MỤC LỤC
CẤU TRÚC
A. MỞ ĐẦU
TRANG
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
II. Thực trạng
III. Các biện pháp thực hiện
IV. Hiệu quả
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
II. Kiến nghị
2
2
3
3
3
3
4
14
15
15
đề tài sáng kiến kinh ngiệm “Một số biện pháp khắc phục tình trạng viết sai
chính tả cho học sinh lớp 3 của Trường Tiểu học Hoằng Lý "
II. Mục đích nghiên cứu.
- Điều tra lỗi chính tả cơ bản thường hay mắc phải của học sinh; nguyên nhân
của các lỗi đó nhằm đề xuất một số biện pháp phắc phục lỗi chính tả cho học sinh
lớp 3 trường Tiểu học Hoằng Lý.
- Vận dụng các nguyên tắc dạy trong phân môn Chính tả hình thành kĩ năng
viết đúng chính tả cho học sinh tiểu học.
- Lập kế hoạch dạy học theo hướng đổi mới phương pháp và nội dung bài dạy
cho sát thực với việc rèn chính tả cho học sinh địa phương.
III. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 3B trường Tiểu học Hoằng Lý.
IV. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điểu tra, quan sát.
- Phương pháp kiểm tra, thống kê kết qua.
- Phương pháp lập kế hoạch bài học.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
2
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm. Do đó việc
viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng. Tuy nhiên do
yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi mỗi khác. Mặc dù những quy tắc, quy ước
về chính tả được thống nhất theo ngữ pháp chung. Nhưng việc “viết đúng chính tả”
cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp tôi nói riêng còn nhiều khó khăn,
tồn tại. Vì vậy, mỗi giáo viên và học sinh cần phải nổ lực để khắc phục tồn tại trên.
Người giáo viên muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng phải thông
qua năng lực viết đúng chính tả của các em. Vì vậy mỗi thầy, cô giáo cần phải nhiệt
chế về học và viết chính tả của học sinh.
- Việc chấm bài của học sinh được giáo viên thực hiện thường xuyên, song
việc liệt kê lỗi và yêu cầu học sinh sửa lỗi thì chưa thực sự cụ thể.
Năm học 2016-2017 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3B với sĩ số 21 học
sinh. Trong những tuần đầu làm chủ nhiệm, tôi nhận thấy chữ viết của các em còn
xấu, lỗi chính tả rất nhiều. Từ kết quả chấm “Vở sạch chữ đẹp” giữa kì I của nhà
trường, tôi đã thống kê kết quả xếp loại chữ viết môn Chính tả của học sinh như
sau:
Tổng số HS
Loại A
21
SL
6
TL
28,6%
Xếp loại
Loại B
SL
TL
11
52,4%
Loại C
SL
4
TL
2. Rèn nề nếp tư thế cho học sinh khi ngồi viết chính tả
Trước hết, muốn học sinh viết đúng, đẹp thì người giáo viên cần “Rèn nề
nếp tác phong cho học sinh khi viết”. Bởi tư thế ngồi viết của học sinh là cái
quan trọng đầu tiên giúp học sinh có nét chữ đẹp và đúng. Vì vậy, ngay từ
buổi ban đầu bước vào lớp, tôi chú ý ngay đến tư thế ngồi viết cho từng
em. Để giúp các em biết ngồi ngay ngắn khi viết, trước hết giáo viên phải
giải thích cho các em hiểu cần ngồi viết đúng tư thế để giúp chữ viết đẹp
hơn, đúng hơn, có lợi cho sức khỏe và ngược lại, nếu ngồi xiêu vẹo người
thì sẽ bị tật vẹo cột sống hoặc nếu các em nhìn sát vào vở quá thì mắt sẽ bị
cận thị… Sau đó, giáo viên làm mẫu cho học sinh quan sát và làm theo.
Trong các tiết dạy chính tả, tôi luôn nhắc nhở để các em nhớ và ngồi đúng,
tạo thói quen cho học sinh khi viết bài. Bạn nào ngồi đúng tư thế tôi
khuyến khích tuyên dương ngay trước lớp.
3. Luyện phát âm
Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện phát
âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các dấu thanh, các âm đầu, âm chính, âm
cuối vì chữ Quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với
nhau. Nếu giáo viên chưa phát âm chuẩn, do ảnh hưởng của cách phát âm ở địa
phương thì các em cũng có thói quen phát âm sai dẫn đến hiện tượng viết sai chính
tả.
4. Phân tích so sánh
Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, khâu phân tích so sánh tiếng,
từ cũng rất quan trọng trong giờ học chính tả: với những tiếng khó, giáo viên áp
dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh. Với những tiếng dễ lẫn lộn, giáo
viên cần nhấn mạnh những điểm khác để học sinh ghi nhớ.
* Ví dụ : Dạy bài Chính tả (Tập chép): Cậu bé thông minh – TV3 -Tập 1, tr.4
+ sắc ≠ sắt: sắc là sắc bén còn sắt là thanh sắt (vật kim loại).
+ xẻ (thịt chim) ≠ sẻ: xẻ là mổ xẻ, bổ ra còn sẻ là chim sẻ, san sẻ.
5
sim; sung; sắn, su su, ..
Hiện tượng tự nhiên: sao; sương; sấm;...
Chỉ đồ vật:
hòn sỏi; cái sọt; sợi dây...
Chỉ con vật:
cá sấu; con sóc; con sên, sư tử, sói...
Trừ ngoại lệ: xưởng; cái xe; cái xuồng; cây xoan; cây xoài; trạm xá;
mùa xuân.
6
Để nhớ được ngoại lệ này tôi đưa ra cho học sinh một câu ngộ nghĩnh
dễ nhớ như: " Mùa xuân đi xuồng gỗ xoan, mang xoài đến xã đổi xẻng ở
xưởng để đem cho trạm xá."
+ Tên các thức ăn thường đi với x
Như: xôi; xốt vang; xúc xích; xà lách...
Phụ âm đầu x thường đi với vần có âm đệm như vần oa; oac; oach;
oai; oam; oan; oang; oay; oăn; oe; oen; oet...
Ví dụ: xoa bóp; xoạc chân; loảng xoảng, lốc xoáy, loẹt xoẹt...
+ Để phân biệt r/d/gi
r và gi không kết hợp với âm đệm (trừ ngoại lệ "cu roa ")
d thường đi với vần có âm đệm như oa; oe;uê; uy...
Như: dọa dẫm; hậu duệ; kinh doanh, duy nhất...
+ Lớp bì bọc ngoài cơ thể động vật; thực vật ghi là d
Ví dụ: màu da; da thịt; da cam...
+ Viết gi với nghĩa thêm vào
Ví dụ: gia hạn; gia vị...
+ Để phân biệt tr/ch
- Những từ chỉ quan hệ gia đình thường viết là ch
các hiện tượng chính tả trong bài viết, từ đó giúp các em dễ khắc sâu, nhớ
cách viết đúng, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho các em khi viết chính tả.
Khi dạy phần luyện viết đúng (viết những tiếng các em dễ viết sai)
cho các em luyện viết vào bảng con. Tôi chú trọng đến các quy tắc chính
tả như: Khi nào viết c/k/q; g/gh; ng/ngh...
* Khi đứng trước nguyên âm i; e; ê
- Âm "cờ"viết là k
- Âm "gờ" viết là gh
- Âm "ngờ" viết là ngh
* Khi đứng trước các nguyên âm còn lại
- Âm "cờ" viết là c
- Âm" gờ" viết là g
- Âm"ngờ" viết là ng
* Khi đứng trước âm đệm viết là u, thì âm "cờ" viết là q
* Luật trầm – bổng (luật hỏi – ngã trong từ láy):
Có thể cho học sinh học thuộc hai câu thơ sau:
Chị Huyền mang Nặng Ngã đau
Anh Ngang, Sắc thuốc Hỏi đau chỗ nào.
Nghĩa là: Thanh Huyền, Nặng, Ngã kết hợp với dấu Ngã.
Thanh Ngang, Sắc, Hỏi kết hợp với dấu Hỏi.
Ví dụ: Âm trầm
+ Huyền – Ngã: vững vàng, vẽ vời, vồn vã, lững lờ, sẵn sàng,…
+ Nặng – Ngã: đẹp đẽ, nhẹ nhõm, mạnh mẽ, lạnh lẽo, vội vã,…
+ Ngã – Ngã: dễ dãi, lẽo đẽo, nhõng nhẽo, mũm mĩm, nghễnh ngãng,…
+ Ngang – Hỏi: vui vẻ, nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo,…
8
+ Sắc – Hỏi: vắng vẻ, mát mẻ, nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vất vả,…
+ Hỏi – Hỏi: hổn hển, lỏng lẻo, thỏ thẻ, thủ thỉ, rủ rỉ,…
Tay …iêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm
Hai con mắt mở, ta nhìn
Cho sâu, cho …áng mà tin cuộc đời.
9
- Dạy Chính tả (Nghe – viết) : Ông ngoại (đoạn 3) - TV3, Tập 1, tr. 35
Nội dung viết: Ông còn nhấc bổng tôi trên tay, cho gõ thử vào mặt da loang lổ
của chiếc trống trường.
Một số học sinh viết sai lỗi “da” viết là “gia”, cũng có em viết là “ra”. Tôi phân
biệt cho các em biết nghĩa của hai từ da và gia: da viết là d – với các nghĩa có liên
quan tới “da thịt”, trong “da dẻ”; còn gia viết là gi trong các trường hợp còn lại,
với các nghĩa là “nhà” (gia đình), chỉ người có học vấn, chuyên môn (chuyên gia),
nghĩa khác (gia vị, gia súc,…) Sau phần bài viết tôi tự ra bài tập để các em hiểu
thêm. Nội dung bài tập như sau:
- Điền vào chỗ trống r, d hay gi ?
+ …a vào; …a dẻ;…a đình.
+ …a rả; …a thịt, tham …a.
- Điền vào chỗ trống en hay eng ? (BT 2b – TV 3, tập 1, tr. 41)
+ Tháp Mười đẹp nhất bông s…
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.
+ Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây ch…đá lá ch…hoa .
- Điền vào chỗ trông iên hay iêng ? (Bài tập 2b – TV3, Tập 1, tr. 56)
Trên trời có g….. nước trong
Con k… .. chẳng lọt, con ong chẳng vào.
- Điền vào chỗ trống en hay oen ? (Bài tập 2 – TV3, Tập 1, tr. 60)
- nhanh nh.....; ..... miệng cười, sắt h….gỉ; h....nhát
7.2. Bài tập tìm từ
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ
Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã ? Giải câu đố sau:
Vừa dài mà lại vừa vuông
Giúp nhau ke chỉ, vạch đường thăng băng
(Là cái gì?)
Ngoài ra giáo viên phải kết hợp cho học sinh biết xây dựng cái đúng, loại bỏ
cái sai. Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những qui tắc chính tả, hướng dẫn học
sinh thực hành, luyện tập nhằm hình thành kĩ năng viết đúng chính tả, cần đưa ra
những trường hợp viết sai để hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó
hướng học sinh đi đến cái đúng.
7.5. Bài tập lựa chọn
Bài tập 3b) - TV3, Tập 1, tr. 132
Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống trong các câu sau:
- (bão, bảo) : Mọi người ….. nhau dọn dẹp đường làng sau cơn …..
- (vẽ, vẻ) : Em ….. mấy bạn …..mặt tươi vui đang trò chuyện.
- (sữa, sửa): Mẹ em cho em bé uống ….. rồi …..soạn đi làm.
7.6. Bài tập đặt câu (Bài tập phân biệt)
Với dạng bài tập này sang HKII, học sinh làm quen với bài tập: Tập đặt câu để
phân biệt hai từ trong từng cặp từ để hiểu nghĩa của từng cặp từ.
Bài tập 3b) - TV3, Tập 2, trang 48 (Tuần 23).
11
Đặt câu phân biệt hai từ trong từng cặp từ sau:
+ trút – trúc; lụt – lục
Ví dụ: + trút: Trời mưa như trút nước.
+ trúc: Bố em có cây sáo trúc.
+ lụt: Năm nay ở nước ta có nhiều lũ lụt.
+ lục: Bé lục tung đồ đạt trong nhà.
* Một số bài tập ngoài giờ học chính khóa (Giờ thực hành Tiếng Việt)
Ngoài các bài tập trên, giáo viên còn tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi
B
a. mong
tròn
(1)
b. rau
khổ
(2)
c. cuộn
muốn (3)
d. khuôn
cau
(4)
e. buồng
muống (5)
Đáp án: a - 3 ; b - 5 ; c - 1; d - 2 ; e - 4
12
* Bài tập phát hiện
Tìm từ sai chính tả trong các câu sau và sửa lại cho đúng:
a) Dẫu các cháu không dúp gì được, nhưng ông cũng thấy lòng nhẹ hơn.
b) Một ngôi xao chẳng sáng đêm.
c) Chỉ có vần trăng vẫn thao thức như canh gát trong đêm.
d) Anh cảm thấy dễ chiệu và đầu óc bớt căng thẳng.
e) Hôm đó, ông lão đang ngồi sưỡi lửa thì con đem tiền về.
Đáp án: Các từ viết sai chính tả trong các câu trên là: dúp, xao, gát, chiệu,
sưỡi,
8. Tổ chức dạy học tiết Chính tả ở lớp
8.1. Hướng dẫn viết và chữa bài:
* Chuẩn bị và nghe viết chính tả:
IV. HIỆU QUẢ
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh ngiệm “Một số biện pháp khắc phục tình
trạng viết sai chính tả cho học sinh lớp 3 " đã nêu ở trên, tôi nhận thấy năng lực
viết chính tả của học sinh được nâng lên rõ rệt. Các em không chỉ có ý thức viết
đúng chính tả mà còn có ý thức rèn luyện chữ viết. Từng bài viết của học sinh luôn
được trình bày sạch đẹp, chữ viết đúng quy định. Chính nhờ viết chính tả đúng và
đẹp nên lớp tôi được nhà trường đánh giá là lớp dẫn đầu trong phong trào “Giữ vở
sạch-rèn chữ đẹp”. Đặc biệt là trong lần kiểm tra “Vở sạch, chữ đẹp” của Phòng
giáo dục Thành phố vào ngày 23/3/2017 kết quả đạt như sau:
Tổng số HS
Loại A
21
SL
12
TL
56%
Xếp loại
Loại B
SL
TL
10
44%
Loại C
SL
0
còn phải khích lệ, động viên học sinh phải kiên trì, chăm chỉ rèn luyện mới đạt kết
quả tốt.
II. Kiến nghị
1. Đối với giáo viên:
- Cần có kế hoạch rèn học sinh viết đúng chính tả ngay từ đầu năm học.
- Rèn cho mình cách phát âm chuẩn, đúng từ ngữ phổ thông. Nắm vững nguyên
tắc chính tả, mẹo chính tả để viết chuẩn.
- Thường xuyên chấm chữa bài cho học sinh, nêu rõ các lỗi sai cơ bản của các
em, tìm biện pháp khắc phục kịp thời.
2. Đối với nhà trường: Thường xuyên tổ chức kiểm tra nề nếp “Vở sạch-chữ
đẹp” định kì 4 lần/năm để tạo sự thi đua giữa các lớp. Kết quả đó được coi là tiêu
chuẩn để đánh giá thi đua trong năm học của giáo viên và của lớp.
3. Đối với Phòng giáo dục: Tiếp tục triển khai và đẩy mạnh chuyên đề “Nói
chuẩn- viết chuẩn” đối với giáo viên và học sinh trong các nhà trường. Bên cạnh
đó nên tổ chức nhiều chuyên đề về các đề tài khoa học hay sáng kiến kinh nghiệm
“Nói chuẩn – viết chuẩn” của cá nhân, tập thể được Hội đồng khoa học cấp Thành
phố đánh giá cao.
Để hoàn thành đề tài này, bản thân đã có nhiều cố gắng, song trình độ và kinh
nghiệm của bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì thế, tôi
rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học cấp trên và của các
bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.
15
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Hoằng Lý, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh
Kết quả
Năm học
17
PGD
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)
B
2003-2004
PGD
A
2004-2005
PGD
C
2013-2014
PGD
C
2015-2016
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Một số biện pháp nâng cao tính hiệu
quả của hoạt động Đội trong trường
tiểu học.
Một số kinh nghiệm bồi dưỡng Ban chỉ
huy Liên Đội trong trường tiểu học
Rèn kĩ năng giải toán về tỉ số
phần trăm cho học sinh lớp 5
Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập
Tiếng việt cho học sinh lớp 5.