Tạo hứng thú học tập môn vật lý cho học sinh theo hướng tiếp cận thực tiễn thông qua bài “các dạng cân bằng cân bằng của một vật có mặt chân đế” - Pdf 43

MỤC LỤC
Phần I: mở đầu: ………………………………………………………………….1
1.1.Lý do chọn đề tài…………………………………………………………….1
1.2.Mục đích nghiên cứu: ………….……………….………………………..….1
1.3.Đố tượng nghiên cứu………………………………………………………...1
1.4.Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………….2
Phần II: Nội dung sáng kiến kinh nghiệm……………………………………….3
2.1.Cơ Sở lý luận………….……………………………………….…………….3
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm…………...….3
2.3. Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề……………………….…………….4
2.3.1. Mục tiêu …………………………………………………………….…….4
2.3.2. Chuẩn bị…………………………………………………………...………4
2.3.3. Tổ chức hoạt động dạy học…………………………………………..……5
2.4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm……………………………………….….13
Phần III: Kết luận và kiến nghị…………………………………………………15
3.1. Kết luận……………………………………………………………………15
3.2. Kiến nghị ……………………………………………….…………………15

0


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. 1. Lí do chọn đề tài
Một trong những nhiệm vụ của dạy học trong nhà trường là trang bị cho
học sinh một hệ thống kiến thức vững chắc, hình thành kỹ năng và giúp các em
vận dụng vào thực tiễn và đời sống. Điều này càng có ý nghĩa hơn đối với môn
vật lí, bởi vật lí là một trong số ít môn học có mối quan hệ rất chặt chẽ với kỹ
thuật, tự nhiện và đời sống. Vật lí không phải chỉ là các phương trình và con số.
Vật lí giúp chúng ta hiểu về các hiện tượng tự nhiên như màu sắc cầu vòng, ánh
sáng lung linh và tính cứng rắn của viên kim cương. Nó có liên quan đến việc đi
bộ, chạy, đi xe đạp, lái ô tô và cả việc điều khiển một con tàu vũ trụ ...

1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Các học sinh lớp 10 tại trường Trung học phổ thông Quảng Xương 3- Sầm Sơn
– Thanh Hóa.
- Bài “Các dạng cân bằng. Cân bằng của một vật có mặt chân đế”Chương trình vật lý 10 trung học phổ thông ban cơ bản.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp điều tra.
- Lấy ý kiến đóng góp, trao đổi, chia sẻ của đồng nghiệp.
- Thực nghiệm sư phạm

0


PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận:
Tạo hứng thú cho người học luôn là một vấn đề quan trọng trong hoạt động
dạy - học. Bởi vì, như chúng ta biết, dạy - học là một hoạt động phức tạp, trong
đó chất lượng, hiệu quả cơ bản phụ thuộc vào người học. Và điều này lại phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, như: năng lực nhận thức, động cơ học tập, sự quyết
tâm...; nó còn phụ thuộc vào: môi trường học tập, người tổ chức quá trình dạy
học, sự hứng thú trong học tập.
Các nhà nghiên cứu tâm lý học cho rằng, hứng thú là thái độ đặc biệt của cá
nhân đối với đối tượng nào đó, nó có ý nghĩa đối với cuộc sống và có khả năng
mang lại khoái cảm cá nhân trong quá trình hoạt động. Sự hứng thú biểu hiện
trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủ thể hoạt động. Sự hứng
thú gắn liền với tình cảm con người. Trong bất cứ công việc gì, nếu có hứng thú
làm việc, con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, làm nảy sinh khát
vọng hành động một cách có sáng tạo. Ngược lại, nếu không có hứng thú, dù là
hoạt động gì cũng sẽ không đem lại hiệu quả cao. Đối với các hoạt động nhận
thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không có hứng thú, kết quả sẽ không là gì

dàng.
Tuy nhiên, trong thực tế quá trình giảng dạy, đa số giáo viên chỉ cung cấp
và giảng dạy theo kiến thức sách giáo khoa đế đảm bảo đủ, đúng nội dung và
đúng thời gian quy định. Chính vì thế, học sinh đôi lúc không biết học các kiến
thức đó để làm gì và học sinh không tìm thấy sự say mê học tập, khám phá. Để
phần nào giải quyết vấn đề này của học sinh, tôi quyết định chọn đề tài: “Tạo
hứng thú học tập môn vật lý cho học sinh theo hướng tiếp cận thực tiễn
thông qua bài:Các dạng cân bằng. Cân bằng của một vật có mặt chân đế”..
Với mong muốn được góp một phần nhỏ bé của mình vào sự nghiên cứu và vận
dụng vật lý vào thực tiễn trong giảng dạy vật lý trung học phổ thông, giúp học
sinh có thêm hứng thú học tập.
2.3. Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề:
Sau khi đã học xong bài “Các dạng cân bằng. Cân bằng của một vật có
mặt chân đế” để tăng thêm hứng thú học tập, lĩnh hội kiến thức của
học sinh giáo viên chọn giải pháp thiết kế tiết học tự chọn để học sinh
vận dụng kiến thức đã học giải thích một số vấn đề thực tiễn.
Dựa vào mục tiêu, nội dung kiến thức của bài và sự ứng dụng của các kiến
thức để xác định các vấn đề thực tiễn phù hợp với khả năng, nhận thức, trình độ
vận dụng kiến thức của học sinh. Trong phạm vi kiến thức của bài tôi chỉ đưa ra
một số vấn đề trong các bài tập để học sinh giải quyết như sau:
Vấn đề 1: An toàn giao thông đối với xe tải chở hàng hóa.
Vấn đề 2: Tìm hiểu việc ảnh hưởng của sự cân bằng của các vật, các vấn đề
chưa biết xung quanh việc giữ thăng bằng của diễn viên xiếc, chế tạo đồ chơi
con lật đật, con chim, con chuồn chuồn đậu trên cành cây.
Vấn đề 3: Liên hệ thực tế về vấn đề an toàn trong nghề nghiệp?( trong giao
thông, trong biểu diễn nghệ thuật- xiếc...)
2.3.1. Mục tiêu:
- Học sinh vận dụng được kiến thức đã học để phân biệt được các dạng cân bằng
trong thực tế.
- Học sinh giải thích được các vấn đề trong thực tế có liên quan như:cách giữ

- Tài liệu cho học sinh: sách giáo khoa, mạng internet...
b) Học sinh
- Ôn tập lại kiến thức về các dạng cân bằng, điều kiện cân bằng của một vật có
mặt chân đế.
- Tìm hiểu về các dạng cân bằng. Điều kiện cân bằng của một vật có mặt chân
đế trong thực tế qua sách giáo khoa, báo chí, các thông tin trên mạng internet.
2.3.3. Tổ chức hoạt động dạy- học : (2 tiết )
Hoạt động 1: Kiểm tra lý thuyết
- GV: Chiếu câu hỏi lên bảng
Câu 1:Nêu các dạng cân bằng? Nguyên nhân gay ra các dạng cân bằng đó?
Câu 2:Nêu khái niệm mặt chân đế?Điều kiện cân bằng của vật có mặt chân
đế?
- HS: Trả lời câu hỏi
Câu 1: Có ba dạng cân bằng là cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng
phiếm định.
- Khi vật bị kéo ra khỏi vị trí cân bằng một chút mà trọng lực của vật có xu
hướng :
+ kéo nó trở về vị trí cân bằng, thì đó là vị trí cân bằng bền; Ví dụ: con lật
đật, con chuồn chuồn tre.
+ kéo nó ra xa vị trí cân bằng, thì đó là vị trí cân bằng không bền; Ví dụ:
nghệ sĩ xiếc đứng thăng bằng trên dây.
+ giữ nó đứng yên ở vị trí mới, thì đó là vị trí cân bằng phiếm định.
0


Nguyên nhân gây ra các dạng cân bằng khác nhau đó là vị trí trọng tâm của vật.
+ Trường hợp cân bằng không bền, trọng tâm ở vị trí cao nhất so với các vị
trí lân cận.
+ Trường hợp cân bằng bền, trọng tâm ở vị trí thấp nhất so với các vị trí lân
cận.

nghành giao thông vận tải- chở hàng hóa, trong ngành nghệ thuật xiếc, hay tìm
hiểu về làng nghề truyền thống làm đồ chơi chuồn chuồn tre, bồ câu tre, lật
đật....
* Hệ thống bài tập thực tiễn để kiểm tra ,đánh giá học sinh.
Câu 1:Một viên bi nằm cân bằng trong một cái lỗ trên mặt đất, dạng cân bằng
của viên bi khi đó là:
A.cân bằng không bền.
0


B. lúc đầu cân bằng bền, sau đó là cân bằng phiếm định
C. cân bằng phiếm định.
D. cân bằng bền.
Câu 2:Dạng cân bằng của nghệ sĩ xiếc đang đứng trên dây là :
A. Cân bằng bền.

B. Cân bằng không bền.
C. Cân bằng phiến định.
D. Không thuộc dạng cân bằng nào cả.
Câu 3: Chọn đáp án đúng.
Ôtô chở hàng nhiều, chất đầy hàng nặng trên nóc xe dễ bị lật vì:
A. Vị trí của trọng tâm của xe cao so với mặt chân đế.
B. Giá của trọng lực tác dụng lên xe đi qua mặt chân đế.
C. Mặt chân đế của xe quá nhỏ.
D. Xe chở quá nặng.
Câu 4: Mặt chân đế của chiếc bàn ( tiếp xúc với mặt đất bằng 4 chân bàn) là:
A. toàn bộ diện tích tiếp xúc của vật với sàn.
B. đa giác lồi lớn nhất bao bọc tất cả các diện tích tiếp xúc.
C. phần chân của vật.
D. đa giác lồi nhỏ nhất bao bọc tất cả các diện tích tiếp xúc của chân bàn với sàn

điều đó đã làm tăng mức vững vàng của
người, do vậy đội bên kia khó làm cho đội
mình ngã.
Câu 9: Những người công nhân khi vác những bao hàng nặng thường chúi
người về phía trước một chút? Hãy giải thích vì sao?
Hướng dẫn: Người công nhân đang vác nặng có một lực đáng kể tác dụng lên
vai. Khi đó khối tâm ở vị trí cao( cân bằng không bền, dễ ngã) và hơi lệch về
phía sau so với mặt chân đế nên bao hàng dễ rơi ra. Để tăng mức vững vàng,
người này phải hạ thập trọng tâm. Bao hàng có khối tâm tương đói cao. Vì vậy
0


họ thường chúi người vê phía trước để hạ thấp trọng tâm và đưa trọng tâm của
bao hàng rơi vào mặt chân đế.
Câu 10: Đang ngối ghế muốn đứng lên ta phải nghiêng người về phía trước, hãy
giải thích tại sao?
Hướng dẫn: Ngồi thật thẳng lưng và không kéo lui chân phía dưới gầm ghế ta
không thể đứng lên mà cứ để yên chân như thế nếu không nghiêng người về
phía trước. Trọng tâm của phần thân trên một người đang ngồi thì ở bên trong cơ
thể. Kẻ đường dây dọi từ điểm ấy xuống dưới thì nó sẽ đi qua mặt ghế xuống
dưới phía sau bàn chân. Mà người muốn đứng dậy được thì đường thẳng đứng
đó lại phải qua giữa hai chân. Điều kiện cân bằng của một vật có mặt chân đế là
giá của trọng lực phải xuyên qua mặt chân đế. Vậy muốn đứng lên được ta phải
khom lưng về đằng trước để chuyển trọng tâm đi cho thích hợp hoặc kéo chân
về phía sau để đưa chân đến phía dưới trọng tâm. Nếu không dùng một trong hai
cách trên, việc đi lại sẽ gặp khó khăn.
Câu 11: Quan sát các võ sĩ thi đấu thấy họ thường đứng ở tư thế hơi khụy gối
xuống một chút và hai chân dang rộng hơn so với mức bình thường. Tư thế này
có tác dụng gì?
Hướng dẫn: Tư thế này giúp cho võ sĩ đứng vững vàng hơn rất nhiều và khó đổ

con chuồn chuồn tre trọng tâm nó thấp
hơn điểm tựa nhưng đường kéo dài đi qua
điểm ấy, điểm tựa ko đổi khi chơi (đè đẩy
nó lên xuống ).
Ở con lật đật trọng tâm ở trên cao hơn
nhưng đường kéo dài cũng đi qua điểm ấy,
điểm tựa thay đổi khi chơi (đẩy nó).
Câu 13: Lúc đi bộ trên băng, người ta cố gắng đi thẳng chân. Tại sao?
- Nếu người đi bộ không cong chân thì trọng lượng toàn thân truyền lên bề
mặt của bàn chân. Khi cong chân lại thì thành phần tiếp tuyến của trọng lực xuất
hiện và đặt vào chân. Do ma sát trên băng nhỏ hơn nên thành phần này của trọng
lượng làm trượt ngã. Vì vậy, đi cong chân người ta bị trượt nhiều hơn, và có thể
bị ngã ngay.
Câu 14: Tại sao không thể đứng vững bằng một chân được?
Hướng dẫn: Trong trường hợp này mặt chân đế bị giảm nhiều. Khi lệch khỏi vị
trí cân bằng một chút thì đường thẳng đứng qua trọng tâm sẽ không đi qua mặt
chân đế và người sẽ ở vị trí không cân bằng.
Câu 15: Tại sao lúc đi bộ người ta lại vung tay?
Hướng dẫn: Khi người đưa chân về phía trước, trọng tâm cũng chuyển về phía
trước một chút. Để giữ được vị trí ban đầu của trọng tâm người ta phải đưa tay
ra phía sau. Sự lần lượt thay đổi vị trí của tay và chân được lặp đi lặp lại trong
mỗibướcđi.

0


Câu 16: Khi một người xách thùng nước bằng tay phải, người ấy nghiêng mình
về bên trái và giơ tay trái (không phải cầm gì). Làm như thế nhằm mục đích gì?
Hướng dẫn: Trong trường hợp trọng tâm bị chuyển dịch theo hướng bất lợi, con
người có thể trong một giới hạn nào đó chuyển trọng tâm chung của mình theo

Hướng dẫn: Hình trụ nghiêng tất phải đổ nhưng nếu nó đủ to để đường dây dọi
kẻ từ trọng tâm nó đi qua bên trong mặt chân đế của nó. Vì thế hình trụ nghiêng
tất phải đổ, nhưng nếu nó đủ to để cho đường dây dọi kẻ từ trọng tâm nó đi qua
mặt chân đế của nó thì trụ sẽ không đổ. Những cái đó gọi là ‘tháp đổ ’ giống như
tháp đổ Pisa (Ý) mặc dù nghiêng nhưng không đổ cũng vì đường dây dọi kẻ từ
0


trọng tâm của nó đi qua bên trong phạm vi mặt chân đế. Mặt khác cũng vì chân
móng của chúng rất sâu.

Câu 22:. Lúc đi bộ trên băng, người ta cố gắng đi thẳng chân. Tại sao?
Hướng dẫn: Nếu người đi bộ không cong chân thì trọng lượng toàn thân
truyền lên bề mặt của bàn chân. Khi cong chân lại thì thành phần tiếp tuyến của
trọng lực xuất hiện và đặt vào chân. Do ma sát trên băng nhỏ hơn nên thành
phần này của trọng lượng làm trượt ngã. Vì vậy, đi cong chân người ta bị trượt
nhiều hơn, và có thể bị ngã ngay.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Học sinh: Tăng cường sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải
mái của học sinh. Học sinh được học sâu và hiệu quả bền vững do được học một
nội dung theo nhiều cách khác nhau dựa trên nền tảng các vấn đề thực tiễn xảy
ra xung quanh mình. Đồng thời, khuyến khích học sinh giải quyết các vấn đề
thực tiễn cũng như các hoạt động tập thể để rèn luyện, phát triển nhân cách của
học sinh một cách toàn diện.
Sau tiết học học sinh được chủ động tiếp nhận kiến thức và được vận dụng
kiến thức vào các vấn đề thực tiễn gần gũi với cuộc sống xung quanh nên các
kiến thức được các em nhớ lâu và hiểu sâu hơn, vận dụng thành thạo hơn. Sau
bài học các em thấy cuộc sống xung quanh mình gần gũi với những kiến thức
mà thầy cô đã truyền đạt . Và hơn nữa đi đến đâu ta cũng có những cái nhìn, cái
suy nghĩ nhất định về những vấn đề liên quan đến kiến thức chúng ta đã học.


42

21

50

20

47.6

1

2.4

10A3

44

20

45.4

20

45.4

4

9.2


PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Đối chiếu với mục đích và nhiệm vụ của đề tài, tác giả đã giải quyết được
một số vấn đề và thu được kết quả như sau:
+ Đa số học sinh rất thích thú, tích cực với các giờ học. Các em tích cực,
tăng niềm đam mê ham thích tìm hiểu kiến thức thực tiễn, chủ động tiêp nhận
thêm nhưng điều lí thú xung quanh sau mỗi giờ học.
+ Kích thích sự tìm tòi ham mê khám phá từ đó có sự chuẩn bị kỹ càng và
tìm hiểu nhiều hơn về mỗi bài học trước khi tới lớp.
+ Kết quả kiểm tra thường xuyên và học kỳ tăng lên rõ rệt khi có sự vận
dụng kiến thức liên môn giúp học sinh khắc sâu kiến thức của bài học.
+ Học sinh được phát triển thêm về nhiều kỹ năng bổ trợ như khả năng
làm việc hợp tác theo nhóm; các em được tập làm việc ở các vị trí khác nhau
trong nhóm; trưởng nhóm, thành viên của nhóm tùy theo sự phân công ở các chủ
đề học tập; khả năng thuyết trình trước tập thể, kỹ năng tìm kiếm, xử lý và sử
dụng thông tin khai thác được; kỹ năng sử dụng tin học, kỹ năng thực hành vật

2. Kiến nghị
- Nhà trường cần quan tâm hơn nữa đến các buổi học ngoại khóa nói chung
và ngoại khóa môn Vật lý nói riêng; cần có thời gian biểu cụ thể cho vấn đề này;
cần trang bị các phòng học bộ môn có chất lượng cao, có đầy đủ các thiết bị
phục vụ cho bài giảng. Đặc biệt là các dụng cụ thí nghiệm phục vụ cho các môn
khoa học thực nghiệm. Giáo viên giảng dạy cần truyền thụ những kiến thức về
việc giáo dục bảo vệ môi trường trong các bài học.
- Nhà trường, tổ chuyên môn cần tạo điều kiện, khuyến kích và có chế độ
đối với các giáo viên trong việc tổ chức các buổi thảo luận, các buổi ngoại khóa
để tạo niềm đam mê và bầu không khí sôi nổi trong quá trình học tập và giảng
dạy.
Dù đã rất nhiều cố gắng, làm việc với tinh thần hăng say nhất, nhưng là một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status