Phương pháp giải bài tập nhận biết một số hợp chất hữu cơ trong chương trnhf hóa học lớp 11 THPT - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN I

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

“PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP NHẬN BIẾT MỘT SỐ HỢP
CHẤT HỮU CƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC LỚP 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”

Người thực hiện: ĐẶNG THU HUYỀN
Chức vụ:

Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực: Hóa học.

NĂM HỌC : 2016 – 2017
MỤC LỤC


Trang
I. Mở đầu
I.1. Lý do chọn đề tài ..............................................................................................
2
I.2. Mục đích nghiên cứu...........................................................................................2
I.3. Đối tượng nghiên cứu
..................................................................................3
I.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 3
II. Nội dung
II.1. Cơ sơ lý luận ...................................................................................................3
II.2.Thực trạng của vấn đề ........................................................................................4


MỞ ĐẦU

I.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hóa học là môn học không hề đơn giản, dễ nhớ một chút nào. Nhận xét này
đúng nhưng cũng không đúng, đúng với số học sinh rất ít quan tâm đến môn Hóa,
nhưng lại không đúng đối với học sinh yêu thích và đam mê môn Hóa, môn học
bây giờ được xem không phải là môn học chính mà một môn chuyên ngành tự
chọn. Vai trò của người giáo viên dạy môn Hóa lại càng quan trọng, người thầy
không những phải không ngừng thổi ngọn lửa đam mê nhiệt huyết cho lớp học trò
để các em không ân hận đã lựa chọn môn học chuyên ngành khắc nghiệt này mà
còn gây được hứng thú cho các em học sinh khác. Hóa học vô cơ đã khó, Hóa học
hữu cơ lại càng rắc rối hơn với nhiều chủng loại, tên gọi và những công thức dài lê
thê, phản ứng phức tạp theo nhiều hướng khác nhau khó xác định “ cô ơi, khó nhớ
lắm; cô ơi, dài lắm...”
Với những lý do trên đủ để tôi thấy rằng tôi phải nghiên cứu từng vấn đề thật
tốt và thật kỹ để làm sao học sinh dễ học nhất và dễ nhớ nhất, bài tập môn Hoá rất
đa dạng và phong phú về các dạng bài tập trong đó có dạng bài tập nhận biết các
hợp chất vô cơ và hữu cơ. Qua quá trình dạy học sinh lớp 11 tôi thấy rằng các em
học sinh rất sợ học hoá hữu cơ vì các hợp chất này khó nhớ , công thức phức tạp
nên các em thường không hứng thú khi học sang phần hoá học hữu cơ .Qua những
năm giảng dạy tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm và tôi chọn đề tài :
“PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP NHẬN BIẾT CÁC HỢP CHẤT HỮU CƠ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG’’ với
mong muốn: học trò của tôi sẽ thấy học Hóa dễ dàng hơn, yêu môn hoá hơn và
không sợ môn hoá nữa.
I.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ
bản và đặc trưng nhất của các chất hữu cơ được học trong chương trình hóa học lớp
11, từ đó học sinh có kiến thức để giải bài tâp về nhận biết các chất hữu cơ đồng

- Phương pháp thống kê, phân tích số liệu
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
II.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
Nguyên tắc giải bài toán về nhận biết các chất là phải dựa vào các phản ứng
hoá học đặc trưng của chất để nhận biết, nghĩa là phản ứng dùng để nhận biết phải
là những phản ứng gây ra các hiện tượng bên ngoài mà giác quan con người có thể
cảm nhận và cảm thụ được. Cụ thể là dùng mắt để nhận biết hiện tượng hoà tan các
chất; tạo kết tủa với màu sắc khác nhau ( như Cu(OH) 2 có màu xanh, Al(OH)3 keo
trắng, Fe(OH)3 màu nâu đỏ, phenol, anilin tạo kết tủa trắng với nước brom ... ; hiện
4


tượng mất màu, tạo màu hay đổi màu ( như anken, ankin làm mất màu nước brom,
dung dịch kalipemanganat, tinh bột tạo hợp chất màu xanh tím với iot, các peptit và
protein tạo hợp chất màu tím đặc trưng với Cu(OH) 2, metylamin, etylamin làm quỳ
tím ẩm chuyển màu xanh, dung dịch axit axetic làm quỳ tím chuyển màu hồng ...).
Dùng mũi để nhận biết các mùi vị đặc trưng như NH 3 có mùi khai; SO2: sốc; H2S
mùi trứng thối ( tuy nhiên do các khí độc nên ít dùng cách này hơn). Tuyệt đối
không dùng phản ứng không đặc trưng.
Vì vậy, đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức về tính chất vật lí, tính chất
hoá học, biết phản ứng nào là đặc trưng từ đó vận dụng làm bài tập. Nhưng để nhớ
được tính chất hoá học đặc trưng của rất nhiều chất thì quả là khó khăn, và đó chính
là vấn đề mấu chốt của học sinh hiện nay khi học bộ môn Hóa học.
II.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, vấn đề dạy và học môn hoá học đã và đang đổi
mới và là một trong những môn có chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới phương pháp
dạy học.
Chương trình Sách giáo khoa hoá học mới có nhiều đổi mới về mục tiêu, cấu
trúc, sự đổi mới này rất thích hợp cho giáo viên giảng dạy bộ môn hoá học cho học
sinh. Để tiếp thu kiến thức bài học, học sinh có thể tự tham khảo, phối hợp hoạt


2,44

2

4,76

Khá

8

19,5

10

23,81

Trung
bình

25

60,96

24

57,14

Yếu


để khi học sinh gặp bất kỳ bài tập phân biệt nào cũng biết nhận dạng và nhớ
phản ứng đặc trưng của các chất để làm.
2.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
a. PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BÀY BÀI TOÁN NHẬN BIẾT CÁC CHẤT:
* Bước 1: Lấy mẫu thử.
* Bước 2: Chọn thuốc thử (tuỳ thuộc yêu cầu đề bài yêu cầu: Thuốc thử tuỳ chọn,
hay hạn chế, hay không dùng thuốc thử bên ngoài,...).
* Bước 3: Cho thuốc thử tác dụng với mẫu thử, trình bày hiện tượng quan sát được
(mô tả hiện tượng) rút ra kết luận đã nhận được hoá chất nào.
* Bước 4: Viết phương trình phản ứng minh hoạ.

6


Tôi thấy rằng bước 2 là quan trọng nhất học sinh phải xác định được phải
dùng thuốc thử nào, cách làm nào để phân biệt được. Muốn vậy các em phải nắm rõ
phản ứng đặc trưng mà các em có thể tìm hiểu qua các bảng mà tôi cung cấp sau:
b.

NHẬN BIẾT CÁC CHẤT HỮU CƠ (Tổng quát)

( Bảng này được xây dựng trên cơ sở kiến thức đã học, tốt nhất là để học sinh
tự xây dựng dưới sự hướng dẫn của giáo viên)
Chất muốn Thuốc
nhận biết
thử
Hợp chất có
liên kết bội
dd Brom
C =C

ba C ≡ C NH3
đầu mạch
Hợp chất có
nhóm
– CH = O:
Andehit,

Kết
tủa
trắng

Phai
màu
tím

OH
+ 3Br2 


Br

Br
Br

+ 3HBr

(keá
t tuû
a traé
ng)

ứng tráng
bạc) ở t0
7


Axit fomic

HCOOH+2Ag[(NH3)2]OH→(NH4)2CO3 + 2Ag↓
+H2O+2NH3
ddNH
Hay: HCOOH + Ag2O 
→ CO2 + 2Ag↓ +
H2O
3

cao.
Dẫn
xuất
của
axit
fomic.
Hợp chất có
nhóm
-CH=O,
hoặc
axit
HCOOH,
gốc fomat
Cu(OH)2/
HCOOOHAncol


t



RCOOH + Cu2O↓

Tạo dd
CH2 − OH
HO − CH2 CH2 − OH HO − CH2
]
màu
CH − OH + Cu(OH)2 + HO − CH → CH − O − Cu − O − CH + 2H2O
^
xanh lam CH2 − OH
HO − CH2 CH2 − OH HO − CH2
trong Hoặc
suốt
2C3H8O3 + Cu(OH)2 → (C3H7O3)2Cu + 2H2O
Kết tủa R − CHO + NaHSO3 → R − CHOH − OSO2Na↓
dạng kết
( Dùng cho HS chuyên hoặc luyện thi HSG)
tinh
Sủi bọt 2R − OH + 2Na → 2R −ONa + H2↑
khí
2R − COOH + 2Na → 2R −COONa + H2↑
không
2C6H5 − OH + 2Na → 2C6H5 −ONa + H2
màu


dd Br2
Anken

Ankađien

Ankin

Toluen

dd KMnO4

dd Br2 hoặc dd Mất
KMnO4.
màu
Mất
dd Br2
màu
mất
dd KMnO4
màu
kết
AgNO3/NH3
tủa
(có nối ba
màu
C ≡ C
đầu
vàng
mạch)
nhạt


3CnH2n + 2KMnO4 + 4H2O
2MnO2 + 2KOH
CnH2n−2 + 2Br2 → CnH2nBr4
CnH2n−2 + 2Br2 → CnH2nBr4
3CH≡ CH+8KMnO4
8MnO4↓+8KOH



3HOOC−COOH

+

HC ≡ CH + 2[Ag(NH3)2]OH → Ag − C ≡ C −Ag↓
+ 2H2O + 4NH3
R−C ≡ C−H + [Ag(NH3)2]OH → R−C ≡ C−Ag↓ +
H2O + 2NH3
CH ≡ CH + 2CuCl + 2NH3 → Cu − C ≡ C − Cu↓ +
2NH4Cl
R − C ≡ C − H + CuCl + NH3 → R − C ≡ C − Cu↓ +
NH4Cl
COOK

CH3

+ 2MnO2 +KOH+H2O

HO


đa chức

Phenol
Anđehit

CuO (đen)
t0

CuO (đen) t

0

Cu(OH)2

nước Brom

không
màu
Cu
(đỏ),
Sp
cho
pứ
tráng
gương
Cu
(đỏ),
Sp
không
pứ


→R
0

HO − CH2

− CO − R′ + Cu +

CH2 − OH HO − CH2
]

CH − OH + Cu(OH)2 + HO − CH → CH − O − Cu − O − CH + 2H2O
CH2 − OH

Hoặc
2H2O

^

HO − CH2

CH2 − OH HO − CH2

2C3H8O3 + Cu(OH)2 → (C3H7O3)2Cu +

OH

OH
+ 3Br2 


NaOH, t0

0

10


nên chỉ phản ứng với liên kết
không no.
Chất

Thuốc thử

Quì tím

Hiện
tượng

Lưu ý:
- Riêng
axit
anđehit nên
dùng
Phản ứng tráng bạc,
dịch KMnO4.

-

Phản ứng


d. MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP NHẬN BIẾT
11


DẠNG 1: NHẬN BIẾT BẰNG THUỐC THỬ TỰ CHỌN
Phương pháp làm bài tập dạng này là ta có thể dùng bất cứ chất nào là
phản ứng đặc trưng của chất để làm thuốc thử, không giới hạn thuốc thử.
• Trường hợp 1: Nhận biết chất khí
Phương pháp chung: Dùng tính chất vật lí ( màu sắc, mùi vị, tính tan...) hoặc
dùng tính chất hóa học ( các phản ứng đặc trưng).
Ví dụ 1: Bằng phương pháp hóa học nhận biết các chất khí đựng trong các
bình mất nhãn sau, viết các phương trình minh họa: etan, etilen, axetilen.
Hướng dẫn:
- GV hướng dẫn học sinh tự chọn thuốc thử phù hợp để nhận biết các chất khí
và thao tác làm bài tập nhận biết các chất khí ( dẫn các khí lần lượt qua các
dung dịch thuốc thử)
- Dùng dung dịch AgNO3/NH3 : nhận biết được khí C2H2 do tạo kết tủa vàng
nhạt.
- Dùng dung dịch brom: nhận biết được khí C 2H4 do làm nhạt màu nước
brom.
- Khí còn lại không có hiện tượng gì là etan.
- Phương trình hóa học:
HC ≡ CH + 2[Ag(NH3)2]OH →Ag − C ≡ C −Ag↓ + 2H2O + 4NH3
C2H4 + Br2 → C2H4 Br2
Ví dụ 2: Bằng phương pháp hóa học nhận biết các chất khí đựng trong các
bình mất nhãn sau, viết các phương trình minh họa: etan, etilen, axetilen,
sunfurơ.
Hướng dẫn:
- Dùng dung dịch Ca(OH)2 : nhận ra khí SO2 do tạo kết tủa trắng, làm vẩn đục
dung dịch nước vôi trong.

phenol

axit axetic

benzen

thuốc thử
Quỳ tím
Dd
Br2
Na

Không hiện Không hiện Không hiện
tượng
tượng
tượng

nước Không hiện
tượng
Phai màu
Tạo khí

Tạo↓ trắng

Đỏ

Không hiện
tượng
Không hiện
tượng

(2)
Dd brom
Không
hiện mất màu
Không hiện mất màu
(1)+(2)
tượng
tượng
Phương trình:
CH2=CH-COOH + Br → CH2Br-CHBr-COOH
CH2=CH-CH2-OH
+ Br → CH2Br-CHBr-OH
Ví dụ 3: Bằng phương pháp hóa học nhận biết các chất sau:
Benzen, toluen, stiren, hex-1-in.
Hướng dẫn:
Dùng dung dịch KMnO4 :
- Ở t0 thường, nhận ra stiren và hex-1-in làm mất màu dung dịch KMnO4. (1)
- Đun nóng 2 ống còn lại lên, nhận ra toluen làm mất màu dung dịch KMnO4.
Chất còn lại không hiện tượng gì là benzen.
- Nhóm (1): cho stiren và hex-1-in vào dung dịch AgNO 3/NH3, nếu tạo kết tủa
vàng nhạt là hex-1-in.
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập bảng:
Phương trình hóa học: HS tự viết.
chất nhận Benzen
Toluen
Stiren
Hex-1-in
biết
thuốc thử
Dd KMnO4

Bước 2: Nếu vẫn chưa nhận biết được hết, lấy hoá chất vừa nhận được làm thuốc
thử để thử tiếp đến khi nào nhận biết hết thì thôii.
- Một số thuốc thử hay gặp : dung dịch AgNO3 /NH3, Cu(OH)2, đôi khi còn là quỳ
tím
* Trường hợp 1: Nhận biết chất khí
Ví dụ 1: Chỉ dùng 1 hóa chất làm thuốc thử, phân biệt các cặp chất khí sau:
a, Metan và etilen
b, Metan và axetilen
c, etilen và axetilen
d, But-1-in và but-2-in.
Hướng dẫn:
Giáo viên gợi ý cho học sinh tìm các hóa chất có thể dùng làm thuốc thử để
phân biệt các khí qua các hiện tượng ( mất màu, tạo kết tủa, tạo màu...) nhìn dễ
dàng bằng mắt thường được.
a, Metan và etilen
15


-

-

-

Có thể dùng các thuốc thử: dung dịch brom hoặc dung dịch KMnO4:
Chất làm nhạt màu thuốc thử là etilen, còn lại là metan.
b, Metan và axetilen
Có thể dùng các thuốc thử: dung dịch brom hoặc dung dịch KMnO4:
Chất làm nhạt màu thuốc thử là axetilen, còn lại là metan.
Có thể dùng dung dịch AgNO3/NH3: Chất tạo kết tủa vàng nhạt là axetilen,


- Có thể dùng thuốc thử là brom khan hoặc dung dịch Br 2/CCl4: chất làm nhạt
màu dung dịch là C2H4, còn lại là HCHO.
c, fomanđehit và axetilen
- Có thể dùng thuốc thử là dung dịch AgNO 3/NH3 ở điều kiện thường: chất
phản ứng tạo kết tủa vàng nhạt là C2H2, còn lại là HCHO.
- Có thể dùng thuốc thử là Cu(OH)2/NaOH, t0: chất phản ứng tạo kết tủa đỏ
gạch Cu2O là HCHO, còn lại là C2H2.
- Có thể dùng thuốc thử là brom khan hoặc dung dịch Br 2/CCl4: chất làm nhạt
màu dung dịch là C2H2, còn lại là HCHO.
* Trường hợp 2: Nhận biết chất lỏng
Ví dụ 1: Chỉ dùng 1 hoá chất làm thuốc thử hãy nhận biết các hoá chất sau:
phenol, axit acrylic, và etanol.
Hướng dẫn:
Cho nước brom vào từng mẫu thử nếu thấy :
+ xuất hiện kết tủa trắng là phenol.
OH

OH
+ 3Br2 


Br

Br
Br

+ 3HBr

(keá

+ Cu(OH)2 bị hoà tan và thu được dung dịch màu xanh nhạt là axit axetic
2CH3COOH + Cu(OH)2 → (CH3COO)2Cu + 2H2O
+ Cu(OH)2 bị hoà tan và thu được dung dịch màu xanh lam là glixerol
2CHO + Cu(OH) → (CHO)Cu + 2HO
+ 2 trường hợp còn lại không hiện tượng ở nhiệt độ thường , đun nóng lên nếu có
kết tủa đỏ gạch là anđehit axetic
to
CH3CHO + 2Cu(OH)2 + NaOH →
CH3COONa + Cu2O ↓ + 3H2O
Chất còn lại không hiện tượng là ancol etylic.

Trong trang này, ví dụ 3 lấy từ tài liệu tham khảo số 1, ví dụ 4 lấy từ tài liệu tham khảo số 5.

* BÀI TẬP ÁP DỤNG
Câu 1: Chỉ dùng 1 thuốc thử hãy phân biệt các chất trong các dãy sau:
a) propan và propen.
b) but-1-in, buta-1,3-đien.
c) benzen,etylbenzen, stiren.
d) phenol, stiren, etylbenzen.
e) glixerol, axit metanoic, etanal, etanol.
Câu 2: Chỉ dùng 1 hóa chất làm thuốc thử, phân biệt các chất lỏng: ancol etylic,
phenol, axit fomic.
18


Câu 3: Chỉ dùng quỳ tím và 1 hóa chất khác làm thuốc thử, phân biệt các dung
dịch: ancol etylic, axit axetic, axit fomic, anđehit axetic.
Câu 4: Chỉ dùng tối đa 2 chất thử hãy phân biệt các chất lỏng sau: hex-1-in,
propanol, propanal,axit acrylic, dung dịch formon.
* MỘT SỐ BÀI TẬP NHẬN BIẾT DẠNG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

A. Quỳ tím, nước brom
C. Quỳ tím, Br2/ CCl4
B. Quỳ tím, dung dịch KMnO4
D. dung dịch HCl, dung dịch NaHCO3.
Trong trang này, các bài tập lấy từ nguồn tài liệu tham khảo số 8.

II.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tôi đã tiến hành giảng dạy theo phương pháp này và áp dụng cho lớp
thực nghiệm 11A8, lớp không áp dụng dùng để đối chứng 11A7 và tôi thấy rằng,
phương pháp này thực sự lôi cuốn học sinh, đa số học sinh nhớ và hiểu bài, thuộc
được tính chất vật lí cũng như tính chất hóa học đặc trưng của các chất hữu cơ đã
học, biết cách nhận biết chúng và vận dụng được để giải các bài toán hóa học
khác. Trong các tiết học đã thấy sự sôi nổi, hăng say phát biểu bài, các em dành
19


nhiều thời gian các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ để chữa bài tập Hóa. Điều này
làm cho tôi cảm thấy có động lực hơn, yêu học sinh hơn và yêu nghề hơn.
Kết quả thu được như sau:
1. Điểm kiểm tra học kỳ II:
LỚP ĐÃ DẠY
Lớp đối chứng
11A7

Lớp thực nghiệm
11A8

Điểm

Số lượng


58,54

12

28,57



21,95

18

42,86

Trung
bình

28

68,29

14

33,33

Yếu

2

4,88

0

0

Tổng


tạo hứng thú trong học tập, dẫn dắt học sinh từ chỗ chưa biết đến biết, từ dễ đến
khó.
Đối với học sinh, cần phải thường xuyên rèn luyện, tìm tòi, học hỏi nhằm
củng cố và nâng cao vốn kiến thức cho bản thân.
Trên đây là một số kỹ năng giúp học nhận biết các chất nhanh, chính xác và
phù hợp với trình độ nhận thức chung của các em học sinh ở trường THPT mà tôi
đã áp dụng vào giảng dạy cho các em và đã thu được kết quả nhất định. Mặt khác
trong sách giáo khoa và các sách tham khảo không đề cập hoặc có nhưng chưa đầy
đủ đến vấn đề này. Mỗi phương pháp tôi cố gắng đưa ra một số cách nhận biêt theo
dạng hợp chất được phân loại để học sinh dễ dàng nắm bắt và yêu thích bộ môn
hơn.
2. Kiến nghị
Để nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học ở trường THPT, tôi đề nghị
Ban giám hiệu nhà trường, các ban ngành liên quan thuộc Sở giáo dục và đào tạo
Thanh Hóa sớm hoàn thành phòng học bộ môn, bổ sung đầy đủ dụng cụ và hóa
chất phục vụ cho các thí nghiệm minh họa hóa học bởi đối thí nghiệm là linh hồn
của bộ môn Hóa học.
Trong đề tài này, tôi chỉ chọn một số chất hữu cơ đã học trong chương trình
hóa lớp 11 để làm ví dụ thực hiện, rất mong sự đóng góp ý kiến của các đồng
nghiệp và của hội đồng xét duyệt sáng kiến kinh nghiệm các cấp để đề tài này hoàn
thiện hơn, tôi sẽ thực hiện áp dụng được cho cả các chất hữu cơ trong toàn bộ
chương trình hóa học phổ thông.
Xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 22 tháng 05 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.



Bài tập lý thuyết và thực nghiệm hoá học (tập 2)- Cao Cự Giác

7.

Sơ đồ phản ứng và dãy chuyển hóa các chất hữu cơ – Lê Ngọc Tú

8.

Nguồn tài liệu trên mạng internet.

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status