Một số kinh nghiệm về việc hướng dẫn học sinh lớp 6 làm tốt bài văn thể loại tự sự ở trường THCS thị trấn huyện thường xuân - Pdf 43

Mục lục

Nội dung

Trang

1. Mở đầu

1

1.1. Lí do chọn đề tài

1

1.2. Mục đích nghiên cứu

2

1.3. Đối tượng nghiên cứu

2

1.4. Phương pháp nghiên cứu

2

2. Nội dung

2

2.1. Cơ sở lý luận



1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài.
Dạy học là hoạt động đặc trưng của nhà trường, là con đường quan trọng
nhất để giáo dục thế hệ trẻ. Trong nhà trường Ngữ văn là môn học khoa học xã
hội rất quan trọng đối với các em học sinh đặc biệt là phân môn văn học. Văn
học giúp các em nắm bắt những tri thức của nhân loại, hiểu biết được quá khứ
của dân tộc, những cái hay, cái đẹp trong sáng tác của các nhà văn, từ đó có tác
dụng giáo dục rất lớn, hướng các em tới chân, thiện, mỹ. Đọc một bài văn, bài
thơ hay làm tâm hồn các em rung động, giúp các em biết yêu thương, biết sẻ
chia và từ đó thêm yêu quý quê hương đất nước mình! Nếu trong dạy và học mà
không có văn học tâm hồn học trò sẽ trở nên khô cằn. Văn học có vai trò vị trí
như vậy nên đòi hỏi giáo viên dạy văn phải có phương pháp giúp các em nắm
bắt kiến thức một cách ngắn gọn, đơn giản dễ hiểu nhất, (đặc biệt với học sinh
lớp 6 khi các em còn nhiều bỡ ngỡ với chương trình, cách học mới), đồng thời
qua những tác phẩm văn học phải để lại cho các em những ấn tượng, cảm xúc cụ
thể, thiết thực. Hơn nữa theo chương trình đổi mới của Bộ giáo dục và đào tạo
thì môn văn không còn đơn thuần là mình văn nữa. Nó đã được tích hợp bởi ba
phân môn (Văn- Tiếng việt- Tập làm văn) gộp lại được gọi chung là Ngữ văn.
Trong đó ba phân môn đều có vị trí ngang hàng. Trong Văn có Tiếng việt và
trong Tập làm văn cũng có Văn, có Tiếng việt. Quả thật đây là sự thay đổi có
tính thiết thực, học sinh được đến với kiến thức Tiếng việt thông qua các tác
phẩm và ứng dụng nó vào sáng tạo văn bản, đó là một vấn đề thuận lợi cho việc
học.
Tuy nhiên đối với các em học sinh lớp 6, việc tạo lập một văn bản tự sự quả
thật không đơn giản. Do vốn sống, kỹ năng tạo lập văn bản tự sự của các em
chưa tốt nên các em thường lúng túng, bị động trong quá trình làm bài, từ đó dẫn
đến kết quả học tập phân môn Tập làm văn nói riêng và môn Ngữ văn nói riêng
chưa cao. Xuất phát từ tình hình thực tế của học sinh, bản thân tôi qua quá trình

tự, biết bắt chước, diễn đạt lại vấn đề mà bản thân tham gia, chứng kiến hoặc
được nghe. Vì vậy làm văn thể loại này không khó, học sinh chỉ cần nắm vững
vấn đề là có thể làm, trình bày được. Nhưng nếu không biết chắt lọc để xây dựng
thì sẽ biến bài văn thành sự kể lể dài dòng, khô khan hoặc chỉ là sự chắp nhặt

3


các chi tiết thông thường để tạo nên bài văn không có tính thẩm mỹ và tính giáo
dục.
Do đó, khi dạy thể loại này, giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản
chất của thể loại. Mục đích của tự sự có nghĩa là người kể phải trình bày diễn
biến sự việc nhằm giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ
thái độ khen chê trước sự việc đó. Vì vậy học sinh phải gửi gắm được điều muốn
nói vào các nhân vật hay trong tác phẩm. Nhưng tất cả các vấn đề trên phải được
học sinh lớp 6 tuân thủ một cách nghiêm ngặt thông qua từng bước làm quen với
các kỹ năng: Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn, luyện nói, luyện viết. Sau
khi học sinh đã tiếp cận các kỹ năng giáo viên phải hướng dẫn cho các em cách
viết từng phần: Mở bài, thân bài, kết bài và tất cả phải luyện thành kỹ năng. Nếu
học sinh không nắm vững các kỹ năng trên thì khi viết bài sẽ không tốt, bài văn
sẽ rối và không thành truyện.
Nói tóm lại, kết quả bài văn tự sự không chỉ nói nên năng lực cảm nhận tác
phẩm văn học, thể hiện vốn sống mà còn là cách dùng ngôn ngữ Tiếng Việt hiệu
quả để tạo lập văn bản. Hay nói cách khác các em sẽ biết “tích hợp” và “tích
cực” để làm được bài văn tự sự tốt nhất.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2.2.1. Thực trạng.
Trong quá trình trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 6, năm học 2014- 2015
tôi nhận thấy sau khi học xong phần văn tự sự, đa phần học sinh nắn kiến thức
và thể loại còn rất hời hợt, mơ hồ. Các em thường xây dựng câu chuyện mang

6B
6C

33
29
28

Giỏi
10
3
1

%
30,3
10,3
3,5

Khá
15
8
4

%
45,5
27,6
14

Xếp loại
TB %
08 24,2

từ phía thầy lẫn nguyên nhân từ phía trò.
Có thể nói nếu việc học và làm văn ở bậc Tiểu học còn đơn giản, thì lên cấp
II các em phải làm quen với cách học mới, phương pháp mới, kỹ năng có phần
nâng cao hơn. Do đó “sản phẩm” tự sự do các em tạo ra không còn đơn giản,

5


máy moc, mô tuýp nữa mà đòi hỏi ở mức độ cao hơn. Vì vậy các em có sự lúng
túng chưa nắm bắt kịp thời.
Học sinh dành thời gian cho việc ôn luyện còn quá ít, chưa có thời gian
thực hành nhiều. Chưa biết lập dàn ý, dựng đoạn, luyện viết, thậm chí các em
còn không tìm ý, lập dàn ý mà nghĩ gì viết ấy dẫn đến bài viết thiếu ý, thừa ý
hoặc trùng lặp ý, sắp xếp lộn xộn là điều không tránh khỏi.
Bên cạnh đó có rất nhiều em không thuộc truyện, cốt truyện, nhân vật, tình
tiết. Chưa biết biến kiến thức đó thành của mình hoặc sáng tạo, tưởng tượng
thêm. Vốn sống, vốn hiểu biết còn hạn chế, ít có sự sáng tạo trong việc dùng
ngôn từ để biểu đạt nội dung.
Khi giao bài tập về nhà các em còn sao chép trong sách học tốt, những bài
văn mẫu để nộp cho giáo viên. Nếu chúng ta không thẳng thắn phạt hay cho
điểm kém thì sẽ tạo đường mòn cho các em làm theo, từ đó tạo ra thói ỷ lại, lười
suy nghĩ.
Trên đây là một số nguyên nhân chính dẫn đến việc viết loại thể bài tự sự
chưa có hiệu quả. Đứng trước thực tiễn trên, bản thân tôi trong quá trình giảng
dạy đã đúc rút được một số kinh nghiệm để giúp các em học sinh lớp 6 làm tốt
hơn bài văn tự sự của mình.
2.3. Giải pháp thực hiện.
2.3.1. Phương pháp chung.
Khi nắm vững lý thuyết thể loại văn tự sự, học sinh được thực hành viết bài
và kết quả chính là căn cứ để đánh giá khả năng tiếp thu cũng như năng lực sáng

từng dạng bài. Như vậy, khâu viết bài là khâu cuối cùng hoàn thiện các kỹ năng,
nó tổng hợp kiến thức mà học sinh đã tiếp nhận được. Giáo viên hướng dẫn tốt
kỹ năng kết hợp ý thức tự giác, chủ động, ham học hỏi ở học sinh thì bài làm của
các em sẽ tốt.
2.3.2. Phương pháp cụ thể.
2.3.2.1. Phương pháp làm bài văn tự sự kể chuyện đời thường.
Với kiểu bài này học sinh dễ làm hơn. Bởi lẽ các em chỉ cần kể lại sự vật,
sự việc mà bản thân mình được chứng kiến, được nghe hàng ngày, không phải
sáng tạo hay tìm tòi những vấn đề mới. Cũng chính vì vậy mà bài viết thường
rơi vào kể lể, hoặc chắp nhặt những chi tiết không đáng đưa vào bài, biến bài

7


văn tự sự trở nên rời rạc, khô khan. Thế nên trong quá trình giảng dạy tôi đã
thực hiện bằng các hình thức sau để bài làm của học sinh được tốt hơn.
Đầu tiên, giáo viên phải cho học sinh hiểu kỹ lưỡng lý thuyết của thể loại
bằng những dẫn chứng minh họa, bằng những hệ thống bài tập ở tiết học và với
từng bài tập giáo viên chỉ ra cho học sinh cách chọn từng ngôi kể, thứ tự kể như
thế nào cho phù hợp.
Ví dụ: Khi dạy tiết học: Đặc điểm của nhân vật trong văn tự sự giáo viên
phải lấy một nhân vật cụ thể trong tác phẩm như “ Sơn Tinh, Thủy Tinh” và
bằng hệ thống câu hỏi giáo viên hướng dẫn học sinh tìm ra từng đặc điểm của
nhân vật đó.
- Nhân vật được gọi tên, đặt tên như thế nào?
- Được giới thiệu lai lịch, tính tình, tài năng ra sao?
- Được kể các việc làm, hành động, ý nghĩa, lời nói?
- Được miêu tả chân dung, trang phục, trang bị, dáng điệu…?
- Trong truyện nhân vật có nhiệm vụ gì?
- Rút ra đặc điểm, vai trò của nhân vật trong văn tự sự?

chất của đối tượng và câu chuyện phải có ý nghĩa, vì vậy giáo viên phải hướng
dẫn cách trình bày, sắp xếp các sự việc trong bài văn, đây là vấn đề khó đối với
học sinh. Bởi lẽ các em thường viết rất tùy tiện, bạ đâu viết đó, nghĩ gì viết ấy, vì
vậy bài văn lộn xộn, chỗ lặp, chỗ thừa chỗ lại thiếu. Để giúp các em biết cách
sắp xếp, giáo viên buộc học sinh đọc kỹ đề xác định dúng nội dung đúng yêu
cầu sau đó hình dung đối tượng, sự việc đó như thế nào (đặc điểm, tính cách,
việc làm...) ra sao để mà xây dựng thành hệ thống.
Giáo viên cần giúp các em viết từng phần thật cặn kẽ thông qua những tiết
dạy lý thuyết và bài tập ở nhà, phải đưa các em vào thế giới văn chương, biến
những sự việc vốn dĩ đời thường thành những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao.
Viết phần mở bài.
Yêu cầu viết ngắn gọn, cô đọng, giàu tình cảm nhưng phải đảm bảo yêu cầu
cầu đề bài, phải thực sự thể hiện được thái độ đối với vấn đề tự sự. Trước khi
viết mở bài, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi để nhận thức lại, yêu cầu của đề bài
thường làm gì? Học sinh trả lời được: Mở bài là giới thiệu về nhân vật và sự
việc.

9


Ví dụ: Đề bài: Kể về người bà kính yêu của mình? Thì phần mở bài học
sinh có thể viết như sau:
“Bà tôi năm nay đã 70 tuổi rồi, bà thường hay thức khuya, dậy sớm để
theo dõi, chăm chút chị em tôi, nhưng trong mắt tôi, bà vẫn khỏe, đẹp như xưa.
Tôi yêu bà vô cùng!” Với đề bài này học sinh càng mở bài tự nhiên thì càng
hay.
Để làm tốt được điều đó yêu cầu trên lớp giáo viên phải ra nhiều bài cho
học sinh bắt chước, tập nói, tập viết, chữa lỗi trên lớp trong các tiết luyện nói để
tránh lặp lại sai lầm trong quá trình viết bài.
Viết phần thân bài.

bài văn trên. Có như vậy học sinh mới biết mà áp dụng vào bài làm của mình.
Viết phần kết luận.
Nhiều khi người dạy và người học viết qua loa, đơn giản hoặc chỉ cho bài
viết thêm phần hoàn chỉnh. Do đó khi dạy, giáo viên cần dạy học sinh viết phần
này như thế nào cho hàm súc, ngắn gọn nhưng mang tính tổng hợp cao. Đặc biệt
phải thể hiện rõ thái độ của mình đối với nhân vật, sự việc trong đề bài, chứ
không đơn giản chỉ là kể lại kết cục của sự việc, muốn làm được điều đó giáo
viên cần hướng dẫn học sinh dựa vào đề bài mà đưa ra kết luận hay và sắc sảo.
Ví dụ: Khi kể về ông em, phần kết bài một học sinh đã viết: “ Nhìn cái dáng
vẻ lặng lẽ, nhẹ nhàng, mái tóc bạc như cước, nụ cười hiền hậu của ông, em
mong ông sống lâu, sống mãi như loài cây xương rồng mà ông em yêu mến! ”
Chính cụm từ: “loài cây xương rồng” đã hàm súc và ẩn chứa bao ý nghĩa,
phẩm chất của một con người đáng kính như ông!
Có thể nói, luyện viết cho học sinh từng phần là rất quan trọng. Bởi lẽ khi
viết các em sẽ huy động được vốn kiến thức tiếp thu qua môn học và tiếp thu
qua kiến thức cuộc sống, biết vận dụng từ ngữ để diễn đạt được nội dung, như
vậy, thành quả của quá trình học tập là thành công của người viết.
2.3.2.2. Phương pháp làm bài văn tự sự kể chuyện tưởng tượng.
Qua thực tế trực tiếp giảng dạy các em tôi nhận thấy: Đây là kiểu bài khó
trong văn tự sự, vì học sinh phải tưởng tượng ra các tình huống, tình tiết, sáng
tạo nhưng phải phù hợp với tực tế cuộc sống. Do vậy kiểu bài này đa phần học
sinh chưa làm được.

11


Để nâng cao chất lượng, giúp học sinh đỡ lúng túng trong khi tiếp cận kiểu
bài này thì trước hết giáo viên phải hướng dẫn để học sinh nắm vững được bản
chất của “tưởng tượng”, đó là những sự việc chưa có thực ở hiện tại và chưa
xảy ra thậm chí không thể xảy ra, từ đó các em biết cách mà thực hiện.

tượng được:
- Những ngày đầu đem trồng như thế nào?
- Lớn lên ra sao?
- Hiện tại cây bàng có dáng vẻ như thế nào? (To lớn, thân mình xù
xì, có những cánh tay rắn chắc hàng ngày khoác trên mình chiếc áo màu xanh để
đón ánh sáng của ông mặt trời… )
Hay khi nói về những giọt sương thì học sinh phải tưởng tượng được:
- Sinh ra từ nước, rồi lại trở về với nước.
- Đời sống ngắn ngủi.
- Phẩm chất, tâm hồn trong sạch….
Như vậy, làm kiểu bài này, các em cần tìm ra bản chất, đặc điểm của sự vật.
Muốn vậy các em phải có trí tưởng tượng tốt thông qua các biện pháp tu từ đã
học như nhân hóa, so sánh, ẩn dụ. Sau đó phải xây dựng thành dàn ý để từ đó tạo
ra một câu chuyện hợp lý.
Đối với kiểu bài tưởng tượng đoạn kết cho câu chuyện hoặc đóng vai một
đồ vật, sự vật nhân hóa kể chuyện, giáo viên cần định hướng cho học sinh đi vào
câu truyện, gợi mở lối suy nghĩ phù hợp để câu chuyện bắt nhịp một cách tự
nhiên.
Ví dụ: Khi viết đoạn kết mới cho câu câu truyện “ Cây bút thần ”, một
học sinh đã viết: “Xin chào các bạn lớp 6, tôi là Mã Lương đây. Mã Lương
trong câu truyện “Cây bút thần” ở sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập một của các
bạn đây mà…”
Hoặc một kết thúc của một học sinh khác như: “ Sau khi vua chết, câu chuyên
về Mã Lương dùng cây bút thần trừ gian diệt ác, cứu giúp dân lành vang khắp
đất nước. Nhân dân vui mừng, họp nhau lại và lập Mã Lương lên làm vua. Mã
Lương một mực từ chối nhưng không được. Chàng đành cất bút thần và lên ngôi
trị vì đất nước. Vào thời ấy, đâu đâu cũng yên bình, nhà nhà đều no đủ, người
người đều ca ngợi công đức cửa Mã Lương. ”

13

Trước tiên các em đã hiểu và nắm được thể loại văn tự sự ( trong đó có kể
chuyện đời thường và kể chuyện sáng tạo). Bài làm của các em đã có bố cục rõ
14


ràng, đã sáng rõ về nội dung và câu chuyện đã thể hiện một ý nghĩa cụ thể. Bước
đầu các em đã xây dựng được một hệ thống sự việc để tạo nên đặc điểm, bản
chất của sự việc, con người mà các em kể trong bài viết.
Điều đáng mừng nữa là bài viết của các em không còn lan man, liệt kê như
trước mà đã biết lựa chọn những gì cần nói để làm rõ câu chuyện, con người
theo yêu cầu của đề bài. Vì vậy bài viết đã cô đọng và có sức lôi cuốn hơn.
Đặc biệt với kiểu bài tưởng tượng, học sinh đã thực sự nhập tâm vào nhân
vật, có cảm xúc, đã biết hòa mình vào nhân vật, dựa vào đặc điểm của nhân vật
mà tạo nên những ý nghĩa rất mới lạ, hợp với sự tưởng tượng, hợp với cuộc
sống. Vì vậy bài viết vừa đảm bảo về số lượng, vừa đảm bảo về chất lượng. Và
hơn thế trong các tiết học bản thân tôi cảm nhận thấy học sinh đã thích học môn
Ngữ văn và tiếp thu bài nhanh hơn. Đó cũng chính là niềm vui lớn nhất ở mỗi
“ kỹ sư tâm hồn ”, từ đó tôi đã thấy mình đã và đang bồi dưỡng cho học sinh
" những tình cảm sẵn có" và nhen nhóm ở các em những " tình cảm chưa có"
qua từng bài văn tự sự, đúng như M.Gorki đã từng nói "Văn học là nhân học",
điều đó thật đáng tự hào!
Kết quả đạt được học kỳ 1 năm học 2016 - 2017 cụ thể như sau:
Lớp Sĩ số
6A

35

6B
6C


0

Kém
0

%
0

5
33,3

10
10

5
37,1

0
2

0
7,4

0
0

0
0

Thông qua bảng kết quả đạt được sau khi áp dụng “Một số kinh nghiệm

sự rơi vào liệt kê, kể lể đơn thuần.
Để có vốn làm bài văn tự sự các em không chỉ nắm vững kiến thức trong sách
vở, mà quan trọng hơn các em cần có vốn sống, vốn hiểu biết từ thực tế, có óc
quan sát và tưởng tượng phù hợp. Có được điều đó đòi hỏi ở mỗi em cần quan
sát, tích lũy để bài văn tự sự trở nên sinh động và hấp dẫn hơn.
Ngoài ra trong các giờ học trên lớp các em phải mạnh dạn trình bày ý kiến,
quan điểm của mình trước khi thầy cô đưa ra một đáp án hoàn chỉnh.
3.2.2. Đối với giáo viên:
16


Bằng bất cứ giá nào thì người giáo viên cũng phải luôn luôn nỗ lực đổi mới
phương pháp phù hợp với từng kiểu bài và đối tượng học sinh.
Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần nghiêm khắc, chặt chẽ trong việc
kiểm tra vở soạn, vở ghi, vở bài tập của các em. Có biện pháp xử phạt phù hợp
với những em không học bài cũ, chép tài liệu có sẵn. Hướng dẫn học sinh cách
tìm hiểu từng thể loại tự sự trong chương trình Ngữ văn 6 THCS một cách đầy
đủ, sáng tạo và dễ hiểu nhất.
Cho học sinh thi kể chuyện, đọc diễn cảm, đọc phân vai tác phẩm, phát hiện
ra ưu nhược điểm trong việc tìm ý, viết bài văn tự sự của nhau. Ngoài ra giáo
viên cần có nhiều hình thức tổ chức ngoại khóa để các em có dịp quan sát, tưởng
tượng, từ đó các em có vốn sống, vốn ngôn ngữ phong phú giúp quá trình viết
bài được dễ dàng hơn. Tạo ra không khí vui vẻ để các em yêu và say mê môn
Ngữ văn hơn.
Tuy nhiên để làm được điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải nỗ lực, tâm huyết với
nghề dìu dắt học sinh tiếp cận, chiếm lĩnh tác phẩm văn chương trong quá trình
dạy - học Văn cũng như tạo lập thành công những văn bản tự sự của riêng mình.
Do thời gian, khuôn khổ đề tài và năng lực bản thân có hạn. Mặt khác,
mỗi giáo viên có quan niệm, cách thức, phương pháp truyền đạt kiến thức văn tự
sự khác nhau cho học sinh. Trong đề tài này, tôi chỉ xin đưa ra một số ý kiến,

ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Phương
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Thị Trấn Thường Xuân.

TT

Tên đề tài SKKN

1.

Dạy học văn chương bằng
con đường cảm xúc
Một số kinh nghiệm dạy từ
láy cho học sinh lớp 6,7
trường THCS Tân Thành.
Một số giải pháp nâng cao
chất lượng dạy học văn nghị
luận ở lớp 9.
Nâng cao chất lượng dạy học
văn nghị luận thông qua tìm
hiểu những đổi mới của đề
văn Nghị luận trong sách Ngữ
văn THCS

2.
3.
4.

Kết quả


B

2014 - 2015

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status