môn lịch sử công tác tư tưởng TƯ TƯỞNG hồ CHÍ MINH về sự THỐNG NHẤT GIỮA lý LUẬN và THỰC TIỄN với CÔNG tác lý LUẬN ở nước ta hiện nay tiểu luận cao học - Pdf 43

MỤC LỤC

MỤC LỤC.........................................................................................................1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản trong tư
tưởng Hồ Chí Minh và là một trong những yếu tố góp phần làm cho tư tưởng của
Người có sức sống trường tồn và sức mạnh cải tạo vĩ đại.
Những tư tưởng của Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
có ý nghĩa hết sức to lớn đối với đất nước ta hiện nay, nhất là trong công tác tư
tưởng, lý luận. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới với nhiều thách thức, nâng cao
hiệu quả công tác tư tưởng, mà trọng tâm là công tác lý luận đã trở thành vấn đề cấp
thiết hơn bao giờ hết. Điều này bắt nguồn từ sự phát triển mạnh của xu hướng toàn
cầu hóa kinh tế, tác động sâu rộng đến giao lưu hợp tác văn hóa, sự bùng nổ của
cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc,
xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo nhất là sự cạnh tranh gay gắt thị trường kinh tế,
cũng như cuộc đấu tranh giải quyết những vấn đề toàn cầu: chạy đua vũ trang, cuộc
chiến chống đói nghèo, bệnh tật và vấn đề nóng lên của trái đất…
Thực tiễn đặt ra yêu cầu và đòi hỏi lý luận phải đổi mới và phát triển để tìm
được câu trả lời cho những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, cung cấp cơ sở lý luận cho
Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với sự phát triển của
đất nước và cuộc sống của nhân dân. Trước những vai trò to lớn của công tác lý
luận cũng như yêu cầu bức thiết được đặt ra từ công cuộc đổi mới, em chọn đề tài
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với công tác
lý luận ở nước ta hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình.
2. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn, tiểu luận chỉ ra sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn theo quan điểm của Hồ Chí Minh vào công tác lý luận, đáp ứng những yêu cầu
đang đặt ra trong quá trình đổi mới ở nước ta.

Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VỚI
THỰC TIỄN
1.1. Phạm trù lý luận và thực tiễn theo quan điểm Hồ Chí Minh
1.1.1. Phạm trù lý luận
Phạm trù lý luận được nói đến rất nhiều trong các bài viết, bài nói chuyện
của Hồ Chí Minh. Khái niệm “lý luận” trong tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu là:
“Đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét,
so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với
thực tế. Đó là lý luận chân chính”; “lý luận do kinh nghiệm cách mạng các nước và
trong nước ta, do kinh nghiệm từ trước và kinh nghiệm hiện nay gom góp phân tích
và kết luận những kinh nghiệm đó thành lý luận”; “lý luận là sự tổng kết những
kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ
lại trong quá trình lịch sử”.
Chúng ta thấy rằng, trong quan niệm của Hồ Chí Minh về “lý luận” có chứa
yếu tố thống nhất giữa lý luận với thực tiễn và thể hiện được mối quan hệ biện chứng
giữa thực tiễn và lý luận cũng như yếu tố kế thừa của lý luận. Cách quan niệm về lý
luận như thế cho phép người ta nhìn lý luận trong trạng thái mở, trạng thái vận động
của nó. Lý luận chân chính tự nó không chấp nhận sự xa rời thực tiễn, xa rời hiện
thực. Hồ Chí Minh đặt “lý luận” trong mối quan hệ chặt chẽ với “kinh nghiệm” cũng
là một cách chỉ ra tính quy định của thực tế đối với nội dung của lý luận.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh đã nêu cụ thể hơn: “Lý
luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem
xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành lý luận. Rồi lại đem nó chứng minh
với thực tế”. Và theo Hồ Chí Minh: “đó là lý luận chân chính”. Như vậy, lý luận là
sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mà thành, nhưng lý luận chân chính là lý luận
phải được chứng minh với thực tế, tức là phải phù hợp với thực tế, phải được vận
dụng vào thực tế.
1.1.2. Phạm trù thực tiễn
Trong lý luận nhận thức của triết học duy vật biện chứng, “thực tiễn” được

thực tế” mà viết “thống nhất giữa lý luận và thực tiễn”.
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn
1.2.1. Chủ nghĩa Mác - Lênin là ánh sáng soi đường, kim chỉ nam cho
cách mạng nước ta

4


Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và
chủ nghĩa xã hội, tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc. Người tiếp thu chủ
nghĩa Mác-Lênin và lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng cho cách mạng
Việt Nam. Người tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin và Người tìm thấy ở chủ nghĩa MácLênin câu trả lời bức thiết nhất cho dân tộc Việt Nam là con đường giành độc lập
cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho mỗi người. Trong bài Con đường
dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, Người đã nói: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh,
vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được
rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc
bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với nhiều tư
tưởng, nhiều học thuyết, nhưng tất cả đều không đem lại lời giải đáp cho cách mạng
Việt Nam. Chỉ có chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết cách mạng nhất, khoa học
nhất, vạch đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân
và nhân dân lao động ở nước ta. Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều,
chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất
là chủ nghĩa Mác-Lênin”. Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin trên cơ sở
thống nhất giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách mạng. Hơn nữa, lý luận cách
mạng ấy lại được Người vận dụng sáng tạo trong hoạt động thực tiễn cách mạng của
mình. Điều này thể hiện rất rõ ở chỗ, Người tích cực tham gia hoạt động trong các
tổ chức cách mạng, tổ chức chính trị - xã hội nhằm đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào
phong trào cách mạng. Từ tham gia Đảng xã hội Pháp, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu

không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi
tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.
1.2.2. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa lý
luận cách mạng và thực tiễn cách mạng.
Hồ Chí Minh tiếp thu những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác -Lênin
để chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam, Người nắm vững những nguyên lý triết
học mácxít để làm cơ sở lý luận cho những phương pháp cách mạng đúng đắn.
Người hiểu rất sâu sắc vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Trong quá trình lãnh đạo
cách mạng nước ta, Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải nắm vững lý luận
chủ nghĩa Mác-Lênin để chỉ đạo thực tiễn phong trào cách mạng. Người nhắc nhở
lại lời dạy của Lênin là: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách
mạng” và “chỉ có một Đảng có lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có thể làm
tròn được vai trò chiến sĩ tiên phong”.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người viết: “Lý luận là đem thực tế
trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ
6


lưỡng rõ ràng, làm thành lý luận”. Lý luận phản ánh đúng đắn bản chất của các sự
vật, hiện tượng, các quá trình trong tự nhiên và xã hội sẽ giúp chúng ta nắm được
quy luật vận động của các sự vật và hiện tượng. Như vậy, Hồ Chí Minh không
những làm rõ khái niệm triết học về lý luận, mà còn làm rõ nguồn gốc, con đường
hình thành và vai trò của lý luận. Người cũng nói rõ, chính lý luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay
của tất cả các nước. Nó là: “Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã
hội, khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột, khoa học về sự
thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước...”.
Vì vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin là ngọn đuốc soi đường, là nền tảng tư tưởng
cho phong trào cách mạng của giai cấp vô sản các nước. Những nguyên lý phổ biến
của lý luận Mác-Lênin xác định phương hướng và định ra phương pháp hành động

thực tiễn xã hội. Chính hoạt động thực tiễn của con người là cơ sở, nguồn gốc để
con người đúc rút thành kinh nghiệm và tổng kết, khái quát thành lý luận. Thực tiễn
luôn vận động, biến đổi. Vì vậy, lý luận cũng phải được bổ sung, phát triển phù hợp
với điều kiện mới, hoàn cảnh mới. Người chỉ rõ: “Lý luận luôn luôn cần được bổ
sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”.
Lý luận ra đời hướng dẫn con người cải tạo lại hoàn cảnh, cải tạo tự nhiên, cải
tạo xã hội khi lý luận đó được vận dụng vào thực tiễn hoạt động của quần chúng.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức, của lý luận. Người nói: “Lý luận cốt để áp dụng
vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông”. Chỉ
có trên cơ sở vận dụng lý luận vào thực tiễn mới khẳng định được lý luận đúng hay
sai, phù hợp hay không phù hợp với thực tiễn. Để làm rõ vấn đề này, Hồ Chí Minh
nhấn mạnh vai trò của thực tiễn. Người khẳng định: lý luận sau khi ra đời “rồi lại đem
nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính” . Như vậy, tính đúng đắn của lý
luận không phải được chứng minh bằng lý luận, mà phải dựa trên cơ sở hoạt động
thực tiễn xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Hồ Chí Minh luôn yêu
cầu cán bộ, đảng viên vừa phải học tập và nắm vững lý luận để chỉ đạo hoạt động
cách mạng đi đúng hướng, vừa phải đi sâu, đi sát hoàn cảnh, điều kiện thực tế khách
quan. Điều kiện thực tế khách quan của mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi vùng, mỗi địa
phương, có những đặc điểm khác nhau. Vì vậy, nắm vững lý luận phải dựa trên cơ sở
vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước mình, địa phương mình. Cán bộ,
đảng viên phải chống tư tưởng quan liêu, xa quần chúng, xa thực tế.
Về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh luôn
đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Người luôn coi sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, là
phương châm hành động của những người mácxít. Muốn cách mạng thành công,
8


đòi hỏi những người mácxít phải nắm vững nguyên tắc về sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn. Cán bộ, đảng viên cần phải chống tư tưởng tuyệt đối hoá vai trò lý



Đảng mạnh là một Đảng phải có lý luận tiền phong hướng dẫn. Đảng ta lấy chủ
nghĩa Mác-Lênin làm kim chỉ nam cho hành động của mình, nên đã lãnh đạo cách
mạng thu được những thắng lợi to lớn và căn bản. Nhưng mặt khác, vì trình độ lý
luận thấp kém, cho nên, đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức
tạp, trong việc lãnh đạo Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm
khuyết điểm; “Đảng ta còn có nhiều nhược điểm mà một trong những nhược điểm
lớn là trình độ lý luận còn thấp kém”. Vì vậy công tác tổ chức học tập lý luận, nâng
cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên là công việc cần thiết và thường xuyên
của Đảng. Đảng ta tổ chức học tập lý luận cho cán bộ, đảng viên là để “nâng cao
trình độ lý luận của Đảng đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và
tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình,
hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình”. Muốn thế phải nâng cao
trình độ lý luận chung của Đảng, phải tổ chức học tập lý luận trong Đảng, trước hết
là trong những cán bộ cốt cán của Đảng. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Lý luận
phải liên hệ với thực tế”. Lý luận rất cần thiết, nhưng học tập, tiếp thu lý luận mà
không liên hệ và vận dụng vào thực tiễn thì không có kết quả. Cán bộ, đảng viên
học tập nâng cao trình độ lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế. Khi học tập lý luận
thì nhằm mục đích: “Học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận”.
Người làm cách mạng phải nắm vững lý luận cách mạng để hiểu rõ mọi hoàn cảnh
khó khăn phức tạp, xác định rõ mâu thuẫn nảy sinh và phát triển để giải quyết đúng
đắn các vấn đề cách mạng đặt ra.
Cán bộ, đảng viên tiếp thu và nắm vững lý luận là nắm cái gì? Hồ Chí Minh
chỉ rõ: Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc,... là
học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng
tạo vào hoàn cảnh thực tế ở nước ta. Tiếp thu lý luận Mác-Lênin là tiếp thu những
nguyên lý, quy luật chung nhất. Từ đó, chúng ta vận dụng, soi sáng vào điều kiện cụ
thể của nước mình. Vì vậy, học tập và vận dụng lý luận Mác-Lênin vào thực tiễn
cách mạng nước ta là tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo trong hoàn cảnh, điều

túng. Lời nói và việc làm của họ không nhất trí. Họ học sách vở Mác-Lênin, nhưng
không học tinh thần Mác-Lênin. Học để trang sức, chứ không phải để vận dụng vào
công việc cách mạng. Người đã chỉ rõ những khuyết điểm của cán bộ ta. Người nói:
Từ trước tới nay, Đảng ta đã cố gắng liên hệ chặt chẽ chủ nghĩa Mác-Lênin với thực
tế cách mạng Việt Nam. Cán bộ và đảng viên ta nói chung đều có phẩm chất cách
mạng tốt đẹp. Nhưng chúng ta còn nhiều khuyết điểm như: bệnh chủ quan, chủ
11


nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm... Người mong muốn đào tạo đội ngũ cán
bộ, đảng viên của Đảng từ thế hệ này sang thế hệ khác luôn nắm vững những
nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin về sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn, để vận dụng vào thực tế cách mạng Việt Nam một cách sáng tạo.
Hồ Chí Minh không những là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta, là nhà văn hóa lớn
mà còn là người có tư tưởng triết học duy vật biện chứng sâu sắc. Người đã vận
dụng sáng tạo và phát triển lý luận Mác-Lênin trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lý luận cách mạng và thực tiễn
vào phong trào cách mạng một cách đúng đắn. Người đã lãnh đạo cách mạng Việt
Nam giành được những thắng lợi to lớn, đưa đất nước ta đi lên con đường chủ nghĩa
xã hội phù hợp với xu thế của thời đại.

12


Chương 2
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG CÔNG TÁC LÝ LUẬN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Tính tất yếu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn trong công tác lý luận

không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ” . Thực chất là họ không hiểu
vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, lý luận có vai trò hết sức to
lớn đối với thực tiễn, lý luận “như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho
chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà
đi”. Làm mò mẫm chính là biểu hiện của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, khinh lý
luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ, do
kém lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý
luận và do đó cũng không thể hiểu được bản chất những vấn đề thực tiễn mới nảy
sinh. Do đó, không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn
mới nảy sinh. Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với thực
tiễn. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở rằng, có lý luận rồi thì phải kết
hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếu không lại mắc phải
bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều. Người khẳng định: “Lý luận cũng như cái
tên (hoặc viên đạn).Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn,
hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên”. Như vậy cũng có nghĩa là lý luận
suông, lý luận sách vở thuần túy. “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý
luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng
ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một
cái hòm đựng sách”. Do đó, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ
thực tiễn, nếu không cũng mắc phải bệnh giáo điều. Như vậy, lý luận chỉ có ý nghĩa
đính thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ thực tiễn, đóng vai trò soi
đường, dẫn đắt, chỉ đạo thực tiễn. Đồng thời, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn thì
phải phù hợp điều kiện thực tiễn. Rõ ràng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ
Chí Minh phải được hiểu là, thực tiễn - lý luận, lý luận - thực tiễn luôn hòa quyện,
thống nhất với nhau, đòi hỏi nhau, cần đến nhau, tạo tiền đề cho nhau phát triển.
Hồ Chí Minh không để lại những tác phẩm chuyên khảo về sự thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn, nhưng ở nhiều bài viết, bài nói Người luôn luôn đề cập tới
nguyên tắc cơ bản này bằng nhiều cách nói, cách viết, cách diễn đạt khác nhau nhằm
14


Mác-Lênin. Tư tưởng này của Hồ Chí Minh cho tới nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý
luận và thực tiễn đối với chúng ta. Người cũng lưu ý rằng, “không nên coi chủ

15


nghĩa Mác-Lênin là kinh thánh, là những công thức có sẵn, cứng nhắc”. Có như vậy
thì việc nghiên cứu, học tập vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin mới có hiệu quả.
Cùng với việc chống giáo điều trong học tập chủ nghĩa Mác-Lênin thì còn
phải chống giáo điều trong vận dụng lý luận cũng như kinh nghiệm của nước khác,
ngành khác. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: "Không chú trọng đến đặc điểm của
dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm
trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Để chống cả hai loại giáo điều này, theo Hồ Chí
Minh thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý luận với thực tiễn cách mạng nước nhà.
Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn cách mạng, khi vận dụng
kinh nghiệm và lý luận phải xuất phát từ thực tiễn nước nhà. Người cũng nhấn
mạnh rằng, cùng với việc chống bệnh giáo điều thì phải đề phòng, ngăn ngừa chủ
nghĩa xét lại. Bởi lẽ, nếu không có quan điểm đúng đắn trong việc quán triệt nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì người ta dễ nhấn mạnh thái quá những
đặc điểm dân tộc để phủ nhận những giá trị phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin.
"Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của
những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm
trọng của chủ nghĩa xét lại”. Đồng thời, Người còn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải
biết dùng lý luận đã học được để tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao
hiệu quả công tác. “… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần
nghiên cứu cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa
phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới". Người còn nhấn mạnh: “...cần
phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới
để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm". Đó chính là quá
trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện,

cũng không phải là những khuôn mẫu cứng nhắc ở các lĩnh vực cụ thể cho tất cả các
nước và các dân tộc ở các thời đại khác nhau. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã nhắc
lại lời dạy của Lênin rằng: Lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim
chỉ nam cho hành động cách mạng; và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc,
nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận
mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động.
Người còn căn dặn cán bộ, đảng viên học tập và tiếp thu lý luận Mác-Lênin là
tiếp thu cái tinh thần chung, nguyên lý chung, phương pháp luận chung để định
hướng trong suy nghĩ và vận dụng vào thực tiễn cho phù hợp với hoàn cảnh đặc biệt
của nước ta. Người nhắc nhở: “Không phải học để thuộc lòng từng câu từng chữ, đem
kinh nghiệm của các nước anh em áp dụng một cách máy móc”. Học lý luận MácLênin mà chỉ nắm câu chữ, thuộc câu chữ mà không hiểu sâu sắc nội dung, nguyên
lý, quy luật để vận dụng vào thực tế cho phù hợp, đó là bệnh giáo điều sách vở, xa
thực tế. Học kinh nghiệm của nước khác, địa phương khác, ngành khác mà không
phân tích, tiếp thu tinh thần chung, đem áp dụng một cách dập khuôn máy móc, đó
cũng là giáo điều. Người kiên quyết phê phán những cán bộ, đảng viên có tư tưởng
18


lệch lạc trong việc học tập và tiếp thu lý luận Mác-Lênin. Người phê phán những cán
bộ, đảng viên học tập lý luận theo kiểu học thuộc lòng sách vở, thuộc được nhiều câu,
đọc được nhiều sách lý luận rồi tự cho mình là giỏi lý luận, kiêu căng, tự mãn. Người
mong muốn đào tạo đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng từ thế hệ này sang thế hệ
khác luôn nắm vững những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, nắm
vững nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn,
để vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách sáng tạo.
Thứ hai, về học tập và vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Học tập, vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng
là điều kiện tiên quyết trong việc định hướng xã hội chủ nghĩa cho con đường cách
mạng Việt Nam, đồng thời là phương pháp luận để giải quyết những vấn đề mà
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra. “Đảng ta nhờ kết hợp được chủ nghĩa

bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là gọi là hiểu chủ nghĩa
Mác-Lênin được”. Cho nên toàn Đảng, toàn dân phải phát huy hơn nữa tinh thần
cầu học, cầu tiến bộ, đẩy mạnh phong trào học tập lý luận nhằm nâng cao trình độ
lý luận. Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên quán triệt lời căn dặn
của V.I.Lênin: “Học, học nữa, học mãi” và “Chỉ có thể trở thành người cộng sản khi
biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà
nhân loại đã tạo ra”.
Người cũng luôn căn dặn rằng, để khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa thì
phải học tập lý luận, nâng cao trình độ về mọi mặt, nhưng phải có phương pháp học
tập đúng đắn, hơn nữa học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn,
nếu không, chưa khắc phục được bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa thì lại mắc phải bệnh
giáo điều sách vở: “Lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ
không có hiệu quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: Lý
luận phải liên hệ với thực tế”. Điều quan trọng hơn nữa là phải chống giáo điều
ngay trong việc học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, nghĩa là không nên học thuộc lòng
từng câu, từng chữ chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo Hồ Chí Minh, học tập lý luận MácLênin tức là “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng phải sáng tạo,
khoa học và biện chứng. Nói theo cách nói của Hồ Chí Minh là phải học “cái tinh
thần xử trí mọi việc đối với mọi người và đối với bản thân mình”. Như vậy là, để
chống giáo điều trong việc học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta cần phải nắm
linh hồn của chủ nghĩa Mác-Lênin - tức là học tập phương pháp tư duy biện chứng
duy vật, chứ không đơn thuần là học thuộc lòng những nguyên lý, những khái niệm,
những phạm trù của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Hồ Chí Minh cũng căn dặn chúng ta “học lý luận cốt là để áp dụng vào thực
tế”, “học tập lý luận nhằm mục đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì
20


lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng”. Điều căn dặn này của Người có ý nghĩa
giáo dục hết sức to lớn đối với tất cả chúng ta. Cho nên, chúng ta phải kiên quyết
tẩy trừ cho sạch mọi động cơ và mục đích học tập không đúng đắn. Điều quan trọng



pháp để họ có thể thể hiện phong cách đó trong quá trình hoạt động thực tiễn sau
khi ra trường. Chính vì thế tài liệu học tập, ngoài những sách vở của chủ nghĩa
Mác-Lênin, còn cần nghiên cứu những kinh nghiệm thực tế, nghiên cứu những Chỉ
thị, Nghị quyết, luật pháp lệnh của Đảng và Nhà nước. Hồ Chí Minh còn nêu ra một
số nguyên tắc trong giảng dạy lý luận. Đó là: Cốt thiết thực, chu đáo hơn tham
nhiều; từ dưới lên trên; gắn liền lý luận với công tác thực tế; nhắm đúng nhu cầu;
chú trọng việc cải tạo tư tưởng.
Nói đến việc vận dụng nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tế trong nhà
trường, cả về phía người dạy và người học, Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn cụ
thể. Trước hết, “phải liên hệ lý luận với thực tế công tác và tư tưởng của mình, để tự
cải tạo mình, nâng cao sự tu dưỡng của mình về lập trường, quan điểm và phương
pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin”. Tiếp đó “cần liên hệ với những vấn đề thực tế ở
trong nước và trên thế giới, những vấn đề và nhiệm vụ cách mạng hiện nay đề ra
cho đảng ta, đem lý luận học được tìm xem đường lối và phương pháp giải quyết
các vấn đề đó như thế nào cho đúng; hoặc phân tích các kinh nghiệm công tác đã
qua của Đảng và tìm nguyên nhân của những thành công và thất bại của Đảng. Như
thế sẽ giúp cho việc củng cố lập trường, nâng cao quan điểm và phương pháp của
mình”. Tuy nhiên, Người cũng lưu ý rằng cần tránh việc đòi hỏi một cách lệch lạc
rằng trong lúc học tập phải giải quyết tất cả mọi vấn đề thực tế. Thực tế của cách
mạng, giải quyết các vấn đề thực tế ấy là một quá trình lâu dài của toàn Đảng “ở
nhà trường chỉ có thể đặt cơ sở cho việc liên hệ với thực tế mà thôi”.
Hồ Chí Minh đã đưa ra một nguyên tắc rất quan trọng trong nghiên cứu học
tập lý luận nói chung và lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin nói riêng là lý luận gắn với
thực tiễn và đó cũng chính là nguyên tắc mà bản thân Người luôn áp dụng. Hiện nay,
chúng ta đang đẩy mạnh phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ
Chí Minh trong xã hội nói chung, trong nhà trường nói riêng, và để đảm bảo hiệu quả
của công tác lý luận, việc quán triệt nguyên tắc lý luận gắn với thực tế theo tư tưởng
Hồ Chí Minh vẫn là một nguyên tắc cơ bản, một yêu cầu hết sức quan trọng.

hội ở nước ta và điều này được phản ánh tập trung trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển
kinh tế - xã hội đến năm 2000 được thông qua tại Đại hội VII của Đảng. Những
nhận thức đã đạt tới cho đến Đại hội VII đánh dấu một nấc thang quan trọng trên
chặng đường dài tìm tòi, thể nghiệm và sáng tạo lý luận của Đảng ta. Trong nỗ lực
trí tuệ chung của toàn Đảng, có phần đóng góp xứng đáng của đội ngũ cán bộ lý
luận và khoa học xã hội.

23


Được cổ vũ và chỉ đạo bởi tư duy mới của Đại hội VI, nhiều cán bộ lý luận
và khoa học xã hội hăng hái thâm nhập cuộc sống, đi vào những vấn đề lý luận và
thực tiễn gai góc, tham gia tích cực quá trình đổi mới tư duy, luận chứng khoa học
cho đường lối đổi mới, kết hợp ngày càng chặt chẽ với các cơ quan chỉ đạo thực tiễn
trong việc chuẩn bị và đề ra các chính sách. Đời sống tư tưởng - lý luận ở nước ta từ
đó rõ ràng có bước khởi sắc.
Đại hội XI (2011) đã kiểm điểm 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội X, nhìn
lại 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, 20 năm thực
hiện cương lĩnh năm 1991. Đại hội XI nhận xét trong công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng đã được tăng cường và đạt một số kết quả tích cực, trong đó phải kể đến
những thành tựu của công tác lý luận: “Công tác lý luận đã chủ động nghiên cứu
nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới, diễn biến mới của tình
hình thế giới; giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; tập trung vào tổng kết và bổ sung, phát triển Cương lĩnh, xây dựng Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 2011–2020 và các văn kiện khác trình Đại hội XI của
Đảng”. Như vậy, Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh vấn đề quan trọng trước hết là
phải tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao trí tuệ của Đảng lên một bước phát triển mới.
Hơn lúc nào hết, muốn lãnh đạo công cuộc đổi mới đi đến thắng lợi, Đảng ta phải
nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực tổ chức thực tiễn, từ việc phát hiện và nắm

các cơ quan lý luận. Những việc có làm thì trình độ phân tích, tổng hợp và khái quát
chưa cao, chưa đạt mức có thể từ tổng kết đưa ra được những dự báo cần thiết về
các quá trình phát triển và các đề xuất các giải pháp xác đáng. Cụ thể như trong lĩnh
vực kinh tế, chưa hình thành được một khung lý luận vững chắc về thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nên nhiều khi chưa tôn trọng đầy đủ và
nhất quán những nguyên tắc của kinh tế thị trường trong xây dựng, vận hành và xử
lý các vấn đề của nền kinh tế. Chưa xác định rõ và tạo được sự nhất trí cao về
những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là
về tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ nhận thức về mặt lý luận còn hạn chế nên
dẫn tới thực tiễn còn nhiều bất cập. Đó là, “Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều
rộng dựa vào tăng đầu tư, khai thác tài nguyên; các cân đối vĩ mô chưa vững chắc.
Công nghiệp chế tạo, chế biến phát triển chậm, gia công, lắp ráp còn chiếm tỉ trọng
lớn. Cơ cấu kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực chuyển dịch theo hướng tích cực
nhưng còn chậm. Cơ cấu trong nội bộ từng ngành cũng chưa thật hợp lý. Năng suất
lao động xã hội thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Năng lực cạnh tranh
quốc gia chậm được cải thiện”. Đây là một minh chứng điển hình trong nhiều vấn
đề còn đang gặp phải những hạn chế về nhận thức.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status