MỞ ĐẦU
Giao tiếp là đặc trưng quan trọng nhất trong hành vi của con người, nó
không những là điều kiện quan trọng bậc nhất của sự hình thành và phát triển
tâm lý, ý thức, nhân cách mà còn giúp cho con người đạt được năng suất, chất
lượng và hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động.
Như vậy giao tiếp rõ ràng là một vấn đề không thể thiếu được trong
cuộc sống của con người. Không những thế, giao tiếp còn là yếu tố quan
trọng trong sự phát triển tâm lý của họ T.V.Pelevina viết: “Mỗi người với
khả năng giao tiếp của mình, đã tham gia vào những quan hệ xã hội…
Quá trình thích ứng xã hội và xã hội hoá nhân cách đó là sự hiểu thấu đáo
kinh nghiệm xã hội bằng chính cá nhân”. Giao tiếp là thiết yếu trong mọi
hoạt động của con người, cùng với hoạt động, giao tiếp đã trở thành
phương thức tồn tại của xã hội loài người. Mặt khác, giao tiếp còn là một
nghệ thuật mà bất kỳ ai cũng phải học. Giao tiếp chính là hoạt động nhằm
xác lập và mở rộng các mối quan hệ giữa người với người trong đời sống
xã hội. Vì thế C.Mác đã xem giao tiếp như một khí quan xã hội, vừa là
phương tiện hình thành, củng cố bản chất xã hội trong con người, vừa là
cơ chế tiếp thu kinh nghiệm xã hội như tri thức, kĩ năng, quy tắc.
Trong trường đại học, sinh viên sống trong một tập thể – lớp học,
một trong những đơn vị cơ sở của hệ thống dạy học trong trường. ở đó có
cuộc sống tập thể. Và ở đó tiếp thụ những tri thức mới, hiện đại, sâu sắc
của loài người, hình thành, phát triển nhân cách, tu dưỡng những phẩm
chất đạo đức và năng lực của mình. ở đó vấn đề giao tiếp nổi lên đặc biệt
quan trọng và có đặc thù riêng ở môi trường và lứa tuổi này. Chính vì
nhận thấy tầm quan trọng đó nên em đã chọn đề tài “Phát triển kỹ năng
giao tiếp của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội” làm đề tài nghiên
cứu khoa học của mình.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP
TRONG SINH VIÊN
- Từ góc độ tâm lý liệu pháp, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã nhận
định rằng, giao tiếp là sự trao đổi giữa người với người thông qua nói,
viết, cử chỉ, điệu bộ. Sự trao đổi này thông qua một bộ (code) tư chất
người phát tin mã hoá một số tín hiệu, người tiếp nhận giải mã, một bên
truyền những ý nghĩ nhất định để bên kia hiểu được.
- Bùi Văn Huệ - Đỗ Mộng Tuấn – Nguyễn Ngọc Bích trong “tâm lý
học xã hội”, Hà Nội, 1996, tr.51-53 định nghĩa: “giao tiếp là sự tiếp xúc
giữa hai hay nhiều người thông qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi
thông tin, tình cảm, hiểu biết tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau”.
- Trần Tuấn Lộ – “Tâm lí học giao tiếp” – Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh – 1993 (tr.8-11) viết: “Giao tiếp là một loại nhu cầu và là một hoạt
động của mỗi người nhằm tiếp xúc, đối tác và giao lưu với người khác để
trao đổi thông tin, kinh nghiệm, trí tuệ, tình cảm và thể xác với người
khác”.
Tuy nhiên, trong giao tiếp không phải chỉ đơn giản diễn ra sự tác
động qua lại giữa con người và con người mà trong giao tiếp con người có
sự tác động qua lại với nhau về mặt tâm lí để hình thành các mối quan hệ.
Và quan hệ lên nhân cách. Mặt cơ bản của giao tiếp là thiết lập nên những
mối quan hệhai chiều về mặt tổ chức – xã hội để thoả mãn nhu cầu về sự
quan tâm, sự thiện chí, sự hiểu biết, cảm thông, đồng tâm…. của con
người. Đã là con người ai cũng có nhu cầu tiếp xúc với ngừi khác để trao
đổi tâm tư, tình cảm, nguyện vọng… Sống trong xã hội, con người có
một nhu cầu có tính bắt buộc là phải xây dựng được mối quan hệ với
người khác.
Trong giao tiếp diễn ra sự tiếp xúc tâm lý và là quá trình thiết lập
mối quan hệ giữa con người và con người. Để quá trình giao tiếp diễn ra
được thì con người phải thông tin cho nhau. Trao đổi thông tin là một mặt
không thể thiếu được của giao tiếp. Trong giao tiếp con ngừi gửi và nhận
người khác trở thành nhu cầu của mỗi người để cùng nhau hợp tác hướng
tới mục đích trong hoạt động lao động, học tập và vui chơi…. Đây là chỗ
thể hiện rõ nhất nội dung và vai trò của giao tiếp, nó là cơ sở cho sự tồn
tại của con người, gia đình, cộng đồng và xã hội. Trong quan hệ giao tiếp
bao giờ cũng có sự tiếp xúc tâm lí. Sự tiếp xúc tâm lý nảy sinh, phát triển
và hội tụ ở đỉnh cao của nó là sự đồng cảm. Đồng cảm chính là khả năng
nhạy cảm đối với trải nghiệm của bản thân, là sự đống nhất của nhân cách
này với nhân cách khác và là trạng thái tâm lý mà người này có thể đặt
mình vào vị trí của người khác.
1.1.2. Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một
hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng..để giải quyết tình huống hay công
việc nào đó phát sinh trong cuộc sống.
Để giải thích nguồn gốc hình thành kỹ năng, có lẽ không có cơ sở lý
thuyết nào tốt hơn 2 lý thuyết về: Phản xạ có điều kiện ( được hình thành
trong thực tế cuộc sống cá nhân) và Phản xạ không điều kiện ( là những phản
xạ tự nhiên mà cá nhân sinh ra đã sẵn có). Trong đó, kỹ năng của cá nhân gần
như thuộc về cái gọi là phản xạ có điều kiện, nghĩa là kỹ năng được hình
thành từ khi một cá nhân sinh ra, trưởng thành và tham gia hoạt động thực tế
cuộc sống. Ví dụ: Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng làm việc nhóm…
1.1.3. Khái niệm kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giao tiếp là khả năng vận dụng hiệu quả các tri thức và kinh
nghiệm về giao tiếp, các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ vào những
hoàn cảnh khác nhau của quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích giao
tiếp Như vậy giao tiếp không chỉ đơn thuần là nói chuyện với ai đó (hay với
nhiều người) thì sẽ mang lại kết quả như ta mong đợi. Giao tiếp còn bao hàm
rất nhiều vấn đề khác như: Nói như thế nào? Hiểu đối tượng giao tiếp với
mình như thế nào? Làm thế nào để hai bên có thể hiểu rõ về các thông tin
Giao tiếp là điều kiện quan trọng nhất của sự hình thành bản thân con
người như là con người xã hội, đồng thời là điều kiện tất yếu của sự tồn tại
con người. Chính vì vậy mà nhiều nhà bác học thuộc lĩnh vực tâm lý học
cũng quan tâm đến vấn đề giao tiếp. Chẳng hạn nhà bác học Đức R.Noibe đã
nói: “Con người là nhu cầu quan ữọng của con người, con người sẽ bị mất
mát nhiều nếu họ không thể so sánh được mình với người khác, không thể
ữao đổi được với người khác về các ý nghĩ, không thể định hướng được vào
người khác. Căm thù người khác còn tốt hơn là phải sống cô đơn”
Hơn nữa, trong quá trình giao tiếp với nhau, người ta ừao đổi quan
niệm với nhau. Trong quan niệm của họ thể hiện thái độ đánh giá về mặt trí
tuệ của họ đối với những mặt khác nhau của đời sống thực tế, của đời sống
vật chất và tinh thần. Những quan niệm này có thể giống nhau và như thế thì
củng cố lẫn nhau và ừở thành cơ sở cho hoạt động chung và cho cách xử sự
(giống nhau) của những người ấy. Những quan niệm giống nhau sẽ cửng cố
thái độ đạo đức nảy sinh một cách tự phát. Còn trong trường hợp có những
quan niệm khác nhau thì sẽ nảy ra sự đấu tranh quan niệm dẫn đến việc hình
thành quan điểm chung.
Trong quá trình giao tiếp người ta cũng trao đổi kiến thức cho nhau và
chính như thế là nâng cao trình độ văn hoá chung của tập thể cũng như của
mỗi thành viên ữong đó. Điều quan ữọng không phải là bản thân các kiến
thức được truyền đạt lại mà là thái độ tích cực đối với các kiến thức đó. Điều
đó giải thích tại sao lại có sự lựa chọn thiên lệch đối với một số nghề nghiệp,
sách báo phổ biến, khoa học, tác phẩm nghệ thuật nào đó - Do ảnh hưởng của
chứng mà hình thành một cái mà ta có thể gọi là “mốt” trong nhận thức thẩm
mỹ. Và trong quá trình giao tiếp người ta cũng ữao đổi cho nhau các kinh
nghiệm riêng về cuộc sống và lao động, tác động vào ý chí và tình cảm của
nhau nhằm mục đích tạo nên sự thống nhất rộng lớn để giải quyết các vấn đề
xã hội một cách có kết quả.
Có thể nói rằng con người hiểu biết mình và nhận thức mình như là
chức năng rất quan ữọng của giao tiếp.
Trong xã hội, mỗi con người là một chiếc gương. Giao tiếp với họ
chính là chúng ta soi mình trong chiếc gương đó. Từ đó chúng ta thấy được
những ưu điểm, những thiếu sót của mình và tự sửa chữa, hoàn thiện bản
thân. Chức năng phê bình và tự phê bình này có ý nghĩa quan ữọng trong việc
phát triển toàn diện của con người, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới hiện nay
của xã hội.
Hai là: Chức năng tâm lý
Bên cạnh nhóm chức năng xã hội, giao tiếp còn mang những chức năng
tâm lý nhất định.
Chức năng động viên khích lệ của giao tiếp liên quan đến lĩnh vực cảm
xúc ữong đời sống tâm lý của con người. Trong giao tiếp, con người còn khơi
gợi ở nhau những cảm xúc, tình cảm nhất định; chúng kích thích hành động
của họ. Một lời khen chân tình được đưa ra kịp thời, một sự quan tâm được
thể hiện đứng lúc có thể làm người khác tự tin, cảm thấy phải cố gắng làm
việc tốt hơn.
Giao tiếp không chỉ là hình thức biểu hiện mối quan hệ giữa con người
với con người, mà còn là cách thức để con người thiết lập các mối quan hệ
mới, phát triển và củng cố các mối quan hệ đã có. Tiếp xúc, gặp gỡ nhau - Đó
là khởi đầu của các mối quan hệ. Nhưng các mối quan hệ này có tiếp tục phát
triển hay không, có ữở nên bền chặt hay không, điều này phụ thuộc nhiều vào
quá trình giao tiếp sau đó.
Trong cuộc sống, nhiều khi chứng ta có những cảm xúc cần được bộc
lộ. Những niềm vui hay nỗi buồn, sung sướng hay đau khổ, lạc quan hay bi
quan,... chứng ta muốn được người khác cùng chia sẻ. Chỉ có trong giao tiếp
chúng ta mới tìm được sự đồng cảm, cảm thông và giải tỏa được cảm xúc của
mình.
Trong quá trình tiếp xúc với những người xung quanh, chúng ta nhận
nhân mong muốn trở thành.
- Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội.
Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện thông qua giao tiếp người - người.
Con người vừa là thành viên tích cực của các mối quan hệ xã hội vừa hoạt
động tích cực cho sự tồn tại và phát triển của chính các quan hệ xã hội đó.
- Giao tiếp giữa các cá nhân mang tính chất lịch sử phát triển xã hôi.
Giao tiếp bao giờ cũng được cá nhân thực hiện với nội dung cụ thể,
trong khung cảnh không gian và thời gian nhất định.
- Sư kế thừa chon loc
Giao tiếp bản thân nó chứa đựng sự kế thừa, sự chọn lọc,tiếp tục sáng
tạo những giá trị tinh thần, vật chất thông qua các phương tiện giao tiếp nhằm
lưu giữ, gìn giữ những dấu ấn về tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm
của con người. Giao tiếp được phát triển liên tục không ngừng đối với cá
nhân, nhóm xã hội, dân tộc, cộng đồng tạo thành nền văn hoá, văn minh của
các thời đại.
- Tính chủ thể trong quá trình giao tiếp
Quá trình giao tiếp được thực hiện bởi các cá nhân cụ thể: một người
hoặc nhiều người. Các cá nhân trong giao tiếp là các cặp chủ thể - đối tượng
luôn đổi chỗ cho nhau, cùng chịu sự chi phối và tác động lẫn nhau tạo thành
“các chủ thể giao tiếp”. Mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể giao
tiếp và hiệu quả giao tiếp phụ thuộc rất nhiều vào các đặc điểm cá nhân của
chủ thể như vị trí xã hội, vai trò xã hội, tính cách, uy tín, giới tính, tuổi tác..
.cũng như các mối quan hệ và tương quan giữa họ.
- Sư lan truyền, lây lan các cảm xúc, tâm trạng.
Sự biểu cảm thể hiện đầu tiên bằng nét mặt có ý nghĩa tiến hoá sinh học
cũng như ý nghĩa tâm lý - xã hội, nó phản ánh khả năng đồng cảm, ảnh hưởng
lẫn nhau của con người. Sự chuyển toả các trạng thái cảm xúc này hay khác
không thể nằm ngoài khuôn khổ của giao tiếp xã hội.
hiện nay thiếu một kênh thông tin chính thống và hữu ích để tìm đến. Những
kênh giải trí hay tin tức giật gân, tình dục, sến sẩm nhiều quá. Nếu đọc được
những thông tin kỹ năng và chia sẻ cần thiết cũng như tiếp cận với các cơ hội
để thử sức bản thân từ lúc còn là sinh viên thì ra trường họ sẽ có những kỹ
năng cần thiết mà nhà tuyển dụng đòi hỏi tốt hơn. Vì ai mà chẳng biết giáo
dục ở Việt Nam vẫn chưa tốt, và sinh viên tốt nhất là nên học tập kỹ năng và
kinh nghiệm từ các cơ hội ngoại khóa.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
2.1. Đặc điểm sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
2.1.1. Đặc điểm ngành học
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học công lập, trực
thuộc Bộ Nội vụ, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng. Thủ
tướng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm kiểm tra các điều kiện
bảo đảm chất lượng của trường trước khi cho phép mở ngành đào tạo đại học
và tuyển sinh. Hiện trường đang đào tạo nguồn nhân lực về các ngành học
(hoặc các chuyên ngành): Quản trị văn phòng, Dịch vụ pháp lý, Hành chính
học, Tin học, Văn thư - Lưu trữ, Quản lý văn hóa, Quản trị nhân lực, Thư ký
văn phòng, Thông tin thư viện, Lưu trữ học, Hành chính văn thư, Kế toán
doanh nghiệp...
1. Ngành Quản trị văn phòng
Chương trình đào tạo Ngành Quản trị văn phòng được xây dựng dựa
trên nhu cầu của xã hội nhằm cung cấp nguồn nhân lực có chuyên môn, trình
độ về quản trị văn phòng để đảm nhiệm công việc của người nhân viên, cán
bộ văn phòng và công việc của người quản lí, phụ trách văn phòng các cơ
quan, tổ chức, doanh nghiệp.
Thư ký, trợ lý hành chính cho các cấp lãnh đạo và quản lý;
Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy về lĩnh vực hành chính, văn
phòng,...
Các đơn vị tuyển dụng: các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, các
tổ chức khác.
Triển vọng phát triển nghề nghiệp: có cơ hội thăng tiến để trở thành
lãnh đạo của các cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp.
2. Ngành quản trị nhân lực
Theo các tài liệu được công bố năm 2010, cả nước ta hiện nay có các
cơ quan chuyên trách về quản lý nguồn nhân lực như sau: 01 Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội; 01 Bộ Nội vụ; 63 Sở Lao động, Thương binh và Xã
hội, 63 Sở Nội vụ; 697 phòng Lao động, Thương binh và Xã hội, 697 phòng
Nội vụ và 11065 xã, phường, thị trấn. Ngoài Bộ Lao động Thương binh và Xã
hội, Bộ Nội vụ là các Bộ chuyên trách về công tác quản lý nguồn nhân lực xã
hội, cả nước còn có 16 Bộ, 4 cơ quan ngang Bộ đều có một Vụ làm công tác
quản lý nhân lực (Vụ Tổ chức cán bộ), 08 cơ quan thuộc Chính phủ và hệ
thống các đơn vị sự nghiệp thuộc cơ quan nhà nước đều có các phòng, ban
làm công tác quản lý nhân lực chuyên trách (Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Tổ
chức hành chính…). Như vậy, đội ngũ cán bộ, công chức đang thực hiện công
tác quản trị nhân lực tại các cơ quan, đơn vị trong bộ máy nhà nước là rất lớn
và hàng năm đều có nhu cầu tuyển dụng. Đó là chưa kể đến hàng trăm doanh
nghiệp nhà nước, 497.951 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hàng trăm viện
nghiên cứu về quản lý,… mỗi năm cần tuyển hàng nghìn cán bộ phụ trách về
vấn đề nhân lực trong tổ chức.
Các kỹ năng nghề nghiệp được đào tạo:
-
hoạt động công sở; phân công công việc, xây dựng cơ chế phối hợp trong hoạt
động; thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của cá nhân, đơn vị
trong công sở;
-
Kỹ năng quản lý nhân sự như: kỹ năng phân tích công việc, lập kế
hoạch nhân sự, tuyển dụng và bố trí nhân sự, đánh giá thực thi công việc tạo
động lực làm việc và phát triển nhân sự, thực hiện chế độ đãi ngộ;
-
Kỹ năng thao tác nghiệp vụ hành chính văn phòng cơ bản như: xử
lý thông tin phục vụ công tác quản lý; soạn thảo văn bản, quản lý văn bản, lưu
trữ văn bản, tài liệu; tổ chức phòng làm việc và công sở khoa học; tổ chức hội
họp hoặc tiếp khách...
-
Kỹ năng giải quyết các thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực cơ
bản như: lĩnh vực hộ tịch, lĩnh vực quản lý đất đai, lĩnh vực chứng thực…
-
SV có thể phân tích, đánh giá các vấn đề về quản lý hành chính; có
khả năng đàm phán trong quản lý hành chính và giao tiếp đạt hiệu quả.
Vị trí việc làm: SV tốt nghiệp ngành Quản lý nhà nước có thể đảm
Lựa chọn ngành Quản lý nhà nước sẽ là một trong những lựa chọn sáng
suốt cho các bạn trẻ đạt được thành công trong tương lai.
4. Ngành lưu trữ học
Hiện nay, Việt Nam đang có nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực có trình
độ đại học làm công tác lưu trữ. Tại các cơ quan nhà nước hiện nay trình độ
của cán bộ làm công tác lưu trữ ở bậc đại học đúng chuyên môn chỉ đạt
khoảng 15%. Để nâng cao chất lượng của công tác lưu trữ, các cơ quan, tổ
chức trung ương và địa phương cần bổ sung một số lượng lớn cán bộ được
đào tạo đại học chuyên ngành lưu trữ.
Các kỹ năng nghề nghiệp được đào tạo:
SV học ngành Lưu trữ học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội sẽ được
trang bị các kỹ năng cơ bản thuộc công tác văn thư, công tác lưu trữ như kỹ
năng soạn thảo văn bản, quản lí văn bản, lập hồ sơ, quản lý hồ sơ lưu trữ và
tra tìm hồ sơ, tài liệu, tổ chức chỉnh lý khoa học tài liệu lưu trữ, bảo quản và
khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ. Ngoài ra, người học còn được trang bị các
kỹ năng của người thư kí văn phòng, quản trị văn phòng, tin học văn phòng,
những kiến thức về văn hoá công sở...
Vị trí việc làm sau khi tốt nghiệp:
-
Nghiên cứu, giảng dạy về lĩnh vực văn thư và lưu trữ;
-
Quản lí công tác văn thư - lưu trữ trong các cơ quan, tổ chức và
doanh nghiệp;
-
Chuyên viên văn thư, lưu trữ tại các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân
-
Tổ chức kho và bảo quản tài liệu;
-
Xử lý thông tin - tài liệu;
-
Tổ chức bộ máy tra cứu;
-
Xây dựng các sản phẩm và dịch vụ thư viện - thông tin;
-
Tổ chức phục vụ người đọc, người dùng tin; Marketing thư viện…
-
Thành thạo tin học văn phòng và tin học trong hoạt động thư viện;
-
Sử dụng tốt tiếng Anh trong giao tiếp và hoạt động chuyên môn
Các đơn vị tuyển dụng:
-
Chương trình đào tạo sinh viên trở thành những cán bộ có trình độ đại
học, cao đẳng, có năng lực quản lý và tổ chức các hoạt động văn hoá thông tin
trong các cơ quan, đơn vị quản lý văn hoá từ trung ương đến các địa phương ,
cơ sở.
Sinh viên sau khi tốt nghiệp nghành quản lý văn hoá có đủ kiến thức và
tự tin để làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá, thông tin,
truyền thông hoặc đảm nhận các công việc liên quan đến hoạt động văn hoá
du lịch, truyền thông báo chí.
2.1.2. Đặc điểm đầu vào
Trước yêu cầu đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, đáp ứng nguồn nhân lực
có trình độ cao, bám sát nhiệm vụ quản lý của Bộ Nội vụ, nhất là những lĩnh
vực chưa có trường đại học nào đào tạo, tháng 11/2011, Thủ tướng Chính phủ
đã cho phép thành lập Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trên cơ sở nâng cấp
Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội. 40 năm qua, Trường đã đào tạo trên 45.700
học sinh, sinh viên, trong đó có trên 70 lưu học sinh, thực tập sinh nước Cộng
hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
- Trường Đại học Nội vụ tuyển sinh trong cả nước theo Phương thức
tuyển sinh: tuyển sinh dựa vào kết quả kỳ thi THPT quốc gia do các trường
ĐH chủ trì, - Trường tổ chức sơ tuyển hồ sơ của thí sinh trước khi xét tuyển.
- Sinh viên tốt nghiệp Cao đẳng, trung cấp đủ điều kiện và có nguyện
vọng được học Liên thông lên bậc Đại học, Cao đẳng cùng hệ đào tạo
2.1.3. Điều kiện sống và sinh hoạt
Trường Đại học nội vụ được đầu tư cơ sở vật chất khá khang trang và
đầy đủ ngoài khu hành chính văn phòng, hội trường và khu giảng đường
trường còn có khu Ký túc xá trực thuộc sự quản lý của Phòng Công tác sinh
viên.
Cách nơi học tập chính của Trường khoảng 300m, Ký túc xá là đơn vị
dịch vụ có chức năng chăm lo đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho sinh
Kỹ năng làm việc nhóm là kỹ năng tương tác giữa các thành viên trong
một nhóm, nhằm thúc đẩy hiệu quả công việc việc phát triển tiềm năng của tất
cả các thành viên. Một mục tiêu lớn thường đòi hỏi nhiều người làm việc với
nhau, vì thế làm việc nhóm trở thành một định nghĩa quan trọng trong tổ chức
cũng như trong cuộc sống.
Trong thời đại ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì
yêu cầu làm việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết. Đơn giản vì không ai
là hoàn hảo, làm việc theo nhóm sẽ tập trung những mặt mạnh của từng người
và bổ sung cho nhau. Hơn nữa, chẳng ai có thể cáng đáng hết mọi việc.
Trong một tập thể mỗi một con người đều có những nét khác biệt, đồng
thời là sự xuất hiện của những cuộc xung đột giữa các cá nhân trong nội khi
giải quyết những vấn đề của nhóm. Do đó thấu hiểu được sự khác biệt là có
khả năng giải quyết những xung đột.
Việc có rèn luyện các kĩ năng trong giao tiếp với tập thể sẽ giúp sinh
viên tự tin khẳng định vị trí của mình trong giao tiếp với mọi người đồng thời
cũng có nghĩa là tạo dựng nên một hình ảnh đẹp về người sinh viên trong xã
hội ngày nay – những con người có lối sống đẹp, sống có ý nghĩa. Tuy nhiên
đó mới chỉ là những kĩ năng cơ bản trong giao tiếp, còn trong tương lai để
thực sự thành công trong các môi trường làm việc khác nhau, sinh viên còn
phải trang bị thêm nhiều kĩ năng giao tiếp nữa;
2.2.1. Thực trạng kỹ năng giao tiếp giữa sinh viên với sinh viên ở
ngoài nhà trường
Về giao tiếp và ứng xử giữa sinh viên với nhau trong thời gian gần đây
đã có nhiều sự thay đổi, nhất là trong cách nói chuyện với nhau nơi công
cộng. Nếu để ý lắng nghe những cuộc đối thoại của nhiều sinh viên (cả nam
và nữ) ta sẽ dễ dàng nhận thấy một điều là ngày nay các bạn thường sử dụng
nhiều từ lóng, tiếng lóng để nói với nhau mà nếu không phải là người trong
cuộc thì khó mà hiểu được. Rồi những câu nói tục, những câu thơ, đoạn nhạc
với giảng viên, nhất là đối với giảng viên trẻ.
Vậy học sinh, sinh viên hiện nay đã ứng xử với thầy cô giáo một cách
có văn hoá, phù hợp với chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam,
với truyền thống “tôn sư trọng đạo” hay chưa?
Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và
đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra
nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề. Lập luận phản
biện phải rõ ràng, lôgíc, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm thì sinh viên
còn lúng túng. Tình trạng thụ động trên giảng đường hiện nay cũng là một
minh chứng cho việc sinh viên hiện nay thiếu tư duy phản biện. Các thầy giáo
từng chia sẻ “Mặc dù trên giảng đường tôi rất khuyến khích các bạn sinh viên
bày tỏ quan điểm của mình nhưng hình như không được ủng hộ lắm, phương
pháp giảng dạy mới “lấy người học làm trung tâm (learner center) khó mà áp
dụng nếu không được ủng hộ từ các bạn sinh viên”.
Có rất nhiều sinh viên hiện nay quan niệm quá trình học tập, rèn luyện
tại truờng đại học chỉ là học để có nghề nghiệp, học để lấy tấm bằng; giảng
viên, cán bộ nhà trường chỉ là người làm công tác đào tạo cho mình. Vì vậy
họ đã đánh mất những nét đẹp, xa rời các chuẩn trong cách ứng xử với thầy
cô giáo vốn đã được giáo dục từ thời phổ thông. Đó là thái độ không tôn trọng
giảng viên trong giờ học mà những biểu hiện cụ thể là cãi lại lời giảng viên
khi bản thân có lỗi, bị phê bình; là không đứng dậy chào giảng viên khi họ
vào lớp; là trả lời câu hỏi của giảng viên một cách cộc lốc, thờ ơ cho qua; là
không đứng dậy trả lời câu hỏi xây dựng bài khi giảng viên yêu cầu; là vào ra
lớp học không xin phép…Cả những hành vi nói chuyện riêng, làm việc riêng,
sử dụng điện thoại, để chuông điện thoại reo trong giờ học của một số sinh
viên và tình trạng các lớp không chuẩn bị khăn trải bàn, khăn lau bảng cho
giảng viên, không làm vệ sinh trong lớp học trong rất nhiều tiết giảng của
giảng viên cũng thể hiện sự ứng xử chưa văn hoá.