thứ hai, tình trạng đô la hóa thấp hơn trong giai đoạn 2001-2007 có thể là nhân tố
khác giải thích sự sụt giảm ERPT.
Thứ ba, việc tự do hóa lãi suất từ năm 2000 có thể làm giảm ERPT.
Được thực hiện đầy đủ hơn khi đo lường sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến cả ba chỉ
số giá IMP, PPI, CPI, tác giả Bạch Thị Phương Thảo (2011) đã tiếp tục sử dụng mô
hình VAR đệ qui để kiểm định độ lớn tác động từ quí 1 năm 2001 đến quí 2 năm
2011 và đưa ra kết quả theo thứ tự tác động lớn nhất là IMP, tiếp đến là PPI và nhỏ
nhất là CPI. Bài nghiên cứu cũng đưa ra một số kết quả như ERPT bình quân sau 1
năm là 0.16 và sự truyền dẫn đạt mức độ cao nhất là 0.39 sau 5 quý tức là sau 15
tháng sau khi có cú sốc tỷ giá hối đoái. Chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng
đều chịu ảnh hưởng từ cú sốc tỷ giá hối đoái với thời gian gần 24 tháng.
Trần Mai Anh và Nguyễn Đình Minh Anh :Bằng công cụ VAR, cho kết quả ERPT
bình quân đến giá nhập khẩu và giá tiêu dùng lần lượt là 0.13 và 0.065 trong 6 tháng
đầu.
Như vậy, các kết quả định lượng ERPT trên đều thấp một cách bất thường so với
các kết quả nghiên cứu ERPT tại các nền kinh tế phát triển và mới nổi. Trong khi
đó, về mặt lí thuyết và thực tiễn, Việt Nam có đủ các nhân tố để có một mức ERPT
trọng lớn trong giỏ CPI và giá nhập khẩu không chuyển trực tiếp vào giá trong nước
dù độ mở của Việt Nam tăng lên. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng giá gạo quốc
tế, các điều kiện về tổng cầu trong nước và tốc độ tăng cung tiền mở rộng có ít tác
động đến lạm phát nhưng tác động lại kéo dài.