Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán cho học sinh lớp 2 - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN
-----------*&*------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 2

Người thực hiện: Hoàng Thị Loan
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác:Trường Tiểu học Xuân Trường-Thọ Xuân
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán

THANH HÓA NĂM 2017
1


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả: HOÀNG THỊ LOAN
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường Tiểu học Xuân Trường.

TT

Tên đề tài SKKN


Phòng
GD&ĐT
Thọ Xuân

C

2009-2010

3.

Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc
cho học sinh lớp 2

Phòng
GD&ĐT
Thọ Xuân

C

2014-2015

4.

Một số biện pháp nâng cao chất
lượng giải toán cho học sinh lớp 2

Phòng
GD&ĐT
Thọ Xuân



3

2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

3

2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

4

a. Về giáo viên

4

b. Về học sinh

4

2.3. Một số giải pháp giúp học sinh rèn kỹ năng giải toán có lời văn ở
lớp 2.

5

1. Giải pháp 1: Trang bị quy trình cho các dạng bài tập.

5

a. Để học sinh có kỹ năng vận dụng trực tiếp việc giải toán ở các
dạng bài có chứa chất văn tôi cung cấp cho học sinh quy trình chung


a. Dạng 1: Bài toán giải bằng một phép tính (nói chung)

15

b. Dạng 2: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị.

15

c. Dạng 3: Giải các bài toán liên quan hình học

16

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
3.KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

17
18

3.1. Kết luận

18

3.2. Kiến nghị

18
3



giải, học sinh khi làm bài thường mắc sai lầm, có lúc không biết giải quyết vấn
đề này ra sao, không nắm được bản chất, cái đặc điểm chung, không biết phân
loại các dạng bài và tìm thủ thuật giải tương ứng với các dạng đó. Từ đó việc
tìm hiểu những khó khăn sai sót trong việc giải toán là điều cần thiết nên làm.
Qua đó giúp người giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy và các biện pháp để
giúp học sinh giải quyết khó khăn, vướng mắc trong khi giải toán. Hạn chế
mức thấp nhất những sai sót có thể có nơi học sinh. Đồng thời cũng giúp học
4


sinh có phương pháp học đúng đắn, nắm vững cách giải từng dạng toán, làm
cho các em nắm được tri thức một cách nhẹ nhàng và hiệu quả. Vì vậy, thời
gian chủ yếu để dạy - học toán lớp 2 là thời gian thực hành luyện tập về tính,
về đo lường, về giải toán… Cho nên quá trình dạy học toán góp phần thiết
thực vào việc hình thành phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập và
phương pháp chủ động làm việc có khoa học, có sáng tạo cho học sinh.
Để làm được điều này, việc rèn luyện kỹ năng luyện tập thực hành giải
toán cho học sinh lớp 2 là cực kỳ quan trọng và đó cũng là lý do tôi chọn đề tài:
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán cho học sinh lớp 2” để
nghiên cứu tìm hiểu.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
- Góp phần vào việc đổi mới dạy học tích cực nói chung và dạy học tích
cực trong môn Toán nói riêng.
- Nâng cao trình độ, phương pháp về nội dung dạy học giải Toán có lời
văn ở lớp 2 cho bản thân. Cũng đồng nghiệp nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm,
góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học.
- Giúp học sinh đổi mới cách học theo tinh thần chủ động, tích cực, giúp
học sinh có điều kiện học tập tốt hơn, tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của
bài học. Từ đó nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học môn Toán ở
trường Tiểu học.

Đối với chương trình Toán 2 là kế thừa và phát triển của toán lớp 1. Trong
đó các bài toán có lời văn được mở rộng và nâng cao hơn tạo ra những khó khăn
trong quá trình dạy của giáo viên và học của học sinh.
Nói như vậy bởi vì học sinh khi tiếp xúc với các bài toán có lời văn các
em phải đọc kỹ toàn bộ bài toán để hiểu được ý nghĩa của từng câu, từng từ
trong bài toán. Từ đó đưa ra cách giải hoàn toàn dựa vào chữ viết (khác với cách
giải với các con số ở các lớp đầu cấp).
Đối với học sinh Tiểu học, học toán đã khó, học giải toán có lời văn lại
càng khó hơn. Bởi vì, những bài toán có lời văn là những bài toán yêu cầu phải
có sự tư duy trừu tượng. Học sinh phải suy nghĩ, phân tích, phán đoán để tìm ra
cách giải. Chính vì vậy, những bài toán có lời văn thường được coi là bài: “
Toán đố”. Nhiều học sinh có thể làm thành thạo các bài toán về số nhưng khi
đứng trước những bài toán có lời văn thì lại lúng túng không biết phải làm như
thế nào. Vì vậy, việc giúp học sinh làm tốt các bài toán có lời văn đòi hỏi người
giáo viên phải có một phương pháp dạy toán sao cho phát huy được óc sáng tạo,
tính độc lập, tự chủ của học sinh.
Ngoài ra đối với việc dạy và học toán có lời văn lớp 2, chúng ta phải làm
cho học sinh nắm vững được từng dạng toán và những khái niệm cụ thể tương
ứng với mỗi dạng toáng đó. Ở mỗi dạng chúng ta cần có những phương pháp
ngắn gọn, cụ thể nhất để hướng dẫn học sinh sinh chỉ ra cách trình bày dễ hiểu
nhất cho mỗi dạng. Tuy nhiên cũng có những bài nêu ra, học sinh không nhận
diện được bài toán đó thuộc dạng nào. Như vậy chắc chắn các em sẽ không giải
được. Để hiểu được sâu sắc, chúng tôi tìm hiểu về kinh nghiệm dạy và học giải
toán lớp 2 hiện nay.
6


2. 2. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở
LỚP 2
a. Về giáo viên:

Tổng số học sinh
24 em

Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

SL

%

SL

%

SL

%

3

12,5

17

70,9

4

Hòa có

:

4 bông hoa

Bình nhiều hơn Hòa:

2 bông hoa

Bình có

: ... bông hoa?

(Dạng bài toán giải bằng một bước tính nhằm giúp học sinh chọn 1 phép
tính cộng)
VD 2: Vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà
Mai 7 cây cam. Hỏi vườn nhà Hoa có mấy cây cam?

8


Tóm tắt:
17 cây
Vườn nhà Mai:
Vườn nhà Hoa:

7 cây
? cây


** Đặt câu lời giải thích hợp.
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước vô cùng
quan trọng và khó khăn nhất đối với học sinh lớp 2. Chính vì vậy việc hướng
dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khăn lớn đối với
người dạy. Tùy từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các cách hướng dẫn
sau:
Cách 1: ( Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất): Dựa vào câu hỏi
của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu ” hỏi” và từ ” bao nhiêu” rồi thay từ ” bao nhiêu”
là từ ”số” thay dấu chấm hỏi bằng từ ” là” để có câu lời giải: Mẹ mua về số ki –
lô- gam gạo nếp là:
Cách 2: Nêu miệng câu hỏi để học sinh trả lời miệng: Số ki – lô – gam
gạo nếp mẹ mua về là: rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải ( gồm có câu
hỏi, câu lời giải và phép tính).
Tóm lại: Tùy từng đối tượng , từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các
em cách lựa chọn, đặt câu lời giải cho phù hợp.
Trong một bài toán, học sinh có thể có nhiều cách đặt khác nhau như hai
cách trên. Song trong khi giảng dạy, ở mỗi một dạng bài cụ thể tôi đưa cho các
em suy nghĩ thảo luận để tìm ra các câu lời giải đúng và hay nhất phù hợp với
câu hỏi của bài toán đó.
* Trình bày bài giải.
Qua tìm hiểu bài toán học sinh vận dụng các phương pháp để trình bày bài
giải sao cho được kết quả đúng.
Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học,
đẹp mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học. Muốn thực hiện được yêu
cầu này trước tiên người dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo hướng dẫn
quy định.
Song song với việc hướng dẫn ccas bước thực hiện, tôi thường xuyên trình
bày bài mẫu trên bảng và yêu cầu học sinh quan sát, nhận xét về cách trình bày
để từ đó học sinh quen nhiều với cách trình bày. Bên cạnh đó tôi còn thường
xuyên chấm, chữa bài và sửa lỗi cho những học sinh trình bày chưa đẹp, tuyên

b. Vận dụng quy trình chung để giải các bài toán ở mỗi dạng:
Để giúp học sinh viết vận dụng quy trình giải toán có lời văn ở mỗi dạng
trong SGK toán 2 tôi đã chọn một số ví dụ điển hình cho dạng tôi đang đề cập
tới trong đề tài này.
* Dạng 1: Bài toán giải bằng một phép tính (nói chung)
Ví dụ: (Bài số 4 trang 31)
Tòa nhà thứ nhất có 16 tầng, tòa nhà thứ hai có ít hơn tòa nhà thứ nhất 4
tầng. Hỏi tòa nhà thứ hai có bao nhiêu tầng?
Dụng ý bài tập này: Nhằm giúp học sinh vận dụng tri thức vừa học (lý
thuyết mà giáo viên vừa cung cấp, thông qua luyện tập thực hành rèn luyện kỹ
năng giải toán)
11


+ Cách rèn luyện: Để học sinh vận dụng linh hoạt và có sáng tạo cách giải
đúng và biết trình bày bài giải giáo viên cần giúp học sinh thầy được về mặt
trừu tượng của bài toán. . Để biết được tòa nhà thứ hai có bao nhiêu tầng ta
phải làm như thế nào? Học sinh thực hiện được phép trừ: 16 - 4 = 12 ( tầng).
Ở chỗ này nếu giáo viên không giúp thì học sinh dễ nhầm lẫn phép tính cộng.
Vậy để các em giải đúng theo quy trình tôi hướng dẫn các em làm theo
các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề toán: học sinh đọc thật kỹ đề toán
Hỏi 1: Bài toán cho biết cái gì? (Tòa nhà thứ nhất có 16 tầng, tòa nhà thứ
hai ít hơn tòa nhà thứ nhất 4 tầng.)
Hỏi 2: Bài toán hỏi gì? (Tòa nhà thứ hai có bao nhiêu tầng).
Tóm tắt:

16 tầng

Tòa nhà thứ nhất:

* Dạng 2: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
Các bài toán ở dạng này giúp học sinh biết cách giải các bài toán liên
quan đến rút về đơn vị. Từ đó rèn luyện học sinh kỹ năng thành thạo giải được
các bài toán trong SGK Toán 2 và trong thực tiễn cuộc sống.
VD 1: (Số 2 trang 118)
Có 32 học sinh xếp thành 4 hàng đều nhau. Hỏi mỗi hàng có mấy học sinh?
Dụng ý bài tập này: Nhằm giúp học sinh nắm được quy trình giải sau khi
đã lĩnh hội tri thức vừa học xong. Thông qua luyện tập thực hành rèn luyện kỹ
năng giải toán, hoặc từ một bài toán đã cho biến đổi thành các bài toán mới.
Bước 1: Tìm hiểu bài toán: Học sinh đọc thật kỹ bài toán
Hỏi: Bài toán đã cho biết gì? (Có 32 học sinh xếp thành 4 hàng đều nhau )
Hỏi: Yêu cầu chúng ta tìm cái gì? (Mỗi hàng có mấy học sinh)
Tóm tắt:

32 học sinh xếp : 4 hàng
Mỗi hàng có: ? học sinh

Bước 2: Tìm đường lời giải
+ Muốn biết được mỗi hàng có bao nhiêu học sinh. Bước này gọi là bước
rút về đơn vị. Học sinh chọn phép tính và thực hiện phép tính: (32 : 4 = 8 (học
sinh)
Bước 3:Trình bày bài giải
Bài giải
Số học sinh của mỗi hàng là:
32 : 4 = 8 ( học sinh )
Đáp số: 8 học sinh
Bước 4: Thử lại: 32 : 4 = 8 ; 4 x 8

= 32


Bước 3: Trình bày bài giải
Bài giải
Chu vi hình tam giác là:
7 + 10 + 13 = 30 (cm)
Đáp số: 30 cm
Dựa vào bài toán trên tôi có thể phát triển thành các bài toán mới bằng
cách thay đổi dự kiện bài toán (hoặc giả thiết).
Ví dụ: (Bài 2 trang 130).
Tính chu vi hình tứ giác có độ dài các cạnh là: 3dm, 4 dm, 5 dm và 6dm.
14


Dụng ý của bài tập này: Nhằm giúp học sinh thành thạo trong việc áp
dụng công thức tính chu vi hình tứ giác thông qua luyện tập giải toán, học sinh
biết được mối quan hệ đo độ dài.
Bước 1: Tìm hiểu đề:
Cho học sinh đọc thật kỹ đầu bài toán.
- Bài toán đã cho biết cái gì? (Cạnh của hình tứ giác là 3dm, 4 dm, 5 dm
và 6 dm).
- Bài toán yêu cầu tìm gì? (chu vi hình tứ giác).
Muốn tìm chu vi hình tứ giác ta phải làm như thế nào? Ta tính tổng độ dài
các cạnh của hình tứ giác (học sinh thực hiện phép tính cộng 3 + 4 + 5+ 6 =
18(dm).
Bước 2: Trình bày bài giải:
Bài giải:
Chu vi hình tứ giác là:
3 + 4 + 5 + 6 = 18 (dm).
Đáp số: 18 dm
2. Giải pháp 2:


Buổi chiều cửa hàng bán được số ki – lô – gam đường là:
85 + 15 = 100 ( kg )
Đáp số: 100 kg đường
Bước 4: Thứ lại: 85 + 15 = 100 ; 100 – 15 = 85
85 + 15 = 100 (đúng)
Từ bài toán trên để học sinh đại trà nêu được và giải được bài toán theo sơ
đồ tôi có thể gợi ý cho học sinh nêu 2 bài toán đơn sau đó tổng hợp lại sẽ có bài
toán hợp như sơ đồ cho trước.
Mục đích để mỗi người đều được hoạt động học.
b. Dạng 2: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
Để học sinh có kỹ năng giải các bài toán này được thành thạo tôi đưa ra
một số bài tập để rèn kỹ năng giải toán cho các em được tốt hơn.
Bài số 2 ( T 113)
Bài toán: Có 24 học sinh chia đều thành 3 tổ. Hỏi mỗi tổ có mấy học sinh?
Bước 1: + Bài toán cho biết gi? (có 24 học sinh : chia thành 3 tổ)
+ Bài toán phải tìm gì? ( mỗi tổ có mấy học sinh)
Bước 2: + Tính số học sinh mỗi tổ: ( 24 : 3 = 8 ( học sinh))
Bước 3:

Bài giải
Mỗi tổ có số học sinh là:
24 : 3 = 8 ( học sinh)
Đáp số: 8 học sinh

Bước 4: Thử lại: 24 : 3

= 8 ;

8 x 3 = 24
24 : 3 = 8 (đúng)

Bước 2: Tìm đường lối giải
a/ Áp dụng công thức: Học sinh thực hiện phép tính:
3 + 4 + 5 + 6 = 18 (dm)
b/ Áp dụng công thức: Học sinh thực hiện phép tính:
10 + 20 + 10 + 20 = 60 (cm)
Bước 3: Trình bày bài giải
Bài giải
a/ Chu vi hình tứ giác là
3 + 4 + 5 + 6 = 18 (dm)
Đáp số: 18 dm
b/ Tương tự bài (a) học sinh tự trình bày bài giải (bước 3)
17


Bước 4: Học sinh tự kiểm tra việc tính toán của mình
Yêu cầu tất cả học sinh đều phải giải được (Học sinh đại trà)
Như vậy việc tìm ra cách giải của bài toán sẽ góp phần hình thành và
củng cố cho học sinh về tính chất và mối quan hệ giữa các phép tính số học.
Đồng thời sẽ giúp học sinh tích luỹ được nhiều kinh nghiệm giải toán.
3. Giải pháp 3: Ứng dụng vào việc giải các bài tập trong sách giáo
khoa toán 2 và thực tiễn đời sống.
Để rèn luyện kỹ năng giải toán thành kỹ xảo giải toán cho học sinh tôi đã lựa
chọn một số bài tập mang tính điển hình cho mỗi dạng toán mang tính văn có trong
SGK toán 2 cũng như bài toán trong thực tiễn đời sống nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho các em trong cách học môn Toán có khoa học hơn đặc biệt là với những học
sinh có năng khiếu học toán là cơ hội để bộc lộ tài năng của mình.
a. Dạng 1: Các bài toán giải bằng một phép tính (nói chung)
Bài toán mới 1: Bao gạo to cân nặng 25 kg, bao gạo bé cân nặng 10kg.
Hỏi cả hai bao gạo cân nặng bao nhiêu ki – lô – gam?
Bài giải

Mỗi tổ được số tờ báo là:
24 : 4 = 6( tờ báo)
Đáp số: 6 tờ báo.

c. Dạng 3: Giải các bài toán liên quan hình học
Bài (Số 3 trang 90) Tính chu vi hình tam giác có độ dài các cạnh là 12 cm,
16 cm, 20 cm.
- Học sinh vận dụng công thức để tính
Bài giải
Chu vi hình tam giác là:
12 + 16 + 20 = 48 (cm)
Đáp số: 48 cm
Bài 2: Một hình vuông có cạnh 200cm. Hỏi hình vuông đó có chu vi là
bao nhiêu mét? ( giải bằng hai cách).
Bài giải
Đổi 200 cm = 2m
Cách 1: Chu vi hình vuông là: 2 + 2 + 2 + 2 = 8 ( m)
Cách 2: Chu vi hình vuông là: 2 x 4 = 8 ( m)
Đáp số: 8m
Như vậy, việc rèn luyện kỹ năng giải toán và cách trình bày bài giải các bài toán
trong SGK và các bài toán trong thực tiễn đời sống như trên đã giúp cho học
sinh huy động những kiến thức đã học vào thực hành giải toán, bằng các phương
pháp giải mà chọn cho mình con đường ngắn nhất, hay nhất để đi đến kết quả
19


của bài toán. Từ đó mà tạo điều kiện cho các em biết vận dụng các kiến thức kỹ
năng kỹ xảo giải toán để giải toán ví dụ như các em biết tính được chu vi…
đồng thời tạo cơ hội cho học sinh có năng khiếu học toán bộc lộ được khả năng
của mình.


15

62,5

9

37,5

0

0

Có được kết quả như vậy một phần nhờ tinh thần học tập tích cực, tự giác
của học sinh, sự quan tâm nhắc nhở của phụ huynh học sinh, bên cạnh đó là các
biện pháp giáo dục đúng lúc , kịp thời của giáo viên.
Như vậy, việc tìm ra được những cách giải khác nhau của một bài toán góp
phần hình thành và củng cố cho học sinh về cách thực hiện các phép tính số học
(“cộng”, “trừ”, “nhân”, “chia”), đồng thời phát triển năng lực tư duy, khả năng
suy luận và óc sáng tạo. Hình thành ở các em phương pháp học tập và làm việc
tích cực, chủ động và theo dõi. Việc rèn luyện kỹ năng, phát triển các bài tập cho
từng đối tượng học sinh là việc làm rất quan trọng và cần được đông đảo giáo
viên quan tâm.
Mặt khác, việc rèn luyện kỹ năng giải toán và cách trình bày bài giải các
bài toán trong SGK và các bài toán trong thực tiễn đời sống như trên đã giúp cho
học sinh huy động những kiến thức đã học vào thực hành giải toán, bằng các
phương pháp giải, bằng nhiều cách giải mà chọn cho mình con đường ngắn
nhất , hay nhất để đi đến kết quả của bài toán. Từ đó mà tạo điều kiện cho các
em biết vận dụng các kiến thức kỹ năng kỹ xảo giải toán và tạo cơ hội cho các
em có năng khiếu tóan bộc lộ được khả năng của mình

các bài tập trong SGK và một số bài toán trong đời sống thực tiễn.
5/ Sử dụng nhiều hình thức linh hoạt để thu hút học sinh vào giải toán.
6/ Việc dạy học môn toán nhằm bảo đảm tính khoa học, tính chính xác,
tính sư phạm, giáo viên cần phát huy tính chủ động, sáng tạo, tư duy lôgíc của
học sinh và không ngừng nâng cao trình độ về toán học và phương pháp dạy
học. Qua nghiên cứu dạy học, học tập các tài liệu có liên quan đến chương trình,
nội dung giảng dạy.
3. 2. KIẾN NGHỊ.
Từ thực tế giảng dạy, tôi có một số đề xuất sau:
21


- Sau mỗi dạng toán mới, giáo viên nên giao bài tập cho học sinh để các
em làm bằng cách đặt các đề tương tự và giải. Để các em quen dần với việc giải
toán có lời văn nhằm giúp trí tuệ các em được phát triển hơn.
- Để việc dạy môn Toán đảm bảo tính khoa học, tính chính xác và phát
huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh, giáo viên cần tự học tự bồi
dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để có những phương pháp dạy học phù
hợp nhất, học sinh dễ dàng nhận thức nhất.
- Các cấp ngành giáo dục cần thường xuyên mở các hội thảo về đổi mới
phương pháp dạy học để giáo viên có điều kiện giao lưu, học hỏi lẫn nhau.
Mặc dù sáng kiến đã hoàn thành và bản thân tôi khi viết sáng kiến này đã
có nhiều cố gắng; song do thời gian, do khả năng và kinh nghiệm còn hạn chế
nên sáng kiến không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong sự góp ý của các đồng
chí trong hội đồng khoa học của nhà trường, các bạn bè đồng nghiệp sáng kiến
này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thọ Xuân, ngày 19 tháng 5 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

8. Bài tập bổ trợ và nâng cao Toán 2 – tác giả: Đỗ Trung Hiệu, Vũ Văn
Dương – NXB Đại học Sư phạm .
9. 36 đề ôn luyện Toán 2 – tác giả: Vũ Dương Thụy, Nguyễn Ngọc Hải,
Đỗ Văn Thụy – NXB Giáo dục Việt Nam 2012.
10. Tuyển tập các bài toán đố - Tác giả: Huỳnh Quốc Hùng – Nguyễn
Như Quang – NXB ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status