skkn một số biện pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non - Pdf 43

1. MỞ ĐẦU
1. 1.Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết đất nước ta đang trong thời kỳ phát triển, thời kỳ
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Để đáp ứng với yêu cầu của thời đại
thì đòi hỏi mỗi con người chúng ta phải có thể lực tốt, sức khoẻ tốt. Để có một
thể lực phát triển, có sức khoẻ tốt thì con người phải được sống trong môi
trường trong sạch, lành mạnh để có môi trường trong sạch không bị ô nhiễm thì
việc bảo vệ môi trường là một vấn đề hết sức quan trọng.
Hiện nay môi trường trên thế giới và ở Việt Nam đang bị ô nhiễm nặng nề, do sự
gia tăng dân số quá nhanh, đô thị hoá ở nhiều nơi, khí thải của các công trường
nhà máy, sự tàn phá của con người để đốt rừng, phá nương làm rẫy và lượng rác
thải trong sinh hoạt hàng ngày quá nhiều mà không có biện pháp xử lý tốt.
Nhân tố con người là yếu tố chính làm cho tình trạng ô nhiễm càng gia
tăng trầm trọng nhưng chính con người cũng là nhân tố bảo vệ môi trường và cải
thiện môi trường sống.
Môi trường sống của con người là vũ trụ bao la, trong đó hệ mặt trời và
trái đất là bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp rõ nét nhất. Môi trường thân thiện bao
gồm các nhân tố thiên nhiên, đất nước, không khí, ánh sáng .....tồn tại khách
quan ngoài ý muốn con người. Môi trường nhân tạo gồm những nhân tố vật lý,
sinh học, xã hội do con người tạo nên chịu sự chi phối của con người. Những
vấn đề môi trường này nó cùng tồn tại, xen lẫn và tương tác chặt chẽ vào nhau.
Vấn đề môi trường hiện nay đang bị ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khoẻ,
sự sống của con người.
Vì vậy giáo dục và bảo về môi trường là vấn đề cấp bách có tính toàn cầu
và là vấn đề có tính xã hội sâu sắc cần được giáo dục cho con người ngay từ tuổi
thơ, từ lứa tuổi mầm non.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục bảo vệ môi trường,
Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành nhiều văn bản, tạo điều
kiện cho công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong hệ thống giáo dục quốc dân
nói chung và giáo dục mầm non nói riêng.
Giáo dục môi trường cho trẻ lứa tuổi mầm non là cung cấp cho trẻ những hiểu

trường trong trường mầm non.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp nâng cao chất lượng chuyên đề giáo dục bảo vệ môi
trường cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non Hoằng Phúc.
1.4. phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu các văn bản pháp quy,
những quy định những quy định của ngành có liên quan đến công tác giáo dục
bảo vệ môi trường trong trường mầm non, xây dựng cơ sở lý luận cho việc
nghiên cứu đề tài này.
Phương pháp thực tiễn.
Phương pháp quan sát .
Phương pháp toán học thống kê
Phương pháp tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thông qua hoạt động của bản
thân và đồng nghiệp.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non
Trẻ em trong độ tuổi mầm non rất thích hoạt động, thích tiếp xúc với thiên nhiên
và cuộc sống xung quanh, dễ hấp thị và hình thành những nề nếp, thói quen, thái
độ ứng xử có văn hóa, gần gũi với môi trường sống xung quanh, đó là yếu tố
thuận lợi cho giáo dục bảo vệ môi trường .
Kỹ năng của trẻ mầm non
Trẻ em trong độ tuổi mầm non có khả năng tiếp nhận kiến thức, hình
thành kỹ năng ban đầu đơn giản, với cách dạy học phù hợp tâm lý, nhận thức
của trẻ . những khả năng đặc trưng đó là:
Quan sát, phân tích, so sánh phân nhóm, phân loại các sự vật hiện tượng
gần gũi xung quanh theo các dấu hiệu màu sắc, hình dạng, kích thước, tiếng kêu,
thức ăn, nơi sống. Nhận biết được mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên,
2


Đa số phụ huynh rất quan tâm đến việc chăm sóc giáo dục trẻ,thường
xuyên quan tâm giúp đỡ nhà trường trong mọi hoạt động để nhà trường hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Là trường chuẩn Quốc gia mức độ I, trường có khuôn viên rộng rãi
thoáng mát, môi trường xanh sạch đẹp, có đầy đủ các phòng học, phòng chức
năng phục vụ hoạt động, giáo dục các cháu về môi trường thiên nhiên, môi
trường hoạt động ngoài trời cũng như trên lớp.
b. Khó khăn:
Nhà trường đã thực hiện chuyên đề giáo dục và bảo vệ môi trường từ
năm học 2008 -2009 đến nay. Tuy nhiên, giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm
trong việc lồng ghép đưa vào các hoạt động còn chưa linh hoạt, hợp lý nên dẫn
đến kết quả chưa cao, có bài học lồng ghép vào quá nhiều dẫn đến trẻ nhàm
chán.

3


Đa số cha mẹ trẻ làm nghề nông nghiệp nên ít có thời gian dài cho con,
một số trẻ chưa có thói quen bỏ rác vào nơi quy định. Hay nhiều lúc trẻ vẫn chạy
một cách vô tư chưa biết nhặt rác ngay dưới chân mình để bỏ vào thùng, đi vệ
sinh, rửa tay chưa biết khoá vòi nước lại còn để lãng phí nước…
Phương tiện phục vụ cho việc giáo dục môi trường chưa được đầu tư
nhiều như: Thùng rác chưa có đủ và đúng quy cách, đồ dùng dụng cụ vệ sinh
còn thiếu..
* Kết quả khảo sát trẻ về nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
( Thời điểm tháng 9/ 2016)
TT Các hành vi đánh giá

Tổng số
trẻ được

110
50%
chơi đúng nơi quy định
4
Phân biệt được những hành 220 trẻ
100 45,4% 120 54,6%
vi đúng, hành vi sai với môi
trường
5
Biết tiết kiệm điện, nước khi 220 trẻ
95
43,2% 125 56,8%
sử dụng và tắt khi sử dụng
6
Nhắn nhủ mọi người không 220 trẻ
90
41%
130
59%
được xả rác bừa bãi
Từ những thực trạng trên tôi luôn suy nghĩ và trăn trở xem mình phải làm
gì và làm như thế nào để nâng cao kết quả giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ
đồng thời nhắc nhở cả phụ huynh hãy chung tay, góp sức cùng giáo viên và nhà
trường trong việc giáo dục trẻ và bảo vệ môi trường, hãy sống cho mình và cả
tương lai của con em mình sau này.
Để thống nhất việc thực hiện nội dung giáo dục và bảo vệ môi trường tôi
đã nghiên cứu và tìm ra các giải pháp và biện pháp để chỉ đạo giáo viên thực
hiện tốt nội dung giáo dục và bảo vệ môi trường trong trường Mầm non.
2.3. Các giải pháp:
2.3. 1. Xây dựng kế hoạch.

lc qun lý v chuyờn mụn nghip v ca mỡnh.
i vi giỏo viờn: Nh trng chỳ trng nõng cao cht lng chm súc
v giỏo dc tr, u nm hc tụi ó xõy dng k hoch bi dng v t chc
chuyờn v giỏo dc bo v mụi trng cho tr, m cỏc cuc hi tho giỳp
giỏo viờn nõng cao kin trong cụng tỏc chm súc v giỏo dc tr.
100% cán bộ giáo viên đều có ý thức tích cực trong việc
tự học, tự rèn luyện qua nghiên cứu học tập, qua tài liệu, tập
san, chơng trình thực nhiệm qua băng đĩa
ng dng cụng ngh thụng tin trong cỏc hot ng chm súc giỏo dc tr
l vic lm quan trng gúp phn nõng cao cht lng giỏo dc trong trng
mm non.
Tre quan sat hinh anh trờn man hinh

5


Muốn làm được điều đó thì trước hết giáo viên phải biết sử dụng thành
thạo máy vi tính. Phần lớn giáo viên chưa có điều kiện để tiếp xúc và làm quen
với máy vi tính. Ngoài ra vào các buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng, tôi đã
tạo điều kiện cho giáo viên được làm quen và tiếp xúc với máy tính thông qua
các hoạt động dạy học. Nhờ vậy mà năm học 2016-2017 chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ của nhà trường được nâng lên một cách đáng kể. Đặc biệt việc ứng
dụng công nghệ thông tin vào việc giáo dục trẻ bảo vệ môi trường. Bằng những
hình ảnh đẹp, hấp dẫn giáo viên cho trẻ quan sát trên màn hình đã lôi cuốn trẻ
hứng thú vào các hoạt động bảo vệ môi trường một cách tích cực.
Để có phương tiện làm việc chúng tôi phát động phong trào tiết kiệm
quyên góp kinh phó để mua máy vi tính cho những giáo viên chưa có.
2.3.3.Công tác tham mưu xây dựng cơ sở vật chất
Để có một môi trường trong sạch không bị ô nhiễm thì cơ sở vật chất và
khuôn viên trường học phải sạch sẽ, thoáng đãng. Bởi vậy, ngay từ những ngày

dục bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động, khi xây dựng các nội dung hoạt
động cần phải tuân theo các nội dung sau:
Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phải liên quan với nội dung giáo
dục, chăm sóc sức khoẻ trẻ.
Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường đưa vào hoạt động có hệ thống,
phù hợp với trẻ, không trùng lặp,không gây quá tải ảnh hưởng tới việc tổ chức
hoạt động chính.
Những hiện trạng môi trường cô giáo nêu ra phải gần gũi, không xa lạ với
trẻ. Cô có thể nêu ở trường hoặc địa phương thật cụ thể.
Khi xác định được các nguyên tắc này tôi chỉ đạo giáo viên lồng ghép hoạt
động giáo dục bảo vệ môi trường vào các hoạt động trong ngày.
Ví dụ: Hoạt động đón trẻ, cô trò chuyện cùng trẻ để hỏi về môi trường từ
nhà đến trường có khói bụi của xe ô tô, xe máy để giáo dục trẻ giữ gìn thân thể
bằng cách đeo khẩu trang để tránh hít phải khói bụi …
Hoạt động học tập: Cho trẻ khám phá môi trường xung quanh cho trẻ
quan sát màn hình chiếu về sự ô nhiễm của con sông khi nước thải bẩn chảy ra
làm ảnh hưởng sức khoẻ con người, giáo dục trẻ con sẽ làm gì khi sử dụng thấy
có nước bẩn ở chậu rửa mặt ,rửa tay hàng ngày .v..v
Hoạt động lao động: Lao động tự phục vụ, giáo dục trẻ tự phục vụ tốt là
việc làm có lợi cho môi trường như: Trẻ đi đại tiện, tiểu tiện đúng chỗ, đi xong
biết vặn vòi nước chảy để xả, dùng xong biết vặn vòi không để nước chảy lãng
phí nhằm tiết kiệm điện..vv.. Lao động chăm sóc vật nuôi cây trồng như: tưới
nước, nhổ cỏ cho cây, cho rau.v.v.
Giáo dục trẻ lao động vệ sinh môi trường như: Lau chùi đồ chơi, sắp xếp gọn
gàng, ngăn nắp, nhặt rác, nhặt lá, thu gom lá cây ở sân trường bỏ vào thùng rác
chung của trường… và lồng ghép vào tất cả các hoạt động trong ngày.
Hình ảnh các cháu nhặt lá cây và thu gom rác thải trên sân
trường
2.3.5.Tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
Khi xây dựng kế hoạch cùng chuyên môn về nội dung giáo dục bảo vệ

cầu trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh trường lớp sạch sẽ, không hái hoa bẻ cành cây
xung quanh trường lớp. Thông qua chủ đề trẻ biết cùng cô sắp xếp đồ chơi, làm
đồ chơi trang trí lớp, lau chùi bàn ghế, trồng thêm cây xanh góc thiên nhiên.
Chủ đề: Bản thân bé:
Chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ biết lợi ích của việc giữ gìn vệ sinh thân
thể, vệ sinh môi trường đối với sức khoẻ con người. Trẻ có hành vi và thói quen
tốt trong ăn uống: mời cô, mời bạn, không ăn quà vặt ngoài đường… Nhận biết
ký hiệu thông thường: Nhà vệ sinh nam nữ, thùng đựng rác.. và biết tránh một số
vật dụng, nơi nguy hiểm đối với bản thân: dao, kéo, ổ cắm điện, ao, hồ…
Chủ đề : Gia đình thân yêu của bé
Chỉ đạo giáo viên giúp trẻ thấy được sự thay đổi của môi trường xung
quanh nhà của trẻ, nhận biết được môi trường sạch, môi trường bẩn trong gia
đình. Biết quý trọng giữ gìn đồ dùng trong gia đình, cất đồ dùng, đồ chơi đúng
chỗ, bỏ rác đúng nơi quy định, không khạc nhỗ bừa bãi… có ý thức về những
điều nên làm như: Khoá vòi nước không sử dụng, tắt điện khi đi ra khỏi phòng.
Chủ đề: Thế giới thực vật:
Chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ biết quá trình phát triển của cây ích lợi của
cây xanh với môi trường sống và biết chặt phá rừng bừa bãi làm cho môi trường
ô nhiễm, thiên tai xẩy ra nhiều và nghiêm trọng ảnh hưởng tới đời sống của con
người.
Qua chủ đề giáo viên giúp trẻ biết được sự phát triển của cây xanh, tận
dụng các nguồn nguyên liệu từ thiên nhiên làm một số đồ chơi như: con trâu,
chong chóng, đồng hồ, và các vỏ cây khô, lá khô cắt dán, xé dán thành những
bức tranh tạo hình rất sinh động, đẹp mắt.
Chủ đề: Thể giới động vật :
Thực hiện chủ đề “Động vật sống dưới nước” chỉ đạo giáo viên giáo dục
trẻ bảo vệ nguồn nước, giữ nguồn nước sạch để loài động vật dưới nước được
8



dục trẻ biết yêu thiên nhiên gần gũi thân thiện với môi trường, mong muốn được
tham gia bảo vệ môi trường, rèn trẻ có kĩ năng giữ gìn bảo vệ môi trường. Trong
quá trình tổ chức hoạt động ngoài trời, đây là phần lồng ghép các hình ảnh cụ
thể sinh động. Có thể chỉ cho trẻ xem 1 số hình ảnh lá dụng xuống sân trường,
xe đi trên đường xả khói, bay bụi … nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường,
chỉ cho trẻ thấy đó là môi trường bẩn. Qua đó giáo dục trẻ phải làm gì? Từ đó
giáo viên thường xuyên củng cố kiến thức bảo vệ môi trường trong nhà trường,
gia đình, xã hội.
* Lồng ghép giáo dục thông qua hoạt động góc:
Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục trẻ qua hoạt động góc vì hoạt động
góc mang tính tích hợp cao trong giáo dục trẻ, thông qua các trò chơi phân vai,
trẻ đóng vai và thể hiện các công việc của người làm công tác bảo vệ môi trường

9


như: Trồng cây, chăm sóc cây, nhặt rác… xung quanh khu vực của lớp, giáo viên
hướng dẫn cho trẻ đóng vai bác sĩ đa khoa khám chữa bệnh cho mọi người, chú
ý giữ gìn vệ sinh phòng khám, xử lý rác thải y tế…
Trong trò chơi gia đình: giáo viên giáo dục trẻ phải dọn dẹp nhà cửa, lau
chùi nền nhà sạch sẽ, quần áo gấp gọn gàng, ngăn nắp đi mua đồ dùng gia đình
giữ gìn không rơi vỡ, quét mạng nhện… trước khi ăn phải rửa tay…
Trò chơi nấu ăn: cô giáo tập cho trẻ làm món ăn đơn giản, làm xong chú ý
vệ sinh nhà bếp và dụng cụ vừa làm sạch sẽ. ở các góc hoạt động khác giáo viên
cũng phải lồng giáo dục vệ sinh và bảo vệ môi trường cho trẻ.
Thông qua tổ chức giờ ăn, giờ ngủ của trẻ.
Đây là hoạt động nhằm hình thành các nề nếp thói quen trong sinh hoạt,
đáp ứng sinh lý, trẻ được vui vẻ và thoải mái như: Giáo viên rèn cho trẻ được
hoạt động lao động kê bàn ghế ngay ngắn, biết lấy đĩa đựng cơm rơi vãi và đĩa
đựng khăn ướt lau tay. Trước khi ăn ra xếp hàng để rửa tay bằng xà phòng theo


Phát động giáo viên toàn trường tận dụng các nguyên vật liệu, phế thải
làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ để thực hiện trong giờ học và hoạt động góc. Mỗi
chủ đề phát động giáo viên làm một bộ đồ chơi khác nhau.
Giáo viên huy động trẻ đem những đồ phế thải từ gia đình như: vỏ chai
nước khoáng, vỏ chai nước rửa chén, vỏ chai nước lau sàn, vỏ hộp sữa
chua,v..v..đem đến lớp để làm đồ chơi.
Giáo viên hướng dẫn trẻ cùng làm đồ chơi trong giờ hoạt động góc, hoạt
động chiều mọi lúc, mọi nơi thành những sản phẩm đồ dùng, đồ chơi phong phú,
hấp dẫn, phục vụ cho các hoạt động học và chơi của trẻ góp phần nâng cao chất
lượng giờ học của trẻ và qua đó giúp trẻ biết cách sử dụng rác thải, phân loại rác
thải nào là vật liệu có ích,và hình thành ở trẻ thói quen bảo vệ môi trường.
Hình ảnh cô giáo hướng dẫn trẻ làm đồ chơi trong giờ hoạt động góc
Ngoài ra, nhà trường còn tổ chức cho giáo viên thi làm đồ dùng, đồ chơi
từ nguyên vật liệu phế thải vào đầu tháng 11 để lấy thành tích chào mừng ngày
Nhà giáo Việt nam 20/11.Thông qua hội thi này giúp giáo viên có ý thức được
việc làm đồ chơi từ nguyên vật liệu phế thải.Đây là một việc làm hết sức thiết
thực vừa bảo vệ môi trường vừa có đồ dùng đồ chơi phong phú lạ mắt giúp trẻ
hứng thú hơn trong các hoạt động học tập cũng như hoạt động vui chơi
Trong hội thi này nhà trường đã chọn được:1 giải nhất là đ/c Lê Thị Tuấn,
2 giải nhì là đ/c Lê Thị HoaB và Lê Thị Tâm Long , 2 giải ba là đ/c Đỗ Thị Sự
và Đinh Thị Thạch .
Thông qua hội thi này khuyến khích tất cả giáo viên tích cực làm đồ
dùng,đồ chơi. Nhất là đồ dùng, đồ chơi được làm từ nguyên vật liệu phế thải,vừa
góp phần bảo vệ môi trường vừa tiết kiệm được tiền mua sắm đồ dùng đồ chơi
cho nhà trường.
Năm học 2015- 2016 Phòng giáo dục và đào tạo Hoằng Hóa tổ chức hội
thi làm đồ dùng đồ chơi. Trường mầm non Hoằng Phúc đạt giải Ba của
Huyện.Trong đó có một bộ đồ chơi chủ đề phương tiện giao thông được giáo
viên tận dụng vỏ hộp nước rửa bát và vỏ cuộn chỉ, bìa cát tông, ống nước, que

cùng nhau giáo dục trẻ để trẻ có những hành vi phù hợp với môi trường và cũng
đồng thời kêu gọi phụ huynh phân loại rác thải tại nhà và tận dụng những phế
thải như: Vỏ chai rửa bát, vỏ hộp sữa chua, vỏ chai nước ngọt.... để trẻ mang đến
lớp cùng cô tạo ra những đồ dùng,đồ chơi có ích phục vụ cho các giờ học,giờ
chơi của trẻ.
Trong năm học 2016- 2017 nhà trường đã tổ chức hội thi “ Bé khoẻ- Bé
khéo tay” với 20 trẻ 5-6 tuổi tham gia
Từ kiến thức đã được học và từ rèn luyện của cô giáo ,các cháu đã làm
những bức tranh tạo hình từ các mảnh giấy vụn,vỏ cây,lá cây khô để xé dán,cắt
dán thành bức tranh sinh động có hồn,hoặc có cháu dùng vỏ hộp sữa chua,xốp
vụn làm thành con vật rất ngộ nghĩnh vv..
Thông qua hội thi nhằm tuyên truyền đến các bậc phụ huynh cũng như
các cấp lãnh đạo thấy được việc làm cũng như chất lượng giáo dục trẻ của nhà
trường,qua hội thi cũng nhằm kêu gọi sự ủng hộ giúp đỡ của địa phương cũng
như các bậc phụ huynh quan tâm hơn nữa đến ngành học mầm non. Ngoài ra
nhà trường còn tổ chức hội thi giáo viên giỏi trường để kiểm tra lại sự nắm bắt
của giáo viên về thực hiện nội dung giáo dục và bảo vệ môi trường, giáo viên
nào thực hiện tốt thì nên phát huy,giáo viên nào còn lúng túng trong cách tổ
chức thì tôi trực tiếp góp ý cho giáo viên thực hiện cho hợp lý, phù hợp.
Hội thi làm đồ chơi
2.3. 8. Kiểm tra thường xuyên, đột xuất ở các khối lớp
Ngay từ đầu năm học chúng tôi đã xây dựng kế hoạch kiểm tra việc giáo
dục trẻ bảo vệ môi trường ở các nhóm lớp bằng nhiều hình thức, kiểm tra
thường xuyên, kiểm tra đột xuất. Kiểm tra 100% giáo viên; mỗi giáo viên kiểm
tra 2 lần/năm.
Việc kiểm tra đột xuất một số nội dung: Kiểm tra việc thực hiện chương
trình, kiểm tra hồ sơ, giáo án, Kiểm tra kỹ năng của trẻ.
12



3
4
5
6

Biết chăm sóc và bảo vệ cây
cối, vật nuôi
Biết giữ gìn trật tự, vệ sinh
công cộng và vệ sinh trường
lớp
Biết cất dọn đồ dùng, đồ chơi
đúng nơi quy định
Phân biệt được những hành vi
đúng, hành vi sai với môi
trường
Biết tiết kiệm điện, nước khi sử
dụng và tắt khi sử dụng
Nhắn nhủ mọi người không
được xả rác bừa bãi

220 trẻ

202

91%

18

9%


220 trẻ

200

90%

20

10%

220 trẻ

200

90%

20

10%

Bằng những kinh nghiệm chỉ đạo và sử dụng các biện pháp trên, trường
mầm non chúng tôi đã đạt được một số kết quả như sau:
* Đối với giáo viên;
100% giáo viên đã biết cách lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào
với nội dung chăm sóc,giáo dục bảo vệ môi trường vào với nội dung chăm sóc
giáo dục trẻ một cách linh hoạt và đạt hiệu quả.
Đa số giáo viên đã biết tận dụng nguyên vật liệu phế thải để làm đồ dùng,đồ
chơi cho trẻ và giáo dục trẻ biết cách làm đồ chơi,

13

Trẻ đã biết động viên bố mẹ cùng tham gia như: Nhắc bố mẹ không đi xe máy,
xe đạp vào sân trường làm bụi bẩn sân trường, nhắc bố mẹ thu gom phế liệu, vỏ
lọ dầu gội để làm đồ dùng, đồ chơi trang trí góc tuyên truyền. Trẻ tự phát triển
ngôn ngữ mạch lạc, rõ ràng lưu loát đủ câu trong khi giao tiếp, khi đàm thoại.
Tự có hành vi thái độ mong muốn được bảo vệ môi trường một cách rõ rệt.
* Đối với phụ huynh học sinh.
Tham gia đầy đủ các hội nghị cha mẹ trẻ, tham gia trồng, chăm sóc vườn
rau sạch, vườn cây ở sân trường. Tuyên truyền về nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường đến cộng đồng .
Phụ huynh rất phấn khởi yên tâm khi thấy con em mình có ý thức bảo vệ
môi trường, không những ở trường mà còn ở trong gia đình nên đã đóng góp

14


tranh ảnh có nội dung về môi trường, các vỏ hộp rửa bát, dầu gội …cho giáo
viên và các cháu làm đồ dùng, đồ chơi. Bản thân các bậc phụ huynh cũng có ý
thức cao và trách nhiệm cao hơn rất nhiều về việc bảo vệ môi trường trong và
ngoài trường mầm non như không vứt rác bừa bãi ở sân trường, không mang đồ
ăn ở nhà đến trường như; bim bim, bánh, kẹo …
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Trong quá trình chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt nội dung giáo dục và bảo
vệ môi trường để đạt được kết quả cao thì việc đầu tiên người quản lý phải tích
cực tham mưu với lãnh đạo địa phương, các bậc phụ huynh đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất tạo khuôn viên, môi trường, trường lớp học thông thoáng, rộng rãi
cho cô và trẻ thực hiện.
Nắm vững được các nguyên tắc tích hợp nội dung giáo dục và bảo vệ môi
trường để chỉ đạo giáo viên lồng ghép vào với nội dung giáo dục sao cho phù
hợp với chủ đề,chủ điểm, phù hợp với từng môn học,với từng hoạt động trong

trường.
3.2 Kiến nghị
Đối với phòng giáo dục và đào tạo:
Mở các lớp chuyên đề, tập huấn cho giáo viên rèn luyện thêm các kỹ
năng về giáo dục bảo vệ môi trường. Mở các lớp tập huấn về giáo dục bảo vệ
môi trường cho giáo viên tìm hiểu và tăng thêm kiến thức.
Đầu tư thêm kinh phí cho ngành học mầm non và hỗ trợ thêm các trang thiết bị
có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường như: Đĩa DVD, tập san… về nạn phá
rừng, rác thải, khí thải, khói bụi…
Phát động phong trào sáng tác thơ ca, truyện kể, trò chơi, câu đố… hội thi của
giáo viên, hội thi cháu, hội giảng có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường.
Đối với UBND xã Hoằng Phúc :
Cần quan tâm sâu sắc đến ngành học mầm non, tuyên truyền trên các
thông tin đại chúng, các buổi họp giao ban với trường các ban ngành đoàn thể và
tìm ra những giải pháp tốt nhất tránh tình trạng gây ô nhiễm đồng thời có biện
pháp sử lý phân loại rác thải kịp thời. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, các trang
thiết bị đồ dùng đồ chơi và tạo khuôn viên của trường xanh- sạch –đẹp tạo môi
trường cho trẻ được hoạt động học tập và vui chơi sạch sẽ, khoa học.
Đối với phụ huynh học sinh:
Cần phối kết hợp với nhà trường quan tâm đến việc chăm sóc và giáo dục
trẻ đặc biệt là giáo dục trẻ có ý thức bảo vệ môi trường.
Đóng góp kinh phí hỗ trợ nhà trường xây dựng cơ sở vật chất tạo môi
trường xanh- sạch –đẹp cho trẻ hoạt động.
Đối với giáo viên:
Phải có trách nhiệm tuyên truyền và phối kết hợp với phụ huynh cũng như
nhân dân có ý thức bảo vệ môi trường như: Sử dụng các loại thuốc trừ sâu, thuốc
bảo vệ thực vật, khi sử dụng xong phải có túi đựng và thu gom chai lọ để đúng
nơi quy định. Phát động phong trào trồng cây xanh, tạo môi trường xanh-sạchđẹp cho trường, lớp.
Thường xuyên khơi thông cống rãnh, vệ sinh sạch sẽ gốc cây, mái hiên và
bố trí lớp học khoa học, gọn gàng phù hợp với chủ đề.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status