Vận dụng thi pháp thơ đường hướng dẫn học sinh lớp 7 đọc hiểu bài hồi hương ngẫu thư của hạ tri chương - Pdf 43

1. MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHON ĐỀ TÀI
Trải qua nhiều thế kỉ với biết bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, đất nước
Trung Hoa rộng lớn đã hình thành và phát triển một nền văn hóa phong phú,
đậm đà bản sắc dân tộc, trở thành đỉnh cao của văn hóa nhân loại, đặc biệt là
trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Nhắc đến văn học nghệ thuật Trung Hoa,
người ta nhớ ngay đến thơ Đường với những tên tuổi từng được mệnh danh là
Tiên thơ, Thánh thơ với những bài thơ làm nao lòng bao thế hệ người đọc. Dù đã
hơn một nghìn năm trôi qua nhưng hiện nay thơ Đường vẫn được hàng triệu
người trân trọng, thưởng thức, ngâm ngợi. Có được điều đó là bởi lẽ thơ Đường
không chỉ chan chứa tính nhân văn, đầy ắp tình người, tình đời mà còn bởi
những cảm xúc của các thi nhân đời Đường thực sự đã chạm được vào trái tim
của người đọc, thật sự trở thành “những sự kiện tâm hồn” của độc giả nhiều thế
hệ.
Nói về thơ Đường, tất cả các nhà phê bình văn học đều công nhận rằng,
đời Đường (618-907) là thời đại hoàng kim của thi ca Trung Quốc và Đường thi
chính là đỉnh cao của văn học Trung Hoa nói riêng, văn học nhân loại nói
chung. Ở đó có sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp hình thức lẫn vẻ đẹp nội dung.
Với đất nước Việt Nam, thơ Đường là thành tựu văn học nhân loại có ảnh hưởng
sâu rộng nhất đến văn nền văn học nước nhà. Từ chỗ là một thể loại du nhập
của nước ngoài, thơ Đường luật đã được Việt hóa trở thành một thể thơ quan
trọng trong sáng tác của người Việt. Vì thế, việc học tập thơ Đường cũng là một
cách để chúng ta hiểu sâu hơn về thế giới nghệ thuật của các nhà thơ cổ điển
Việt Nam.
Từ bao đời nay, thi ca nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người bằng những ý tứ
ngọt ngào, những dòng thơ đẹp. Đường thi tuy ra đời cách chúng ta hàng ngàn
năm nhưng thật sự là những vần thơ đẹp, đẹp cả về nội dung lẫn hình thức. Đến
với Đường thi là chúng ta đến với những tình cảm đầy tính nhân văn như tình
yêu quê hương, đất nước, tình cảm bạn bè, gia đình, đến với những khát vọng
cao đẹp của cả một thế hệ nho sĩ luôn khao khát nhập thế giúp đời… Tuy nhiên,
để những vần thơ ấy thực sự đến được với các em, trở thành những “sự kiện tâm

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là vận dụng những kiến thức từ cuốn
Thi pháp thơ Đường tìm ra hướng khai thác bài thơ Hồi hương ngẫu thư một
cách hiệu quả nhất. Từ đó nâng cao chất lượng giờ học, giúp học sinh có hứng
thú và học tốt hơn các bài thơ Đường khác trong SGK Ngữ văn 7, tập 1.
Những kinh nghiệm khi dạy bài thơ này cũng sẽ được tôi sử dụng để dạy
các bài thơ Đường khác cũng như các bài thơ trung đại Việt Nam sáng tác theo
luật Đường.
- Đối với học sinh:
Việc vận dụng Thi pháp thơ Đường vào dạy bài Hồi hương ngẫu thư giúp
cho học sinh có thể cảm thụ bài thơ một cách có hệ thống hơn. Nói cách khác là
các em biết bám vào các tín hiệu nghệ thuật trên văn bản để cảm thụ giá trị của
bài thơ, tránh được hiện tượng diễn nôm thơ vẫn xảy ra lâu nay. Mặt khác, nếu
giờ dạy thành công ngoài việc cảm thụ tốt bài thơ này các em còn có thể vận
dụng để cảm thụ các bài thơ Đường khác và cả những bài thơ Trung đại Việt
Nam viết theo luật Đường vì những tín hiệu thi pháp có trong bài thơ này cũng
sẽ thể hiện ở những bài thơ khác. Ngoài ra, việc vận dụng đề tài này, tôi nhận
2


thấy học sinh không còn thái độ chán nản trong khi tiếp thu những kiến thức thơ
Đường, trái lại các em có hứng thú hơn, tích cực hơn trong giờ học.
- Đối với giáo viên:
+ Về mặt phương pháp: Việc vận dụng Thi pháp thơ Đường vào dạy bài Hồi
hương ngẫu thư giúp bản thân tôi đảm bảo phương pháp dạy văn bản theo đúng
đặc trưng thể loại, đảm bảo những nguyên tắc cơ bản khi khai thác văn bản thơ
nước ngoài là vừa bám vào nguyên tác vừa tham khảo phần dịch nghĩa và bản
dịch thơ.
+ Về nội dung: Việc vận dụng Thi pháp thơ Đường giúp tôi xác định được tín
hiệu nghệ thuật cần khai thác trong bài thơ là gì, tránh được cách khai thác
chung chung mang tính diễn nôm bài thơ, đảm bảo chú trọng ba trọng điểm cần

sống bằng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học. Hệ thống đó có thể
chia tách thành các phương diện yếu tố như thể loại, kết cấu, không gian, thời
gian, ngôn ngữ...
Thi pháp thơ Đường là một chuyên đề nghiên cứu một cách hệ thống đặc
trưng của các yếu tố như hình tượng thẩm mĩ (con người), không gian thời gian
nghệ thuật, ngôn ngữ, kết cấu, thể loại của thơ Đường.
Đặc điểm đầu tiên của thơ Đường là thơ Đường phong phú về đề tài, chủ
đề, trong đó đề tài viết về quê hương, tình quê chiếm một vị trí khá quan trọng.
Đặc điểm cơ bản về nghệ thuật Thơ Đường là tư duy quan hệ.. Nhà thơ đời
Đường thường ít khi nói hết, nói trực tiếp ý của mình mà chỉ tạo nên các mối
quan hệ để gợi sự liên tưởng của độc giả để rồi từ đó độc giả cảm nhận được
dụng ý của thi nhân. Và vì tư duy quan hệ này nên khi hướng dẫn học sinh đọc
hiểu thơ Đường cần phát hiện ra những mối quan hệ đó tức là phải dành thời
gian cho học sinh suy nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng. Ngoài ra, trong thơ Đường
nhan đề thường được xem là một tín hiệu nghệ thuật. Hướng dẫn đọc hiểu cần
giúp học sinh hiểu được ý nghĩa nhan đề của từng bài thơ. Cảm xúc trong Thơ
Đường thường là những giây phút “ đốn ngộ”, “bừng tỉnh” (Chữ dùng của giáo
sư Nguyễn Thị Bích Hải) của thi nhân trước cuộc sống, trước thiên nhiên hoa cỏ
nên trọng tâm của bài thơ, ý tình của tác giả phần lớn rơi vào câu thơ kết. Do đó
khi hướng dẫn đọc hiểu cũng cần chú ý đến câu thơ kết.
Về thể loại: Thơ Đường thường sử dụng các thể thơ sau:
+ Ngũ ngôn cổ thi, Thất ngôn cổ thi, thể này không có luật lệ nhất định, không
hạn định số câu. Cách gieo vần rất rộng rãi, uyển chuyển. Có thể dùng một vần,
nhiều vần hoặc không hiệp vần, có thể dùng vần chính, vần thông hoặc vần
4


chuyển. Ngoài ra thể này không theo niêm, luật, cũng không bắt buộc phải đối
ngẫu. Những bài làm theo thể này gọi là cổ thi, thể này xuất hiện vào đời Hán.
+ Ngũ ngôn luật thi, Thất ngôn luật thi, ở thể này yêu cầu trong một câu, bằng

thoảng có vần trắc, vần gieo ở cuối câu 1 và cuối tất cả các câu chẵn 2, 4, 6, 8
(riêng những chữ cuối câu 1 có thể không gieo vần).
2. 1. 3. Hạ Tri Chương và bài thơ “Hồi hương ngẫu thư”.
Hạ Tri Chương (659- 744), tự Quý Chân người quê Vĩnh Hưng thuộc Việt
Châu (nay thuộc huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang) khi từ quan về làng tự xưng
5


là Tứ Minh cuồng khách, là nhà thơ đời Đường, Trung Quốc.
- Đời Đường Trung Tông, Hạ Tri Chương đỗ tiến sĩ vào năm 695, được
bổ làm Thái thượng bác sĩ. Trong thời Khai nguyên, đời vua Đường Huyền
Tông, ông làm Lễ bộ thị lang kiêm Tập hiền viện học sĩ, đổi làm Thái tử tân
khách, rồi Bí thư giám. Đầu đời Thiên bảo, ông xin từ quan về làm đạo sĩ.
- Hạ Tri Chương là bạn vong niên với Lý Bạch. Ông hơn Lí Bạch đến hơn
bốn chục tuổi nhưng hai người kết bạn rất thân. Hạ Tri Chương giỏi về văn từ,
có tài hùng biện, kiến thức uyên bác và có một trí nhớ vô cùng đặc biệt, tính tình
phóng khoáng, thích đàm tiếu, làm quan lâu năm vì "hoảng sợ bệnh tật" và "rất
muốn về làng" nên sau một thời gian dài làm quan ở Trường An, ông đã về thăm
quê.
- Ông mất năm 86 tuổi. Thơ văn ông phần nhiều phục vụ cung đình. Có
một số bài thơ xuất sắc phải kể đến là bài Hồi hương ngẫu thư . Ông sáng tác
những bài này khi ông cáo lão trở về cố hương sau hơn năm mươi năm xa cách.
Lúc này, ông đã tám mươi sáu tuổi, cuộc đời đã có biết bao thay đổi, lòng lão thi
nhân vô hạn bồi hồi. Bài thơ gợi lên một bức tranh sinh hoạt giản dị, hồn nhiên,
lời thơ cũng rất bình dị như giọng nói chân chất của quê nhà nhưng lại là bài thơ
xuất thần của cảm xúc, chạm được vào trái tim của biết bao thế hệ bạn đọc.
2. 2 . Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2. 2. 1. Vị trí của thơ Đường và bài thơ Hồi hương ngẫu thư trong chương
trình Ngữ văn THCS
Trước đây, thơ Đường đưa vào sách giáo khoa văn 9. Không ít giáo viên

phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ... Qua các bài kiểm tra về thơ Đường, học sinh
cảm nhận về nội dung, nghệ thuật còn mơ hồ, mang tính diễn xuôi thơ mà chưa
biết khai thác các tín hiệu nghệ thuật trong bài thơ để khái quát giá trị nội dung
và nghệ thuật của tác phẩm.
- Khảo sát thực trạng:
Khi chưa áp dụng kinh nghiệm này, qua kiểm tra chất lượng bài 45 phút, tôi thu
được kết quả như sau: (Lớp 7A và lớp 7B)
Lớp
7A
7B

TS
22
22

G
0
0

%
0
0

K
5
2

%
22,72
9,1



nhàm chán cho học sinh và học sinh chưa cảm nhận được những giá trị nội dung
cũng như nghệ thuật của bài thơ.
+ Về phía học sinh: Phần thơ Đường đưa vào chương trình ngữ văn 7 là
hơi cao so với nhận thức của học sinh, nhất là học sinh ở những vùng khó khăn
về kinh tế cũng như về vị trí địa lí như học sinh ở trường chúng tôi.. Các tài liệu
nghiên cứu cũng như dùng để tham khảo trong nhà trường còn nhiều hạn chế
nên học kiến thức của học sinh về thơ Đường nói chung, bài Hồi hương ngẫu
thư nói riêng còn hạn chế.
+ Học sinh cho rằng thơ Đường rất khó hiểu, khó cảm nhận cảm thấy
chán nản không hứng thú học thơ Đường nói chung cũng như không hứng thú
học bài Hồi hương ngẫu thư nói riêng.
2. 3. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2. 3. 1. CÁC PHƯƠNG PHÁP CŨ ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ DẠY BÀI HỒI HƯƠNG
NGẪU THƯ CỦA HẠ TRI CHƯƠNG.
a, Cách xử lí văn bản: Trước đây khi dạy bài Hồi hương ngẫu thư, tôi thường
sử dụng văn bản dịch thơ là chính, có tham khảo bản phiên âm nhưng không
đáng kể. Về ưu điểm của sự lựa chon này, tôi thấy là dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc vì
phần lớn đã được chuyển sang từ thuần Việt. Và do đó, học sinh cảm nhận khá
dễ dàng mạch cảm xúc, hình ảnh thơ, nội dung ý nghĩa của bài thơ. Hơn nữa,
những bản dịch thơ được lựa chọn trong sách giáo khoa phần lớn là những bản
dịch tương đối sát. Bản thân học sinh cũng có hứng thú hơn với bản dịch thơ mà
ít quan tâm đến bản phiên âm hay dịch nghĩa. Tuy nhiên, sự lựa chọn này tôi
thấy vẫn có hạn chế đó là thơ vốn là cảm xúc của từng cá nhân, cảm xúc của
người dịch và cảm xúc của tác giả nhiều khi không giống nhau nên có những
chỗ người dịch chưa thể chuyển tải hết tình ý của tác giả. Vì thế mà khi hướng
dẫn học sinh đọc - hiểu tôi thường bỏ quên nhiều từ ngữ quan trọng trong
nguyên tác mà bản dịch thơ đã bỏ qua hoặc chưa chuyển tải hết nghĩa...
b. Về các tín hiệu nghệ thuật cần khai thác:

BÀI HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ CỦA HẠ TRI CHƯƠNG
a. Những nguyên tắc chung.
- Phải cho học sinh trực tiếp tiếp xúc với tác phẩm:
Đây là một yêu cầu nghiêm ngặt đối với cả giáo viên và học sinh khi dạy,
học tác phẩm văn chương nói chung. Và đối với bài thơ này thì yêu cầu học sinh
cần đọc phiên âm, phần dịch nghĩa rồi mới đến phần dịch thơ.
- Cần tìm hiểu rõ những vấn đề liên quan đến tác phẩm:
Sự hiểu biết về tác giả, về thời đại, về đất nước sản sinh ra tác phẩm,
những đặc sắc về thiên nhiên, về tập tục xã hội nhất là về tâm lí dân tộc sẽ giúp
cho học sinh hiểu và cảm nhận tốt về tác phẩm. Hơn nữa, tác phẩm văn chương
bao giờ cũng ra đời vào một hoàn cảnh nhất định trong một bối cảnh lịch sử
nhất định. Phân tích thơ, trước hết và chủ yếu phải bám vào ngôn từ tác phẩm.
Tuy nhiên, có những trường hợp, việc hiểu biết về thân thế tác giả và hoàn cảnh
ra đời của tác phẩm có thể giúp ích rất nhiều trong việc phân tích, cảm thụ cũng
như xác định ý nghĩa, giá trị tác phẩm. Dạy thơ Đường cũng không ngoại lệ,
việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử, thân thế tác giả là một yêu cầu quan trọng nên
nhất thiết chúng ta phải tìm hiểu nó.
Ở phần này trong bài “ Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương, việc
giới thiệu tác giả và hoàn cảnh ra đời của bài thơ vô cùng quan trọng. Bởi, việc
Hạ Tri Chương gần như cả đời sống xa quê và chuyến về thăm quê sau mấy
chục năm xa cách là đầu mối cho câu chuyện thật xúc động được thể hiện bằng
9


thơ về một con người trở thành khách lạ ngay trên chính quê hương mình trong
mấy chục năm xa cách và đó cũng chính là một trong những yếu tố tạo nên nét
độc đáo cho bài thơ này. Ở đây, ngoài phần tác giả mà sách giáo khoa đã dẫn,
cần giúp học sinh có thêm một số kiến thức về tác giả Hạ Tri Chương cũng như
hoàn cảnh ra đời của bài thơ mà quan trọng nhất là chuyến về thăm quê sau
nhiều năm xa cách của tác giả.

xúc của bài thơ.

10


+ Chú ý tìm hiểu ý nghĩa nhan đề của bài thơ đặc biệt là chú ý vào cụm từ “
Ngẫu nhiên viết” từ đó xác định mạch cảm xúc của bài thơ.
+ Khai thác nghệ thuật đối và tác dụng của nghệ thuật đối trong việc thể hiện
cảm xúc của nhà thơ. Từ đó nhận ra những dấu hiệu thi pháp của thơ Đường
được thể hiện trong bài thơ.
+ Chú trọng phân tích ý nghĩa của câu thơ cuối bài thơ để nhận ra vai trò của câu
thơ này trong bài thơ. Từ đó nhận ra trong thơ Đường nói chung trọng tâm của
bài thơ gần như rơi vào câu thơ kết. Trong thơ Đường câu kết khép lại lời bài
thơ nhưng lại khiến cho ý tình của bài thơ vang vọng mãi, neo lại sâu xa trong
lòng người đọc.
+ Cho học sinh so sánh bản dịch thơ và bản phiên âm, tìm ra những từ chưa
dịch sát và những “nhãn tự” của bài thơ”.
+ Tìm hiểu sánh những câu thơ, những bài thơ có cùng chung đề tài để nhận ra
nét độc đáo rất riêng của bài thơ, nhận thấy lí do vì sao bài thơ lại có sức sống
lâu bền và sâu sắc trong lòng người đọc như vậy.
- Cho học sinh nhận xét về ngôn ngữ của bài thơ.
2. 3. 3. NHỮNG BƯỚC THỰC HIỆN CỤ THỂ ( GIẢI PHÁP CỤ THỂ)
Hoạt động 1: Tìm hiểu tác giả và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm: Trong bước
này giáo viên cần chú ý khái quát được các nội dung sau:
Về tác giả: Giáo viên cần chú trọng vào ý “Cả cuộc đời Hạ Tri Chương gần
như sống xa quê hương, ông rời quê nhà khi còn rất trẻ nhưng khi trở về thì đã
là một lão quan tám mươi sáu tuổi. Hơn năm mươi năm xa cách nay mới có dịp
trở về lòng lão quan thật xúc động, bồi hồi”
Về hoàn cảnh sáng tác: Sách giáo khoa Ngữ văn 7 - tập 1 có nhắc đến thời
điểm sáng tác bài thơ này, đó là sau cả một đời làm quan gần năm mươi năm,

Thao tác bốn: Tiếp đến cho học sinh quan sát bản phiên âm, dịch nghĩa và dịch
thơ để nhận ra từ ngữ nào bản dịch thơ chưa sát, từ ngữ quan trọng nào người
dịch đã bỏ qua. Trong phần này học sinh cần nhận ra bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ
và Trần Trọng San tuy dịch tương đối sát nhưng cả hai bản dịch mất chữ mai
trong tóc mai tức là chưa nhấn mạnh vào sự thay đổi như trong phần phiên âm.
Ngoài ra ở bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ: Câu 3 dịch chưa sát. Phiên âm câu 3: Nhi
đồng tương kiến, bất tương thức (từ bất tương thức nghĩa là : không quen biết )
Phạm Sĩ Vĩ dịch: “không chào”. Như vậy, câu thơ đã giảm nghĩa đi đáng kể. Tác
giả về quê hương của mình nhưng không gặp ai quen biết cả chỉ gặp trẻ con,
chúng không biết ông là ai tưởng là khách phương nào đến mới hỏi ông. “Tiếu
vấn: Khách tòng hà xứ lai ?”.
Hoạt động 3 : Hướng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản
Thao tác một : Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nhan đề của bài thơ.
Như trên đã nói nhan đề bài thơ này rất đặc biệt, nó là một tín hiệu nghệ thuật
hàm chứa nhiều giá trị nội dung. Vì vậy ở đây chúng tôi sử dụng những câu hỏi
sau:
H1: Em hãy giải nghĩa từ ngẫu thư? Em hiểu ngẫu nhiên viết nghĩa là thế
nào? Tại sao lại là ngẫu nhiên viết?
Nguyên tác ngẫu thư nghĩa là ngẫu nhiên viết chứ không phải tình cảm bộc lộ
một cách ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên viết vì tác giả không chủ định làm thơ ngay
lúc mới đặt chân tới quê nhà. Tác giả không chủ định viết và vì sao lại viết, đến
lúc đọc xong bài thơ, chúng ta mới rõ. Tình huống đầy kịch tính cuối bài (tác giả
bị gọi là khách) là một cú sốc thực sự đối với tác giả, nhưng đó chính là duyên
cớ - mà duyên cớ thì bao giờ cũng có tính chất ngẫu nhiên. Tuy nhiên, nếu chỉ là
12


duyên cớ ngẫu nhiên thì bài thơ không thể hay, không thể rung động lòng người
như vậy được. Đằng sau nguyên cớ ngẫu nhiên ấy là một nhân tố, nói đúng hơn
là một điều kiện có tính tất yếu, đó là tình cảm quê hương sâu nặng, thường trực

Trong phần này chúng tôi sử dụng các câu hỏi sau:
H1: Biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng ở hai câu đầu? Tác dụng của biện
pháp nghệ thuật đó?
H2: Giọng quê và hình ảnh “tóc mai đã rụng” có nghĩa gì?

13


H3: Xa quê, ở con người nhà thơ, cái gì thay đổi theo thời gian, cái gì không
đổi? Sự thay đổi và không thay đổi có ý nghĩa như thế nào?
Sau khi học sinh trả lời, tôi khái quát lại nghệ thuật đối trong hai câu đầu cho
học sinh :
Thiếu tiểu li gia > < lão đại hồi.
Hương âm vô cải > < mấn mao tồi.
- Hướng dẫn học sinh nhận xét về nghệ thuật đối trong hai câu đầu
Trong hai câu đầu tác giả sử dụng nghệ thuật đối: đối vế câu, đối từ loại và đối
cú pháp. Trước hết, ta nhận thấy trong hai câu thơ trên” Thiếu tiểu li gia” đối với
“lão đại hồi”. “ Hương âm vô cải” đối với “ mấn mao tồi”. Đó là đối vế câu.
Trong hai câu này nếu xét về lời không bằng nhau nhưng xét về mặt cú pháp câu
thơ đối rất chỉnh cả ý và lời Thiếu tiểu đối với lão; hương âm đối với mấn mao;
li gia đối với đại hồi; vô cải đối với tồi). Xét về mặt chức năng ngữ pháp li gia
và đại hồi; vô cải và tồi đối nhau và đều là vị ngữ trong câu. Xét về từ loại thì
các từ thiếu tiểu đối với lão, li gia đối với đại hồi, vô cải đối với tồi. Đây là
những từ trái nghĩa đối với nhau.
- Học sinh nhận ra tác dụng của nghệ thuật đối trong hai câu thơ:
Nhờ phép đối, câu 1 đã làm thay đổi về vóc dáng, về tuổi tác của một con người
cả một đời xa quê, bước đầu hé lộ tình cảm xa quê hương của nhà thơ. Câu thứ
hai dùng một yếu tố thay đổi (mái tóc) để làm nổi bật yếu tố không thay đổi
(tiếng nói quê hương) qua đó gián tiếp khẳng định dù đi đến tận cùng trời, dù cả
đời sống xa quê thì tình quê, chất quê trong con người nhà thơ vẫn không bao

dịch thơ của Phạm Sĩ Vĩ và bản dịch của Trần Trọng San?
H2: Tình huống bất ngờ nào đã xảy ra khi nhà thơ vừa về đến làng? Theo em,
tình huống đó có hợp lí hay không?
H3: Tại sao lại có thể xảy ra chuyện như vậy? Việc bọn trẻ cười hỏi khách tác
động gì đến thái độ và tâm trạng của nhà thơ? Hãy hình dung thái độ của nhà thơ
lúc đó?
H4: Sự biểu hiện của tình quê hương ở hai câu trên và hai câu dưới có gì khác
nhau về giọng điệu?
Sau khi học sinh đã trả lời, giáo viên mở rộng cho học sinh: Tính độc đáo về mặt
nghệ thuật của hai câu cuối là ở chỗ tác giả đã dùng những hình ảnh vui tươi,
những âm thanh vui tươi để thể hiện tình cảm ngậm ngùi hụt hẫng, tủi lòng của
mình. Làng quê chỉ có nhi đồng ra đón, điều ấy chứng tỏ những người ở cùng
quê với nhà thơ nay chẳng còn ai. Bấy giờ sống được đến bảy mươi là đã liệt
vào Người thọ bảy mươi xưa nay hiếm! ( Nhân sinh thất thập cổ lai hi của Đỗ
Phủ trong bài Sông Khúc) ; tác giả đã 86 tuổi thì tình cảnh nêu trên là hoàn toàn
đúng sự thực. (Mà dẫu vài người sống sót thì cũng chưa chắc có nhận ra nhà
thơ). Trở về nơi chôn rau cắt rốn mà lại "bị" xem như "khách". Thật hụt hẫng
biết bao. Với lòng hiếu khách, các em nhi đồng đã niềm nở vui cười tiếp đón,
thật trớ trêu. Tình huống đặc thù ấy đã tạo nên màu sắc đặc biệt của hai câu thơ:
Một giọng điệu bi hài thấp thoáng ẩn hiện sau những lời tường thuật khách
quan, hóm hỉnh.
H5: Em có nhận xét gì về câu thơ cuối so với ba câu trên?
Câu hỏi này có thể hơi khó đối với học sinh giáo viên có thể gọi ý: “Ba câu trên
là là lời là tâm trạng của ai? Câu cuối chủ thể thay đổi như thế nào? Ý nghĩa
của sự thay đổi đó?
Sau khi học sinh trả lời giáo viên khái quát lại:

15



hai tình huống để bộc lộ tình quê khác nhau nhưng suy cho cùng đó đều là lời tạ
lỗi với quê hương của những đứa con cả đời vì mưu sinh mà phải li hương.
Ngoài ra tôi còn yêu cầu học sinh tìm không chỉ thơ Trung Quốc mà cả
thơ Việt Nam, hoặc các bài thơ của các tác giả nước ngoài khác , miễn sao cùng
chủ đề. Trong quá trình tìm kiếm như vậy đã giúp cho học sinh ít nhiều có được
sự hứng thú trong tiết học. Bản thân giáo viên có thể cung câp thêm câu thơ của
nhà thơ Khuất Nguyên thời Xuân Thu - Chiến Quốc
Hồ tử tất thủ khâu
16


Quyện điểu quy cựu lâm
( Cáo chết quay về núi cũ.
Chim mỏi bay về rừng xưa)
Hay:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
( Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.)
( Thôi Hiệu)
Và cả thơ ca Việt Nam:
Lòng quê gợn gợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
( Huy Cận)
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá.
( Tế Hanh)
Thao tác năm : Hướng dẫn học sinh tìm hiểu những dấu hiệu thi pháp của

trọng, đặc biệt là câu thơ kết, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình , thủ pháp vẽ mây nảy
trăng, bút pháp chấm phá...Tôi cũng nhắc các em quan tâm đích đáng đến hoàn
cảnh ra đời của bài thơ...
2. 4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC, VỚI BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG.
Năm học: 2015 - 2016 tôi được nhà trường phân công dạy một lớp văn 7.
Lúc đó, tôi chưa áp dụng cách dạy này và kết quả khảo sát học sinh rất thấp
nhưng năm 2016 - 2017 này, tôi đã áp dụng cách dạy trên. Thật vui mừng, tôi
thấy tiết học rất hứng thú đối với cả học sinh và giáo viên. Các em chủ động tìm
tòi, phát biểu, chăm chú lắng nghe phần mở rộng, chủ đề liên quan... của tôi.
Năm học 2016 - 2017 đạt cao hơn nhiều so với năm 2015 - 2016 không
áp dụng. Sau đây là kết quả khảo sát:
Năm học
2015 - 2016
2016 - 2017

TS
44
43

G
0
7

%
0
16,28

K
7



3. 1. KT LUN
Cảm nhận văn chơng thực chất là quá trình đi tìm hiểu
những giá trị của tác phẩm mà nhà văn, nhà thơ đã mã hoá
trong các ần số nghệ thuật. Vận dụng thi pháp thơ Đờng để
hớng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ Hồi hơng ngẫu th thực sự
là một cách giải mã đem lại nhiều cảm nhận thú vị cho ngời
đọc. Đó là cũng là con đờng để đi sâu khám phá những
chiều sâu giá trị của thi phẩm đặc biệt này.
Tiếp cận tác phẩm từ góc độ thi pháp và vận dụng những
đặc trng thi pháp thơ Đờng hớng dẫn học sinh đọc hiểu một
bài thơ Đờng cụ thể là một việc làm không quá khó đối với giáo
viên. Nó không chỉ đảm bảo phơng pháp dạy học theo đúng
đặc trng thể loại mà còn đem lại hiệu quả cao cho giờ học và
đặc biệt có tính khả thi tức là có thể áp dụng đợc với mọi đối
tợng học sinh lớp bảy và ở mọi vùng miền khác nhau. Trong thi
gian qua, tụi vn dng ti ny vo cụng tỏc ging dy ca mỡnh, mc dự ó cú
kh quan nhng bn thõn tụi nhn thy mỡnh cn c gng hn na, khụng ngng
hc tp trau di chuyờn mụn qua bn bố, ng nghip kt qu ging dy th
ng núi riờng v nhng tỏc phm vn chng khỏc núi chung t kt qu tt
hn.
Theo tụi, ti ny cũn rt nhiu nhng thiu sút, nhng quan nim cha
th ng nht vi cỏc thy cụ, cỏc anh (ch), cỏc bn ng nghip. Chớnh vỡ th,
tụi rt mong nhn c nhng úng gúp chõn tỡnh ca quý thy cụ, tụi cú th
hon thin hn kin thc ca mỡnh. V tụi tin rng vi nhng kin thc quý bỏu
ca quớ thy cụ cựng nhng úng gúp y ti ca tụi s ngy cng hon chnh
hn, giỳp ớch trong vic ging dy bi Hi hng ngu th núi riờng v cỏc bi
th ng núi chung.
3. 2. KIN NGH

XC NHN CA TH TRNG N V

Thanh Húa, ngy 20 thỏng 5 nm2017
Tụi xin cam oan õy l SKKN ca
mỡnh vit, khụng sao chộp ni dung ca
ngi khỏc.
(Ký v ghi rừ h tờn)

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 7-tập 1, Nxb Giáo dục, 2011
2. Sách giáo viên Ngữ văn 7- tập 1, Nxb Giáo dục, 2003.
3. Tài liệu Chuẩn kiến thức - kĩ năng Ngữ văn 7, Nxb Giáo dục, 2008
4. Thơ Đường, Trần Trọng San, Nxb Thanh Hóa, 1997.
5. Thi pháp thơ Đường – Nguyễn Thi Bích Hải. Giáo trình giảng dạy, Đại học
sư phạm Huế, năm 2002.
6. Bình giảng thơ Đường – Nguyễn Thị Bích Hải, NXB Giáo dục, 2005.

21


DANH MC
CC TI SNG KIN KINH NGHIM C HI NG
NH GI XP LOI CP PHềNG GD&T, CP S GD&T V CC
CP CAO HN XP LOI T C TR LấN
H v tờn tỏc gi : Trng Th Võn
Chc v v n v cụng tỏc: Giỏo viờn Trng THCS Th Nguyờn Th
Xuõn Thanh Húa.


A

2016 - 2017

luyện tốt kỹ năng làm
bài nghị luận về đoạn
2.

thơ, bài thơ.
Vn dng thi phỏp th ng
hng dn hc sinh lp 7 c
hiu bi: Hi hng ngu
th ca H Tri Chng

3.
4.
5.

22


MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU………………………………………………………………….......1
1. 1. Lý do chọn đề tài…............................................................................1
1. 2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………..…….2
1. 3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………..……………3
1. 4. Phương pháp nghiên cứu……………...……………………………..3
2. NỘI DUNG………………………………………………………………..….4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status