BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ BÁ HUY
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng – Năm 2013
Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Võ Xuân Tiến
Phản biện 1: PGS.TS. Bùi Quang Bình
Phản biện 2: PGS.TS. Phạm Hảo
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ kinh tế họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 15
tháng 6 năm 2013
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển nguồn nhân
lực.
- Phân tích thực trạng việc phát triển nguồn nhân lực là đội ngũ giáo
viên dạy bậc phổ thông thành phố Đà Nẵng thời gian qua.
2
- Đề xuất những giải pháp phát triển nguồn nhân lực là đội ngũ giáo viên
dạy bậc phổ thông tại thành phố Đà Nẵng trong 5 năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
phát triển nguồn nhân lực là đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông ngành
giáo dục và đào tạo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Do điều kiện thời gian và để đi sâu tìm hiểu, nên đề tài
tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát tiển nguồn nhân lực
là đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông ngành giáo dục và đào tạo thành
phố Đà Nẵng. Còn đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ phục vụ thì đề tài
chưa tập trung nghiên cứu.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu các vấn đề trên ở thành phố Đà Nẵng.
- Về không gian: Các giải pháp đề xuất của luận văn có ý nghĩa từ
nay đến 5 năm tiếp theo.
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo… luận
văn kết cấu gồm 3 chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực ngành giáo
dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng thời gian qua
và cống hiến.
1.1.2. Đặc điểm nguồn nhân lực trong ngành giáo dục và đào tạo
gồm có 3 đặc điểm sau:
- Bộ phận nguồn nhân lực có trình độ học vấn khá cao, hầu hết được
đào tạo cơ bản, hệ thống về chuyên môn nghiệp vụ.
4
- Kết quả hoạt động của nguồn nhân lực là đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ
thông chỉ phụ thuộc vào bản thân nó mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội.
- Chất lượng nguồn nhân lực của đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông
là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực chung của nền kinh tế, tổ chức, đơn vị.
1.1.3. Ý nghĩa của việc phát triển nguồn nhân lực là đội ngũ giáo
viên phổ thông
- Là một trong những nhân tố, điều kiện quyết định đến sự phát triển
nguồn nhân lực chung của xã hội, từ đó quyết định đến sự phát triển kinh
tế - xã hội.
- Là con đường giúp cho bậc học này nâng cao năng suất, chất lượng
và hiệu quả công tác đào tạo. Đặt ra những yêu cầu cao về phương diện
thể lực, trí lực và phẩm chất tâm lý.
- Tạo điều kiện để đội ngũ giáo viên của bậc học này được nâng cao
kiến thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phát triển kỹ năng, nâng cao
nhận thức, đáp ứng được nhiệm vụ hiện tại và tương lai.
- Giúp cho lãnh đạo ngành, lãnh đạo nhà nước và các cấp chính quyền
có cách nhìn mới, đây đủ hơn về xây dựng đội ngũ giáo viên có đủ năng
lực, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ … đáp ứng yêu cầu phát triển
chung của ngành và toàn xã hội.
1.2. NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Cơ cấu nguồn nhân lực là đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông được xác
định và phân theo các loại: Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo cấp học, cơ cấu
đội ngũ giáo viên theo ngành (môn học), cơ cấu đội ngũ giáo viên theo địa
bàn công tác, cơ cấu đội ngũ giáo viên theo nhóm tuổi …
1.2.2. Nâng cao năng lực của nguồn nhân lực
a. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn nhân lực
Theo nghĩa hẹp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động
được hiểu là cấp bậc đào tạo hay trình độ chuyên môn được đào tạo để
người lao động thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do tổ chức phân công. Theo
nghĩa rộng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động là toàn bộ
những năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi) về một lĩnh vực cụ thể
6
nắm vững được bởi cá nhân người lao động, sự phối hợp những năng lực
đó hợp thành tổng thể thống nhất cho phép thực hiện một số hoạt động
hoặc hoạt động cụ thể cho một phạm vi nghề nghiệp nhát định.
Phát triển trình độ chuyên môn nghiệp vụ là nâng cao trình độ đào
tạo, nâng cao kiến thức chuyên môn, phát triển năng lực nghề nghiệp cho
người lao động để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ hiện tại, mục tiêu chiến
lược trong tương lai và được thể hiện bằng kết quả tham gia hoạt động
thực tế của người lao động trong ngành nghề đó.
b. Nâng cao kỹ năng của nguồn nhân lực
Kỹ năng là việc nắm vững, sự thuần thục các công cụ, các kỹ thuật
hay các phương pháp cần thiết để thực hiện một hoạt động cụ thể nào đó.
Kỹ năng chỉ có thể lĩnh hội được thông qua tình huống thực tế hoặc mô
phỏng thực tế.
Phát triển kỹ năng của người lao động là làm gia tăng sự khéo léo, sự
thuần thục và sự nhuần nhuyễn; là nâng cao khả năng của người lao
động trên nhiều khía cạnh để đáp ứng các yêu cầu cao hơn trong hoạt
được nhu cầu của người lao động, thể hiện bằng những yếu tố tạo ra
động lực làm việc có hiệu quả của người lao động, thúc đẩy làm cho
nguồn nhân lực của tổ chức ngày càng phát triển. Các yếu tố nhằm tạo
động lực thúc đẩy nguồn nhân lực bao gồm: (1) Tạo động lực thúc đẩy
bằng yếu tố vật chất; (2) Tạo động lực thúc đẩy bằng yếu tố tinh thần; (3)
Tạo động lực thúc đẩy bằng cải thiện điều kiện làm việc; (4) Tạo động
lực thúc đẩy bằng sự thăng tiến.
1.3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC
- Các nhân tố thuộc về người lao động: Học tập nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ (kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi). Năng lực
quản lý, điều hành của người quản lý trong đó quan trọng là người làm
công tác phát triển nguồn nhân lực.
- Các yếu tố thuộc về tổ chức: Nhóm yếu tố này thể hiện sự ủng hộ
và tạo điều kiện của tổ chức để người lao động có thể đem những khả
năng của bản thân cống hiến cho mục tiêu chung và cũng chính là giúp
họ đạt được mục tiêu của chính mình. Để nhìn thấy rõ sự tác động của
8
chúng, có thể xem xét một số yếu tố căn bản như: Mục tiêu tổ chức;
Chính sách, chiến lược về nhân sự của tổ chức; Môi trường văn hóa của
tổ chức; Quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực của ngành, tổ chức; Khả năng
tài chính đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực và Yếu tố quản lý.
- Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài: Đối với phát triển nguồn
nhân lực trong tổ chức, nhân tố chủ yếu là nhận thức của xã hội đối với
lĩnh vực nghề nghiệp; tính hấp dẫn của ngành nghề, môi trường pháp
luật về dân số, nhân khẩu học, môi trường lao động, các thể chế, cơ chế,
chính sách, môi trường kinh tế, khoa học công nghệ, các yếu tố văn hóa
xã hội của quốc gia, địa phương.
dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng thời gian qua
Tính đến đầu năm học 2012-2013 toàn thành phố Đà Nẵng có 178
Trường phổ thông các cấp (88 Trường đạt chuẩn), tổng số lớp học là 4.273,
với quy mô 153.376 học sinh; Trong đó có 102 Trường Tiểu học (69
Trường đạt chuẩn), với 2.145 lớp học và 72.985 học sinh; 55 Trường THCS
(16 Trường đạt chuẩn), với 1.267 lớp học và 46.718 học sinh; 21 Trường
THPT (3 Trường đạt chuẩn), với 843 lớp học và 33.673 học sinh.
Cùng với sự tăng nhanh về số Trường học, lớp học, quy mô đào tạo
bậc phổ thông của thành phố cũng tăng nhanh qua các năm học 19971998 toàn thành phố mới có 142.427 học sinh bậc phổ thông (trong đó:
gồm 73.996 học sinh tiểu học, 50.243 học sinh THCS, 18.188 học sinh
THPT). Đến năm học 2012-2013 toàn thành phố mới có 153.376 học
sinh bậc phổ thông (trong đó: gồm 72.985 học sinh tiểu học, 46.718 học
sinh THCS, 33.673 học sinh THPT), bình quân học sinh phổ thông tăng
0,5%/năm (trong đó học sinh tiểu học giảm 0,09%/năm, học sinh THCS
giảm 0,48%/năm, học sinh THPT tăng 4,19%/năm).
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC LÀ ĐỘI
NGŨ GIÁO VIÊN DẠY PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
THỜI GIAN QUA
2.2.1. Thực trạng về cơ cấu nguồn nhân lực là đội ngũ giáo viên
phổ thông
Năm học 2012-2013 toàn thành phố có 7.479 giáo viên phổ thông.
Trong đó giáo viên cấp tiểu học là 3.074 người, chiếm tỉ lệ 41,10%; giáo
10
viên cấp trung học cơ sở là 2.813 người, chiếm tỉ lệ 37.61%; giáo viên
cấp trung học phổ thông là 1.592 người, chiếm tỉ lệ 21,29%. So với năm
học 2007-2008 số giáo viên dạy bậc tiểu học tăng 259 người, tăng 9,2%
(bình quân tăng 1,84%/năm), giáo viên dạy bậc THCS giảm 27 người,
giáo viên dạy bậc THPT giảm 24 người; được thể hiện cụ thể qua các
37,61
- THPT
1.616
22,23 1.645
22,15 1.592
21,29
Tổng cộng 7.271
100
7.425
100
7.479
100
Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng
Cơ cấu đội ngũ giáo viên giữa các cấp học trong giáo dục phổ thông
phát triển theo hướng tích cực. Đội ngũ giáo viên được quan tâm theo
hướng chuẩn hóa, từng bước đảm bảo số lượng. Nếu so với mức quy
định của Bộ giáo dục và đào tạo thì năm học 2012-2013 thì tỷ lệ giáo
viên trên lớp của bậc Tiểu học và THCS là đảm bảo chỉ tiêu, còn bậc
THPT còn thiếu 305 giáo viên so với quy định. Điều này được thể hiện
rõ ở bảng 2.2 sau đây:
Bảng 2.2. Mức độ đảm bảo giáo viên ở bậc học phổ thông tại Đà Nẵng
qua các năm
Năm học 2007-2008
Năm học 2012-2013
Cấp học
Tỷ lệ
Tỷ lệ
SL GV Số lớp
SL GV Số lớp
GV/lớp
các năm
Năm học
Năm học
Năm học
2007-2008
2009-2010
2012-2013
Quận, Huyện
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
(người)
(%)
(người)
(%)
(người) (%)
Liên Chiểu
699
9,61
766
10,32
809
10,82
Thanh Khê
1.221
16,79
1.296
17,28
Cẩm Lệ
639
8,79
599
8,07
665
8,89
Tổng
7.271
100
7.425
100
7.479
100
Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng
Tuy số lượng giáo viên các cấp đã đáp ứng đủ nhu cầu, tiêu chuẩn
theo quy định, nhưng cớ cấu đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông đang
có sự mất cân đối giữa các chuyên ngành (môn học). Một số ngành được
phụ huynh học sinh quan tâm, đầu tư cho học tập như Toán học, Vật lý,
Hóa học, Anh văn … hiện đã có đội ngũ giáo viên nhiều, nhu cầu tuyển
của các trường ít thì nguồn cung lại nhiều. Ngược lại một số môn ít được
phụ huynh, học sinh quan tâm như giáo dục công dân, giáo dục quốc
phòng … đang thiếu đội ngũ giáo viên nghiêm trọng, nhu cầu tuyển
dụng lớn, thì nguồn cung lại rất ít.
Cơ cấu theo độ tuổi thể hiện đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông
thành phố Đà Nẵng tương đối trẻ, đội ngũ giáo viên có tuổi đời dưới 50
chiếm tỷ trọng 84,49%, điều này cho thấy đội ngũ giáo viên bậc phổ
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
(người)
(%)
(người)
(%)
(người)
(%)
- Tiến sĩ
1
0,01
2
5.483
73,3
- Cao đẳng
1.948
26,79
1.631
21,97
1.314
17,6
- Trung cấp
711
9,78
481
6,48
328
Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng
Đi vào cụ thể từng cấp học, năm học 2007-2008 số lượng giáo
viên dạy tiểu học là 2.815 giáo viên, tăng lên thành 3.074 giáo viên
năm học 2012-2013. Trình độ giáo viên dạy bậc Tiểu học đạt chuẩn
trở lên tăng cao (năm học 2007-2008 có 2.809 người, năm học 2009-
13
2010 tăng lên 2.949 người, năm học 2012-2013 tăng lên 3.069 người,
số lượng giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn không nhiều năm học
2007-2008 là 06 người, năm học 2012-2013 là 05 người) thể hiện rõ
qua bảng 2.5 như sau:
Bảng 2.5. Trình độ của đội ngũ GV dạy tiểu học qua các năm
Năm học
Năm học
Năm học
Nội dung
2007-2008
2009-2010
2012-2013
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
(người)
(%)
(người)
(%)
0,14
5
0,16
Tổng cộng
2.815
100
2.953
100
3.074
100
Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng
Trình độ giáo viên dạy bậc THCS đạt chuẩn trở lên của cấp học này
không ngừng tăng cao (năm học 2007-2008 có 1.715 người, năm học 20092010 tăng lên 1.988 người, năm học 2012-2013 tăng lên 2.203 người, số
lượng giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn giảm qua các năm (năm học 20072008 là 50 người, năm học 2012-2013 giảm xuống còn 16 người), thể hiện
cụ thể ở bảng 2.6 sau:
Bảng 2.6. Trình độ của đội ngũ GV dạy THCS qua các năm
Năm học
Năm học
Năm học
Nội dung
2007-2008
2009-2010
2012-2013
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
(người)
1,24
16
0,57
Tổng cộng
2.840
100
2.827
100
2.813
100
Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng
14
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên dạy THPT tuy
số giáo viên đạt trình độ trên chuẩn tăng (năm học 2007-2008 có 129
người, năm học 2009-2010 có 168 người thì đến năm học 2012-2013 số
giáo viên đạt trên trình độ chuẩn tăng lên 286 người). Số giáo viên đạt
trình độ chuẩn và chưa đạt trình độ chuẩn giảm (năm học 2007-2008 có
1.478 người đạt trình độ chuẩn và 09 người chưa đạt trình độ chuẩn, năm
học 2009-2010 có 1.462 người đạt trình độ chuẩn và 15 người chưa đạt
trình độ chuẩn, năm học 2012-2013 có 1.303 người đạt trình độ chuẩn và
03 người chưa đạt trình độ chuẩn) thê hiện cụ thể ở bảng 2.7 sau:
Bảng 2.7. Trình độ của đội ngũ GV THPT qua các năm
Năm học
Năm học
Năm học
Nội dung
2007-2008
2009-2010
1.462
88,88
1.303
81,84
- Chưa Đào tạo
9
0,56
15
0,91
3
0,19
Tổng cộng
1.616
100
1.645
100
1.592
100
Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng
Kiến thức phụ trợ của đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông thành phố
Đà Nẵng còn thấp. Xét về tổng thể, tuy các mặt kiến thức phụ trợ của đội
ngũ giáo viên luôn tăng qua các năm, nhưng số lượng và tốc độ tăng
không nhiều tỷ trọng đội ngũ giáo viên có kiến thức phụ trợ .
Năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc còn phụ thuộc vào kỹ
năng của người lao động. Kỹ năng nguồn nhân lực dạy bậc phổ thông
thành phố Đà Nẵng được thể hiện cụ thể qua thâm niên công tác, tổng số
giáo viên dạy bậc phổ thông có thâm niên công tác dưới 05 năm là 897
người (chiếm 11,99%), có thâm niên công tác từ 05 năm đến dưới 10
năm là 965 người (chiếm 13,90%), có thâm niên công tác từ 10 năm đến
dưới 20 năm là 4.540 người (chiếm 60,71%), có thâm niên công tác trên
kiện làm việc được khang trang hơn, tạo môi trường thân thiện hơn.
Thời gian qua, việc bổ nhiệm thực hiện theo qui định hiện hành của nhà
nước về công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, luôn đảm bảo tính khách
quan, dân chủ, công khai. Công tác bổ nhiệm không gây xáo trộn, mất sự
16
đoàn kết trong nội bộ. Đối tượng được bổ nhiệm hầu hết đảm bảo trình độ
chuyên môn, năng lực công tác. Tuy nhiên trong lĩnh vực này vẫn còn một
số tồn tại, khuyết điểm như chưa gắn quy hoạch đào tạo với nhu cầu sử
dụng, cách thức đề bạt, bổ nhiệm vẫn chủ yếu dựa trên cơ sở kinh nghiệm
chủ nghĩa, cảm tính, nễ nang, ngại va chạm; còn thiếu cơ chế, chính sách cụ
thể thực sự phát huy dân chủ, khơi dậy tài năng, phát hiện, thu hút và sử
dụng người tài … vì vậy cũng góp phần hạn chế động lực làm việc của đội
ngũ giáo viên.
2.3. NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC LÀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG
2.3.1. Đánh giá chung về phát triển nguồn nhân lực là đội ngũ
giáo viên dạy bậc phố thông thành phố Đà Nẵng
- Thành công: trong những năm qua, cùng với đà tăng trưởng của kinh tế
- xã hội, sự nghiệp giáo dục - đào tạo của thành phố Đà Nẵng đã có bước
chuyển mạnh về nhiều mặt. (1) Mạng lưới trường, lớp trên địa bàn thành
phố được quy hoạch, sắp xếp hợp lý theo hướng đa dạng hóa và xã hội hóa
giáo dục, phù hợp với khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân trên địa
bàn. (2) Học sinh giỏi đạt kết quả cao tại các kỳ thi học sinh quốc gia, quốc
tế và dẫn đầu khu vực miền Trung và Tây nguyên.
- Hạn chế: mặc dù có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như:
(1) chất lượng giáo dục của thành phố vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo
nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố. (2) Về
gắn chiến lược phát triển ngành giáo dục và đào tạo với phát triển kinh tế
- xã hội của thành phố.
- Công tác quy hoạch nguồn nhân lực làm chưa tốt: Nhận thức vị trí, vai
trò và tầm quan trọng của công tác quy hoạch nguồn nhân lực là đội ngũ
giáo viên dạy phổ thông thành phố Đà Nẵng còn rất hạn chế, chưa được sự
quan tâm đầu tư đúng mức cho công tác này. Công tác dự báo đội ngũ giáo
viên chưa đầy đủ, có tính dự báo chưa cao, nên chất lượng quy hoạch đội
ngũ giáo viên còn rất thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, phải điều
chỉnh nhiều lần. Công tác quy hoạch, dự báo đội ngũ giáo viên dạy phổ
thông thực hiện chưa đồng bộ, còn hình thức, chắp vá và thiếu sự gắn kết
18
với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành giáo
dục và đào tạo, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực chung của thành phố;
thiếu kế hoạch và những cơ chế chính sách cụ thể để thực hiện.
- Chưa có chính sách phát triển nguồn nhân lực hợp lý: Ngành giáo dục
và đào tạo thành phố Đà Nẵng vẫn chưa xây dựng được các chính sách phát
triển nguồn nhân lực là đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông một cách hợp
lý như: Chính sách thu hút đội ngũ giáo viên chất lượng cao ở nơi khác về
Đà Nẵng công tác, phù hợp với đặc thù đặc điểm tình hình thực tế của thành
phố. Chính sách tuyển dụng để có thể lựa chọn được người thực sự có tài
vào đội ngũ giáo viên; chính sách điều động, luân chuyển công tác hợp lý
giáo viên giữa các quận, huyện; chính sách đào tạo ...
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
THỜI GIAN TỚI
3.1. CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
3.1.1. Sự biến động của môi trường
Năm học
Cấp học
2012-2013
2016-2017
2020-2021
Tổng số
926.000
930.000
934.000
Tiều học
367.600
386.800
406.000
THCS
404.000
408.000
412.000
THPT
124.000
120.000
116.000
Nguồn: Phát triển nhân lực ngành Giáo dục giai đoạn 2011-2020
3.1.5. Giải pháp đảm bảo số lượng nguồn nhân lực là đội ngũ giáo
viên phổ thông
Đối với giáo dục phổ thông mục tiêu phải nâng cao chất lượng giáo
dục phổ thông một cách toàn diện, coi trọng giáo dục đạo đức, lý tưởng,
giáo dục lối sống, nhân cách, giáo dục truyền thống và pháp luật cho
thanh thiếu niên, học sinh.
Hệ thống mạng lưới các Trường học, lớp học và quy mô học sinh của
bậc học phổ thông cũng phải được tăng cường đầu tư, mỡ rộng trong
sung
2020-2021
sung
Tổng số
7.479
8.746
1.267
9.984
1.238
Tiều học 3.074
3.135
61
3.495
360
THCS
2.813
3.156
343
3.766
610
THPT
1.592
2.455
863
2.723
268
Nguồn: Quy hoạch tổng thể ngành giáo dục và đào tạo thành phố Đà
Nẵng đến năm 2020
3.1.6. Quan điểm có tính nguyên tắc khi xây dựng giải pháp
- Phát triển nguồn nhân lực phải thường xuyên lấy mục tiêu phát triển
viên dạy phổ thông của thành phố cụ thể như sau:
- Đào tạo ngắn hạn về các kiến thức phụ trợ như nghiệp vụ sư phạm,
ngoại ngữ, tin học, lý luận chính trị, quản lý nhà nước … thời gian dưới
03 tháng (tổ chức vào mùa hè, tại các cơ sở trong và ngoài thành phố)
cho các giáo viên chưa có trình độ các mặt kiến thức này.
- Đào tạo nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, thời gian từ 03 tháng đến
12 tháng (tại các cơ sở nơi lao động đang làm việc và các cơ sở trong,
ngoài nước) cho số giáo viên mới vào nghề, số lao động giỏi, nòng cốt,
có tâm huyết với sự nghiệp.
22
- Đào tạo chuẩn hóa, thời gian 01 năm trở lên (tại các cơ sở trong
nước) cho số giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn theo quy định nhưng vẫn
còn khả năng đào tạo, sử dụng lâu dài và đào tạo trên trình độ chuẩn (tại
các cơ sở trong và ngoài nước) cho số giáo viên còn trẻ, có năng lực, nhiệt
huyết với công việc, có khả năng phát triển, để tạo nguồn giáo viên giỏi,
nòng cốt sau này.
Kế hoạch đào tạo trên thể hiện cho thấy trong giai đoạn 2013 – 2020
cần phải đào tạo kiến thức phụ trợ cho giáo viên dạy phổ thông như sau:
- Giai đoạn 2013 - 2016: Đào tạo kiến thức phụ trợ cho 13.416 giáo
viên, trong đó: Đào tạo lý luận chính trị sơ cấp trở lên cho 1.377 giáo
viên, kiến thức quản lý Nhà nước cho 3.554 giáo viên, đào tạo ngoại ngữ
tiếng Anh trình độ A cho 3.130 giáo viên, tin học trình độ A cho 4.088
giáo viên, cập nhập kiến thức sư phạm mới hàng năm cho đội ngũ giáo
viên các cấp trước khi vào năm học mới theo quy định là 1.267 giáo
viên.
- Giai đoạn 2017 - 2020: Đào tạo kiến thức phụ trợ cho 15.062 giáo viên,
trong đó: Đào tạo lý luận chính trị sơ cấp trở lên cho 1.564 giáo viên, kiến
thức quản lý Nhà nước cho 4.042 giáo viên, đào tạo ngoại ngữ tiếng Anh
lớn. Lịch sử đã khẳng định, các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội:
tài nguyên thiên nhiên, vốn, nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ thì
nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng vì con người là vốn quý giá nhất,
là tài nguyên của mọi tài nguyên.
Ở nước ta trong bối cảnh mới hiện nay, khi đất nước đang tiến hành
đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nguồn lực
con người càng trở nên đặt biệt quan trọng, quyết định đến công cuộc
phát triển đất nước. Vì vậy Đảng ta đã khẳng định: “Con người là vốn
quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất
của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực
to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Những năm qua ngành giáo dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng đã
thường xuyên quan tâm, đầu tư nghiên cứu để phát triển nguồn nhân lực
là đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông và đã đạt được một số kết quả