Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng HSG môn hóa học ở trường THCS thạch bình - Pdf 43

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH
TRƯỜNG THCS THẠCH BÌNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
MÔN HÓA Ở TRƯỜNG THCS THẠCH BÌNH

Người thực hiện: Hoàng Ngọc Trung.
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Thạch Bình.
SKKN thuộc lĩnh vực ( môn ): Hóa học

THẠCH THÀNH, NĂM 2017

-1-


1.Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài:
Tại nghị quyết TW 2, khóa VIII đã nêu “Giáo dục- Đào tạo là quốc sách
hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Ngoài
nhiệm vụ nâng cao chất lượng hiểu biết kiến thức và vận dụng kỹ năng, ở nhà
trường còn phải chú trọng đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Do đó, đòi hỏi
cấp thiết phải trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học thật cơ bản, hiện
đại, trên cở sở đó phải phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, phát
triển nhân cách, hình thành con người năng động thích ứng với những đổi mới
của xã hội.
Là một giáo viên trực tiếp dạy môn Hóa học ở trường THCS Thạch Bìnhhuyện Thạch Thành nhiều năm qua, cũng ngần nấy năm gắn liền với công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi và luôn coi đó là công tác mũi nhọn và trọng tâm. Nó

- Thông kê xử lí số liệu.
-2-


2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cở sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, lớn lao, khó
khăn, nặng nề nhưng rất đỗi vinh dự. Học sinh giỏi thường là học sinh có tố chất
đặc biệt, khác các học sinh khác về kiến thức. Như vậy, tiết dạy bồi dưỡng học
sinh giỏi đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn là tiết dạy
bình thường trên lớp, thậm chí phải có quá trình tích lũy kinh nghiệm qua thời
gian mới có thể đạt hiệu quả và thuyết phục học sinh, làm cho các em thực sự
hứng thú và tin tưởng. Giáo viên tham gia bồi dưỡng phải có sự học tập và trau
dồi không ngừng nghỉ, cùng với lòng nhiệt huyết, quyết tâm cao mới có thể đáp
ứng được yêu cầu của công việc. Qua một số năm bồi dưỡng đội tuyển học sinh
giỏi (chủ yếu là học sinh lớp 9), tôi đã đúc rút ra một số kinh nghiệm, dù chỉ
thực hiện tập trung trong mấy tháng ít ỏi mà có thể có được những thành công
nhất định. Vậy nên với chuyên đề này tôi mạnh dạn đưa ra những suy nghĩ của
mình với mong muốn thiết tha là được trao đổi kinh nghiệm với các đồng
nghiệp, chia sẻ, học tập lẫn nhau để cùng tiến bộ; góp phần nâng cao chất lượng
giảng dạy của giáo viên và hiệu quả học tập của học sinh nói chung. Đó cũng là
nội dung, mục đích hướng tới của sáng kiến kinh nghiệm.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Trong nhà trường ngoài việc dạy học đại trà thì công việc dạy bồi dưỡng học
sinh giỏi gióp phần quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục. Các em qua
quá trình học tập có thể lãnh hội được những kiến thức cao hơn, rộng hơn trong
hóa học và cũng là để các em phát huy khả năng học tập, yêu thích bộ môn của
bản thân. Người giáo viên thông qua dạy học cũng có điều kiện nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình.
2.2.1.Đặc điểm tình hình

đạt giải khuyến khích.
+ Năm học 2015 - 2016: đội tuyển 08 em thì có 01 giải nhất, 03 nhì, 04 em đạt
giải khuyến khích.
Tại trường THCS Thạch Bình, những năm học từ 2010 trở về trước, số lượng
giải học sinh giỏi hóa hàng năm cũng khá thấp, dao động 01 đến 02 học sinh. Từ
năm học 2012 - 2013 đến nay, sau khi tôi và một số đồng nghiệp áp dụng sáng
kiến kinh nghiệm vào thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi thì kết quả thay đổi rõ
rệt. Học sinh chủ động và lạc quan khi tham gia vào đội tuyển, học tập sôi nổi có
hứng thú và tin tưởng vào kết quả khi làm bài. Số lượng và chất lượng giải đều
tăng lên. Đó là điều vui mừng không thể nói hết bằng lời.
2.3. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Muốn bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi đạt kết quả cao, theo tôi cần phải chú
ý đến rất nhiều yếu tố: đó là có sự chỉ đạo kịp thời, sát sao, sự quan tâm sâu sắc
từ phía Ban giám hiệu và các tổ chức trong nhà trường; là sự ủng hộ, tạo điều
kiện của gia đình học sinh, của giáo viên chủ nhiệm... nhưng quan trọng nhất
vẫn là hai yếu tố giáo viên đứng lớp và học sinh. Song trong khuôn khổ chuyên
đề này tôi chỉ xin tập trung vào những việc mà bản thân tôi đã và đang làm cũng
như những kinh nghiệm được rút qua thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi.
2.3.1: Lựa chọn và phát hiện học sinh giỏi bộ môn Hóa.
Lựa chọn, phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ rất quan trọng ở
các nhà trường THCS hiện nay, đối với bộ môn Hóa học thì có khó khăn hơn vì
các em chỉ tiếp xúc với bộ môn tự nhiên này bắt đầu từ năm lớp 8 với rất nhiều
bỡ ngỡ. Do vậy, việc lựa chọn đội ngũ học sinh giỏi đi dự thi bộ môn cũng cần
tuyển chọn kĩ hơn. Tôi thường chọn những học sinh có năng khiếu về Toán học
thì khả năng phân tích, tư duy Hoá học của các em rất cao. Hiếm có trường hợp
học sinh khá giỏi môn Toán mà không khá giỏi Hoá học. Hơn nữa, một đề thi
học sinh giỏi Hoá học thì kiến thức về Toán học hỗ trợ trong các bài tập tính
toán rất nhiều và điểm của các bài tập này cũng chiếm tỉ lệ khá cao ( có khi
chiếm tới 2/3 điểm của đề thi). Vì vậy, ngay sau khi kết thúc chương trình học
kỳ I năm học trước, để chất lượng đội tuyển học sinh giỏi môn Hóa học của năm

thầy cô cố gắng tìm tòi, suy ngẫm, tìm ra những phương pháp hợp lí, phù hợp
nhất đối với từng đối tượng học sinh để giảng dạy có hiệu quả, làm cho các em
cảm nhận được cái hay, cái đẹp của môn hóa luôn luôn gắn liền với thực tiễn đời
sống. Đó là giải thích các hiện tượng trong tự nhiên trong cuộc sống thông qua
các phản ứng hóa học.Việc đưa các câu hỏi thực tiễn vào trong giờ học sẽ giúp
hóa học gần gũi hơn với học sinh, tạo hứng thú, đồng thời giúp các em học sinh
hiểu biết hơn về cuộc sống.
Ví dụ: Vì sao nước mắt lại mặn ?
Nước mắt mặn là vì trong một lít nước mắt có dưới 6g muối. Nước mắt sinh ra
từ tuyến lệ nằm ở phía trên mi ngoài của nhãn cầu. Nước mắt thu nhận được
muối từ màu (trong một lít máu có 9g muối). Nước mắt có tác dụng bôi trơn
nhãn cầu, làm cho nhãn cầu không bị khô, bị xước và vì có muối nên còn có tác
dụng hạn chế bớt sự phát triển của vi khuẩn trong mắt
Vì sao các đồ vật bằng bạc để lâu ngày thường bị xám đen ?
Do bạc tác dụng với khí CO 2 và khí H2S có trong không khí tạo ra bạc sunfua có
màu đen.
4Ag + O2 + 2H2S → 2Ag2S + 2H2O
“Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong ( ô tô, xe máy) có
chứa các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi nước
trong không khí nhờ xúc tác oxit kim loại ( có trong khói, bụi nhà máy) hoặc
ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3.
2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4
2NO + O2 → 2NO2
-5-


4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Vai trò chính của mưa
axit là H2SO4 còn HNO3 đóng vai trò thứ hai. Hiện nay mưa axit là nguồn ô

tôi đã biên soạn và dạy cho học sinh một số chuyên đề. Tôi đã tiến hành dạy liên
tục, một tuần hai buổi vào chiều thứ 2, 5 và 7 hàng tuần (một buổi dạy hai tiếng
rưỡi đến ba tiếng).
Tổ chức dạy bồi dưỡng môn Hóa học 8 :Trước khi bước vào giảng dạy bồi
dưỡng môn Hoá học 8, tổ chức cho học sinh kiểm tra khảo sát để nắm bắt được
khả năng nắm kiến thức của các em từ đó đề ra biện pháp trong quá trình giảng
dạy. Hệ thống hoá kiến thức và phân ra các dạng bài tập, các chuyên đề cơ bản
cho các em.
Các chuyên đề được tổ chức soạn, giảng một cách hệ thống và theo nguyên tắc,
thứ tự các chuyên đề như sau:
Chuyên đề 1: Bài tập cân bằng phương trình phản ứng, viết phương trình phản
ứng.
Chuyên đề 2: Bài tập về định luật bảo toàn khối lượng.
-6-


Chuyên đề 3: Bài tập tính theo công thức hóa học.
Chuyên đề 4: Bài tập tính theo phương trình hóa học.
Chuyên đề 5: Bài tập về hỗn hợp các chất (liên quan đến tính chất hóa học và
điều chế Oxi, Hiđro).
Chuyên đề 6: Bài tập điều chế, nhận biết, tách chất (liên quan đến tính chất hóa
học của Hiđro, Oxi, Nước).
Chuyên đề 7: Bài tập xác định công thức hóa học của hợp chất (dựa vào thành
phần nguyên tố, dựa vào phản ứng hóa học).
Chuyên đề 8: Bài tập độ tan, nồng độ dung dịch.
Chuyên đề 9: Bài tập tổng hợp (liên quan đến nồng độ dung dịch).
Sau khi học sinh học xong 2 hoặc 3 chuyên đề, tiến hành tổ chức kiểm tra
định kỳ để nắm bắt được tình hình nắm kiến thức và khả năng vận dụng của học
sinh, nắm được học sinh có khả năng học kiến thức chuyên sâu để tăng cường
kiến thức bổ sung bài tập khó giúp cho các em phát huy được khả năng của

Chuyên đề 12: Bài tập về hỗn hợp chất hữu cơ.
-7-


Chuyên đề 13: Bài tập về Hiđrocacbon (Ankan, Anken, Ankin, Aren,..).
Chuyên đề 14: Bài tập về dẫn suất của hiđrocacbon (Rượu, Axit , Este, ....).
Chuyên đề 15: Bài tập tổng hợp Hóa học hữu cơ.
Giáo viên lựa chọn một số chuyên đề quan trọng gắn với chương trình thi để
giúp học sinh đi vào nắm bắt kiến thức của các chuyên đề đó có chiều sâu và
rộng hơn.
A. Chuyên đề dạy bồi dưỡng tạo nguồn đối với học sinh lớp 8
Bài tập định tính là dạng bài tập phổ biến và quan trọng nhất của chương trình
hóa học THCS nói chung, đặc biệt là học sinh lớp 8 nói riêng.
+ Cách giải bài tập lý thuyết:
Bài tập lý thuyết thường đưa ra những câu hỏi dưới dạng lý thuyết xoay quanh
những kiễn thức cơ bản ở THCS về các khái niệm hóa học, thành phần cấu tạo,
tính chất và ứng dụng của các loại chất vô cơ và một số chất hữu cơ.
Chuyên đề : Bài tập cân bằng phương trình phản ứng, viết phương trình phản
ứng.
Và viết phương trình phản ứng và cân bằng phương trình là dạng chuyên đề
đặc biệt quan trong với học sinh, nó quyết định học sinh có học được môn hóa
hay không?
a. Kiểu bài đơn giản nhất: "Cho biết công thức hóa học của các chất tham
gia và tạo thành sau phản ứng":
Ví dụ:
t0
2HgO →
2Hg + O2
Zn + 2HCl → ZnCl2 + H2
t0

Vậy ta cần làm chẵn hệ số của Fe2O3 là 2. Từ đó suy ra hệ số của các chất còn
lại.
Cân bằng:
KMnO4 + HCl → KCl + MnCl2 + Cl2 + H2O
Chất A là KMnO4 vì tuy các chất KMnO4, HCl, KCl đều có 2 nguyên tố có số
nguyên tử lẻ nhưng công thức KMnO4 phức tạp hơn.
Vậy ta cần làm chẵn hệ số của KMnO4 là 2 ---> Hệ số của KCl, MnCl2 và
H2O ---> Các hệ số còn lại.
Cân bằng: HCl + MnO2 → MnCl2 + Cl2 + H2O
Chất A là HCl với hệ số là 4 (Nếu dùng hệ số 2 sẽ không thỏa mãn do vế phải đã
có ít nhất 4 nguyên tử Cl)
Có thể gặp hai trường hợp không thích ứng với cách làm trên: Cân bằng một số
phản ứng oxi hóa khử phức tạp hoặc một vài phương trình mà bản thân chất A
không cần thêm các hệ số chẵn vào nữa, song dạng này là không nhiều.
b. Kiểu bài tập cơ bản: "Viết phương trình phản ứng khi cho biết các chất
tham gia phản ứng".
Ví dụ:
H2SO4 + Ba(NO3)2 --->
HCl + AgNO3 --->
Trước hết cần tìm hiểu chất tham gia phản ứng thuộc loại chất nào đã học, đối
chiếu với kiến thức lý thuyết để dự đoán sản phẩm phải thuộc loại chất nào (Tạo
ra muối mới và axit mới). Căn cứ vào thành phần chất tham gia phản ứng để
khẳng định thành phần chất tạo thành sau phản ứng.
Ở mức độ cao hơn cần xử lý tình huống như phải lựa chọn chất tham gia phản
ứng thích hợp, xét đến điều kiện để phản ứng xẩy ra được hoặc phản ứng xẩy ra
được hoàn toàn. Ví dụ:
Ba(NO3)2 + X ---> BaSO4 + Y
Chất X có thể là một hợp chất tan có gốc sunfat trong phân tử. Còn trường hợp:
Na2SO4 + X ---> NaCl + Y
thì X phản là một muối clorua tan và Y phải là một muối sunfat không tan nên

dầu nhẹ hơn nước lại nổi lên trên và đám cháy càng mạnh hơn.
Khi giải các bài toán hóa học ở THCS, nhiều học sinh thường cảm thấy khó
khăn do một số nguyên nhân sau:
+ Các em chưa nắm vững được các định luật và các khái niệm cơ bản về hóa
học, chưa hiểu đầy đủ ý nghĩa định tính và định lượng của kí hiệu hóa học, công
thức và phương trình hóa học.
+ Các kỹ năng như xác định hóa trị, lập công thức và cân bằng phương trinh HH
còn yếu và chậm.
+ Một loạt các bài nhỏ giúp cho việc khắc sâu kiến thức hoặc rèn kỹ năng như:
* Tính về mol nguyên tử, phân tử. Số nguyên tử, phân tử...
* Lập công thức và tính theo công thức hợp chất.
* Nồng độ dung dịch và pha chế dung dịch.
* Các phép tính có liên quan đến tỷ lệ phần trăm, hiệu suất.
Do ít được rèn luyện thường xuyên, học sinh có khả năng giải được các bài tập
nhỏ trên, song khi lồng ghép vào các bài toán hóa học hoàn chỉnh (Ví dụ bài
toán tính theo công thức và phương trình hóa học có vận dụng cả nồng độ, hiệu
suất...) thì lại quên hay không biết cách giải quyết.
+ Học sinh không nắm được những tính chất hóa học cần thiết để giải bài toán
như phản ứng có xẩy ra không? Sản phẩm là những chất nào?
Dưới đây sẽ đi phân tích một dạng toán cụ thể ở THCS.
Ví dụ: Cho biết một lượng chất, tính nhiều lượng chất khác theo PTPU:
Về thực chất đây là dạng bài toán cơ bản có chung một yếu tố định lượng. Khi
giải bài toán nên gộp lại cho gọn.
Ví dụ 1. Để điều chế oxit sắt từ bằng cách oxi hóa sắt ở nhiệt độ cao. Tính số
gam Fe và O2 cần dùng để điều chế được 2,32 gam Fe3O4.
Cách giải:
t0
PTPƯ:
3Fe + 2O2 →
Fe3O4

Mhỗn hợp =

mhh M A .x + M B . y + M C .z …
=
nhh
x + y + z…

Giả sử trong hỗn hợp MA < MB => MA< MTB < MB
Thí dụ 1: Hòa tan hoàn toàn 7,56 gam kim loại A vo dung dịch HCl (dư) thu
được 9,408 lit khí H2(đktc). Xác định kim loại A?
Ta phân tích bài toán như sau:
+ Kim loại A chưa biết hóa trị,cần đặt ẩn số là hóa trị
+ Khí H2 sinh ra ở đktc, ta đổi ra số mol của khí H2.
+ Như vậy, bài toán có 2 ẩn số nhưng chỉ có thể lập được 1 phương trình
đại số nên cần biện luận để tìm nguyên tử khối(NTK) của A theo hóa trị.
Giải(tóm lược):
+ Gọi A là NTK của A, hóa trị là n.
+ Số mol H2 tính được là: nH2 = 9,408:22,4= 0,42 mol
+ PTHH:
2A + 2nHCl  2ACln + nH2
Theo Pt
2A(g)
n (mol)
Theo bài ra 7,56 (g)
0,42 (mol)
Ta có tỉ lệ

7,56 0, 42
=
 A= 9 n

Tỉ lệ
1 mol
1 mol
1 mol
Khối lượng dung dịch sau phản ứng:
(1)
Tổng khối lượng ban đầu:
mMO + mH 2 SO4 = (M + 16) +

(2)

98
x100 = 2016 + M
4,9
M + 96

Khối lượng dung dịch sau phản ứng: mddMSO = 7, 69 x100
4

98

M + 96

Theo ĐLBTKL thì (1) =(2) : (M + 16) + 4,9 x100 = 2016 + M = 7, 69 x100
Giải ra M= 64 (Cu)
(Với dạng bài toán này tôi hướng dẫn học sinh chỉ đi theo một hướng duy nhất
là đặt ẩn số cho 1 trong 2 chất tham gia phản ứng,cụ thể bài này là 1 mol MO)
Lưu ý: Nếu kim loại cần tìm chưa biết hóa trị, thì gọi hóa trị là n (n=1,2,3)
Khối lượng của oxit = tổng khối lượng của kim loại + khối lượng của oxi.
Khối lượng của muối = tổng khối lượng của kim loại + khối lượng của gốc axit.

Bài 4: Nung 9,66g hỗn hợp A gồm Al và một oxit sắt Fe xOy (trong điều kiện
không có không khí) đến khi phản ứng xảy ra hoàn toàn được chất rắn Y (giả sử
chỉ có phản ứng khử oxit tạo kim loại). Hòa tan Y trong dung dịch NaOH dư
- 12 -


thấy có 0,672 lít khí H2 thoát ra, nếu hòa tan Y trong dung dịch HCl dư thì thu
được 2,688 lit khí H2.
1, Định công thức hóa học của oxit sắt trong hỗn hợp (Thể tích khí đo đktc)
2, Tính % khối lượng các chất trong .
Bài 5: Hỗn hợp A gồm có Fe và kim loại M có hóa trị không đổi. Tỉ lệ số mol
của M và Fe trong A là 1:3 .Cho 19,2 gam hỗn hợp A tác dụng hết với HCl thu
được 8,96 lit khí H2 (đktc). Mặt khác cũng với lượng hỗn hợp trên tác dụng hết
với khí clo cần dùng 12,32 lit khí clo (đktc). Xác đinh tên kim loại M và % khối
lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp A.
Khi đã hướng dẫn học sinh các kiến thức và chuyên đề đã nêu ở trên, tôi sẽ
cung cấp đề thi của các năm để tiến hành giải và kiểm tra kiến thức. Đặc biệt là
lưu ý đến những bài toán hỗn hợp bởi trong đó có sự kết hợp nhiều dạng khác
nhau: kim loại phản ứng với muối, nồng độ mol/l…Các dạng bài toán : Kim loại
phản ứng với hỗn hợp dung dịch muối thì phản ứng ưu tiên với muối của kim
loại nào trước; tinh thể hidrat khi hòa tan vào nước hay dung dịch khác thì các
phân tử nước bị tách ra…
Thí dụ :Cho 16 gam CuO tan trong axit sunfuric 20% đun nóng(vừa đủ), sau đó
làm nguội đến 100C. Tính khối lượng tinh thể CuSO4.5H2O đã tách ra khỏi dung
dịch, biết rằng độ tan của dung dịch CuSO4 ở 100C là 17,4gam/100gam H2O.
Bài toàn này ta có thể phân tích như sau:
+Bài toán có liên quan đến tinh thể hidrat hóa và độ tan, tuy nhiên đề bài chỉ
biết độ tan sau khi đã làm nguội (100C), nhiệt độ và độ tan ban đầu chưa biết.
+ Vậy ta có thể tính khối lượng của CuSO 4 sinh ra, tính khối lượng dung dịch
sau phản ứng (khối lượng này bằng khối lượng CuO + khối lượng dung dịch


mH 2 O = 114 − 32 = 82 g

+ Khi làm nguội đến 10 0C, ta có a gam tinh thể CuSO4.5H2O tách ra. Tương
đương với 0,64a gam CuSO4 và 0,36a gam H2O tách ra, do đó trong dung dịch
còn lại là : (32 – 0,64a) gam CuSO4 và (82 – 0,36a) gam H2O.
+ Ở 100C ta có:
- 13 -


100 gam nước
hòa tan được 17,4 gam CuSO4
(82 – 0,36a) gam H2O hòa tan được (32 – 0,64a) gam CuSO4
100

17, 4

Suy ra: 82 − 0,36a = 32 − 0, 64a  a =30,71 (g).
2.3.5: Giáo viên cần nắm vững phương trâm dạy chắc cơ bản rồi mới nâng cao,
thông qua các bài luyện một cách cụ thể để dạy phương pháp tư duy, dạy những
dạng bài có quy luật trước, loại bài có tính đơn lẻ, đặc biệt sau.
Để giải được nhiều bài toàn dành cho học sinh giỏi, học sinh cần phải hiểu
được những kiến thức cơ bản, nền tảng cũng như là những kiến thức nâng cao
một cách vững chắc, sâu sắc và có khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo.
Mỗi loại kiến thức( khái niệm, định lý, định luật..) đều có nội hàm riêng và
cách vận dụng(hay quy tắc, phương pháp, công thức) đặc trưng của nó. Khi dạy
phải thông qua một số bài thí dụ cụ thể để khắc sâu cho học sinh đầy đủ,cặn kẽ
nội hàm và phương pháp vận dụng của kiến thức đó. Được như vậy khi có gặp
nhiều bài khác, mặc dù có những chi tiết cụ thể khác nhau nhưng học sinh vẫn
làm được vì chúng giống nhau ở bản chất.

tích của cả giáo viên cũng như học sinh để bảo đảm truyền thụ và lĩnh hội.
Tuỳ lứa tuổi, thể hiện hình thức phân tích cảm tính thực tiễn hay trí tuệ để đạt
được những kiến thức sơ đẳng và tiến tới kiến thức sâu sắc. Quá trình hoạt động
phân tích cũng đi từ phiến diện tới toàn diện nghĩa là từ phân tích thử, phân tích
cục bộ, từng phần và cuối cùng là sự phân tích có hệ thống.
Ví dụ : Nghiên cứu về nước được phân chia trong từng cấp học như sau :
Cấp 1 : Học sinh mới nghiên cứu chu trình của nước trong tự nhiên và các ứng
dụng, trạng thái của nước.
Cấp 2 : Học sinh đã hiểu nước được phân tích thành H2 và O2.
2H2O => 2H2 + O2
Cấp 3 : Nước nghiên cứu bị phân ly thành ion :
H2O ⇌ H+ + OH–
+ Tư duy so sánh : “Là xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật
hiện tượng của hiện thực”. Trong hoạt động tư duy của học sinh thì so sánh giữ
vai trò tích cực quan trọng.
Việc nhận thức bản chất của sự vật hiện tượng không thể có nếu không có sự
tìm ra sự khác biệt sâu sắc, sự giống nhau của các sự vật hiện tượng.
Việc tìm ra những dấu hiệu giống nhau cũng như khác nhau giữa hai sự vật hiện
tượng là nội dung chủ yếu của tư duy so sánh. Cũng như tư duy phân tích, tư
duy tổng hợp thì tư duy so sánh có thể ở mức độ đơn giản (tìm tòi, thống kê,
nhận xét) cũng có thể thực hiện trong quá trình biến đổi và phát triển.
Có thể tiến hành so sánh những yếu tố dấu hiệu bên ngoài có thể trực tiếp quan
sát được, nhưng cũng có thể tiến hành so sánh những dấu hiệu quan hệ bên trong
không thể nhận thức trực tiếp được mà phải bằng hoạt động tư duy.
Trong dạy học nói chung và dạy học hoá học nói riêng thực tế trên sẽ đưa tới
nhiều hoạt động tư duy đầy hứng thú. Nhờ so sánh, người ta có thể tìm thấy các
dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật. Ngoài ra, còn tìm
thấy những dấu hiệu không bản chất thứ yếu của chúng.
Ví dụ : So sánh hidrocacbon: ankan, anken, ankin ở mức độ cụ thể
So sánh hidrocacbon với rượu, anđehit, axit ở mức độ cao hơn

sinh. Đối với học sinh giỏi, tài liệu có tầm quan trọng đặc biệt. Sau khi đã tuyển
chọn, lập đội tuyển học sinh giỏi, thời gian bồi dưỡng còn hơn 3 tháng là đến
ngày thi. Nhưng nếu xác định trước những học sinh sẽ vào đội tuyển lớp 9 thì từ
cuối năm 8, và trong hè tôi đã hướng dẫn cho học sinh các lọai sách (Trần Thành
Huế (1998), Một số vấn đề về việc dạy giỏi, học giỏi môn hoá học phổ thông
giai đoạn mới [1] , Kỷ yếu hội nghị hoá học toàn quốc lân thứ 3, Hà Nội [2];
350 bài tập hóa học chon lọc của Đào hữu Vinh [3]; Tuyển chọn đề thi tuyển
sinh vào lớp 10 chuyên môn hóa học, Phạm Thái An và Nguyễn văn Thoại [4]
.... .), tên sách,truy cứu mạng internet [5] (,
, , …) để học sinh tìm đọc hoặc cho học
sinh mượn đọc một số sách cần thiết mà tôi có hoặc là mượn và trao đổi cùng
các đồng nghiệp...
Đối với một học sinh giỏi thì yêu cầu kiến thức phải thực sự phong phú và sâu
rộng. Có như vậy các em mới tự tin, chủ động, mạnh dạn trong khi làm bài.
Kiến thức mỏng và lỏng thì không thể tránh khỏi những lúng túng, sai lầm trong
bài bởi thiếu sự liên hệ, mở rộng, nâng cao.Tôi còn tăng cường biện pháp kiểm
tra, nắm bắt vấn đề tự học và nghiên cứu của học sinh. Nếu có học sinh chưa
thực hiện đầy đủ, còn có những lỗ hổng kiến thức thì giáo viên phải đôn đốc,
nhắc nhở và có biện pháp cần thiết để học sinh làm việc. Nói tóm lại, không đọc
và không làm bài tập là một hạn chế rất lớn không tránh khỏi đối với một học
sinh giỏi. Học và làm bài tập nhiều sẽ rèn luyện về kĩ năng, kĩ xảo...của học sinh
một cách tốt nhất.
- 16 -


2.3.7. Ra đề làm bài trên lớp theo định kì. Giáo viên chấm bài, giúp học sinh
phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm.
Với môn học tự nhiên như Hóa học, thì kĩ năng trình bày bài cũng rất quan
trọng và cũng là dễ mất điểm nhiều nhất trong các cuộc thi. Vì vậy, trong quá
trình bồi dưỡng tôi luôn hướng dẫn cho học sinh cách trình bày sao cho hiệu quả

những bài tập khó và có thể góp ý và sửa sai cho nhau.
Chọn và phân bố thời gian ôn bài hợp lý: Để ôn bài hiệu quả nên chọn và phân
bổ thời gian ôn bài hợp lý nhằm giúp quá trình tự ôn bài đạt hiệu quả cao và làm
cho trí óc bớt căng thẳng. Kinh nghiệm ôn bài hiệu quả là buổi tối nên bắt đầu
học từ 19 giờ tới 23 giờ là đi ngủ. Buổi sáng, khoảng 5 giờ thức dậy và học đến
6 giờ thì nghỉ. Đây là hai mốc thời gian quan trọng mà các em dễ tự bổ sung
kiến thức nhất. Thời gian còn lại trong ngày, nếu học không vào thì nhất thiết
các em phải thay đổi địa điểm, có thể tìm những nơi yên tĩnh để học hoặc dạo
chơi cho khuây khỏa, sau đó về học tiếp.
- 17 -


Thường xuyên luyện các đề thi năm trước: Đề thi chứa các nội dung kiến thức
đầy đủ và tổng quát nhất, vì vậy luyện đề thi của các năm trước là bí quyết ôn
bài hiệu quả nhất. Học sinh không những nắm được các kiến thức đã học, bổ
sung những kiến thức còn thiếu mà còn nắm bắt được các thủ thuật làm bài thi
sao cho nhanh và chính xác nhất. Đây cũng là cách rèn luyện sự tự tin trước mỗi
kỳ thi.
Luyện thói quen ôn bài trước khi đi ngủ: Kinh nghiệm ôn bài rất hiệu quả của
các anh chị đi trước là trước lúc đi ngủ hay buổi sớm thức dậy, học sinh nên tập
thói quen nhẩm đi nhẩm lại kiến thức mà mình vừa học trong đầu để xem thử
mình đã học được bao nhiêu phần trăm. Cố gắng ghi nhớ những chi tiết chính,
đừng nên vụn vặt, nên vạch ra các ý lớn để ôn tập như nội dung các chương
trong chương trình học.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Để có được những giải học sinh giỏi, nhất là giải cao thì còn phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố học sinh trong khâu xác định đề và viết bài.Trong
quá trình bồi dưỡng phải có hướng “mở” cho học sinh. Học sinh giỏi thường có
thêm các cách giải một bài toán mà giáo viên có thể chưa nghĩ tới thì cũng nên

tuyển, có kế hoạch ngay từ đầu trong khâu tuyển chọn đội học sinh dự thi... Do
thời gian có hạn, kinh nghiệm chưa nhiều mà kiến thức thì vô cùng nên cũng
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý
thầy cô, nhất là những thầy cô trong cùng bộ môn để sáng kiến có thể phát huy
tính ứng dụng, tính hiệu quả một cách phổ biến, giúp một phần nhỏ bé của mình
trong công việc trồng người ở THCS Thạch Bình nói riêng và huyện Thạch
Thành nói chung. Vì thế, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các bạn
đồng nghiệp để tôi có thể hoàn thiện đề tài này hơn cũng như có những giải
pháp tốt hơn trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm nâng cao chất lượng,
số lượng học sinh giỏi các cấp hàng năm của trường THCS Thạch Bình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của Hiệu trưởng

Giáo viên

Hoàng Ngọc Trung

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- 19 -


[1] Một số vấn đề về việc dạy giỏi, học giỏi môn hoá học phổ thông giai đoạn
mới, Trần Thành Huế, 1998.
[2] Kỷ yếu hội nghị hoá học toàn quốc lân thứ 3, Hà Nội.
[3] 350 bài tập hóa học chon lọc của Đào hữu Vinh.
[4] Tuyển chọn đề thi tuyển sinh vào lớp 10 chuyên môn hóa học, Phạm Thái An
và Nguyễn văn Thoại, NXB Hà Nội
[5] Tên sách, truy cứu mạng internet
Nguồn: ,

3

2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

3

2.2.1.Đặc điểm tình hình

3

2.2.2. Kết quả của thực trạng

3-4

2.3. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

4-18

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục , với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:
3. Kết luận

18
18-19

- 21 -





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status