Mô tả tác động tới kinh tế, xã hội và sử dụng dịch vụ y tế của mô hình câu lạc bộ phụ nữ nhiễm HIV tại quận long biên, thành phố hà nội năm 2016 - Pdf 43

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, tình hình phụ nữ nhiễm HIV/AIDS ngày càng diễn biến phức tạp
gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho bản thân họ, gia đình và xã hội. Theo Cục
phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2016, những người được báo cáo xét
nghiệm phát hiện nhiễm HIV trên cả nước, tỷ lệ nữ giới nhiễm HIV chiếm 30,2%,
trong đó, lây nhiễm qua đường tình dục chiếm 56%, lây qua đường máu 34%, mẹ
truyền sang con 2% [1].
Tính đến 31/12/2016 toàn thành phố Hà Nội hiện có 19.139 trường hợp nhiễm
HIV/AIDS còn sống, trong đó: Bệnh nhân AIDS còn sống là 9.154 người; Số các
trường hợp tử vong tính từ đầu vụ dịch HIV/AIDS đến nay là 4.595 trường hợp;
100% quận/huyện thành phố Hà Nội đều có người nhiễm HIV, 554/584
xã/phường/thị trấn đã phát hiện người nhiễm HIV (94,9%). Tỷ lệ nữ giới nhiễm
HIV chiếm 20,65%. Những người nhiễm HIV mới hiện nay không còn tập trung
trong nhóm có hành vi nguy cơ cao như trước đây mà có xu hướng xảy ra cho nhóm
những người dễ bị tổn tương như vợ, bạn tình của người nhiễm HIV, người nghiện
chích ma túy trong cộng đồng [2]. Long Biên có có 14 đơn vị hành chính với 305 tổ
dân phố [3]. Tính đến thời điểm 31/12/2016, Quận Long Biên có 1260 người nhiễm
HIV còn sống [2].
Qua rà soát các báo cáo nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS, cho thấy các đầu
tư cho nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
Trong giai đoạn 2005-2015, có hơn 1500 đề tài nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS
cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành và cấp cơ sở được triển khai tại Việt Nam. Một trong
những hạn chế đó là chúng ta còn thiếu thông tin nghiên cứu, đánh giá về hiệu quả
tác động của những mô hình Câu lạc bộ người nhiễm HIV. Trong nhiều năm qua
không có nghiên cứu nào được thực hiện nhằm tìm hiểu về tác động của mô hình
phụ nữ nhiễm HIV/AIDS [4], [5], [6].
Hiện nay, mô hình hoạt động câu lạc bộ (CLB) đang là hướng đi tích cực với
cách tiếp cận toàn diện, mô hình tập trung vào các lĩnh vực khác nhau như: nâng



3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu
Định nghĩa câu lạc bộ/ nhóm tự lực người nhiễm HIV/AIDS
Câu lạc bộ/nhóm tự lực được định nghĩa là một nhóm tự nguyện, tự quyết định, phi
lợi nhuận, là tập hợp những người cùng hoàn cảnh. Các thành viên chia sẻ kiến
thức, kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau [7].
Khái niệm về chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS
Tổ chức sức khỏe gia đình thế giới (FHI) Chương trình phòng chống AIDS
Liên hợp quốc (UNAIDS) định nghĩa chăm sóc, hỗ trợ, điều trị là 3 cấu phần trong
chăm sóc toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS. Trong đó:
Chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS: Người nhiễm HIV/AIDS cần được
duy trì sức khỏe tốt để sẵn sàng thực hiện điều trị ARV, vì vậy cần được cung cấp
các dịch vụ dự phòng. Khi bắt đầu thực hiện điều trị ARV, người nhiễm HIV/AIDS
cần tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc y tế để sống khỏe mạnh và giảm thiểu ảnh
hưởng [8].
Điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS: Điều trị ARV là phương pháp hiệu quả
nhất để kéo dài và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV/AIDS.
Người nhiễm HIV/AIDS cần được xét nghiệm để biết được tình trạng sức khỏe của
mình và được điều trị ARV khi đủ các điều kiện (căn cứ theo nồng độ CD4≤500)
hoặc trong các giai đoạn lâm sàng 3,4) [9].
Hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS: Người nhiễm HIV/AIDS có nhu cầu
nhận được các hỗ trợ ngoài chăm sóc y tế. Những hỗ trợ này ảnh hưởng tới việc
tuân thủ điều trị, sức khỏe và đời sống của họ. Các hỗ trợ bao gồm: hỗ trợ tâm lý,
hỗ trợ các hoạt động tạo thu nhập, hỗ trợ tìm kiếm việc làm, định hướng tương lai,
chăm sóc trẻ em, hỗ trợ pháp lý...[8]
Khái niệm chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV của thành viên

- Khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế: Được tính bằng bằng thời gian đi từ nhà
đến cơ sở y tế. Nếu thời gian này trong vòng 60 phút đi bằng phương tiện thông
thường thì coi là tiếp cận được. Cách tính và đo lường này hợp lý cho mọi trường
hợp. Nếu càng tốn ít thời gian để đến với cơ sở y tế thì tính tiếp cận càng cao và
ngược lại .


5

- Kinh tế: Yếu tố kinh tế tác động rất lớn tới sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế.
Đặc biệt nhà nước cùng với ngành y tế đã quan tâm và có nhiều biện pháp về chăm
sóc sức khỏe cho những người yếu thế như người nghèo, người nhiễm HIV/AIDS…
nhưng cho đến nay vẫn chưa giải quyết được hết các vấn đề căn nguyên .
- Dịch vụ y tế: Nhóm này không đề cập đến giá dịch vụ đắt hay rẻ mà chỉ đề cập
đến tính sẵn có của các dịch vụ mà người dân cần, tính thường trực, thời gian mở
cửa thích hợp, thái độ của cán bộ y tế với bệnh nhân, chất lượng dịch vụ mà người
dân yêu cầu.
- Văn hóa - xã hội: trình độ hiểu hiết của người ốm, người chủ gia đình có ảnh
hưởng rất lớn tới quyết định xử lý khi bị ốm đau và thông qua đó ảnh hưởng gián
tiếp tới lựa chọn dịch vụ y tế. Yếu tố văn hóa - xã hội còn chịu sự tác động của
phong tục tập quán như cúng bái, kiêng khem, ngại phải thổ lộ bệnh tật của mình
với người khác…
Bảo hiểm y tế (BHYT): BHYT là chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực
hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các
tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có thẻ bảo
hiểm khi ốm đau. Hiện nay ở Việt Nam có hai loại hình chủ yếu là: BHYT bắt buộc
và BHYT tự nguyện
1.2. Thực trạng nhiễm HIV/AIDS ở phụ nữ
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới

HIV/AIDS còn sống, trong đó: Bệnh nhân AIDS còn sống là 9.154 người; Số các
trường hợp tử vong tính từ đầu vụ dịch HIV/AIDS đến nay là 4.595 trường hợp;
100% quận/huyện thành phố Hà Nội đều có người nhiễm HIV, 554/584
xã/phường/thị trấn đã phát hiện người nhiễm HIV (94,9%). Những người nhiễm
HIV mới hiện nay không còn tập trung trong nhóm có hành vi nguy cơ cao như
trước đây mà có xu hướng xảy ra cho nhóm những người dễ bị tổn tương như vợ,
bạn tình của người nhiễm HIV, người nghiện chích ma túy trong cộng đồng [2].
Một thực tế đáng chú ý là “nạn dịch” này có nguy cơ sẽ lây sang rất nhiều
người khác thông qua những khách hàng là gái mại dâm, đặc biệt cho đối tượng là
công nhân lao động xa nhà. Kết quả là, chị em phụ nữ có quan hệ tình dục, có nguy


7

cơ lây nhiễm HIV và từ đó có khả năng lây truyền cho con nếu có thai. Vấn đề
HIV/AIDS tại Việt Nam thực sự đáng lo ngại, số ca nhiễm HIV/AIDS theo báo cáo
hiện nay thấp hơn so với số thực tế. Thêm vào đó, rất nhiều phương tiện thông tin
đại chúng thường đề cập đến HIV/AIDS cùng với các tệ nạn xã hội như nghiện hút
hay mại dâm, đã là nguyên nhân gây ra kỳ thị của xã hội đối với những người bị
nhiễm bệnh.
1.2.1.2 Tình hình phụ nữ Việt Nam nhiễm HIV/AIDS và một số nghiên cứu liên quan
đến phụ nữ nhiễm HIV/AIDS.
Theo báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS đến 30/9/2014 đã cho thấy
việc gia tăng các trường hợp phụ nữ nhiễm HIV mới được báo cáo, chiếm đến
32,5% các ca nhiễm mới trong năm 2013, phản ánh sự lây truyền HIV từ nam giới
có hành vi nguy cơ cao sang bạn tình .
Báo cáo Công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và các nhiệm vụ trọng
tâm năm 2016 trong nội dung “Đánh giá thực hiện các chỉ tiêu được giao giai đoạn
2011-2015” đã cho kết quả tốt. Phần lớn các chỉ tiêu của chương trình phòng, chống
HIV/AIDS đến năm 2015 đều đạt gồm tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chính

yếu là tiêm chích) có xu hướng giảm (khoảng 5% so với năm 2011) nhưng tỷ lệ lây
truyền qua đường tình dục lại có xu hướng tăng (khoảng 4,5% so với năm 2011). Hệ
lụy của những điều này chính là làm tăng tỷ lệ số phụ nữ nhiễm HIV/AIDS mang
thai và sinh con (khoảng 0,26%), từ đó làm tăng tỷ lệ lây truyền mẹ con, tăng tỷ lệ
trẻ em nhiễm HIV/AIDS .
Theo báo cáo “Tình hình dịch HIV/AIDS năm 2013 ở Việt Nam”: nam giới
chiếm 67,5%, nữ giới chiếm 32,5%. Theo dõi qua các năm, tỷ lệ nhiễm HIV tăng
dần trong nhóm nữ giới [20].
Trong số những người được báo cáo xét nghiệm mới phát hiện nhiễm HIV,
nam giới chiếm 69,8%, nữ giới chiếm 30,2%, lây nhiễm qua đường tình dục chiếm
56%, lây nhiễm qua đường máu 34%, mẹ truyền sang con 2%, còn lại không rõ
nguyên nhân [1].
Theo nghiên cứu của Trần Thị Kim Dung và CS (2007-2009) chỉ ra rằng tuổi
trung bình của phụ nữ nhiễm HIV là 30 tuổi, tuổi trung bình của nam giới nhiễm
HIV là 37. Trong số những người nhiễm HIV của nghiên cứu có 81,1% đang chung
sống với vợ/chồng; 18,9% ly dị hoặc ly thân; 97,5% biết cách phòng lây nhiễm HIV


9

trong số đó có 99,2% cho rằng luôn sử dụng BCS khi quan hệ tình dục. Tuy nhiên,
vẫn còn có người hiểu sai về cách dự phòng lây nhiễm HIV: có 2,5% cho rằng nằm
màn tránh muỗi đốt có thể phòng tránh lây nhiễm HIV; 1,7% cho rằng không sống
chung với người nhiễm HIV cũng là một cách để phòng lây nhiễm HIV [21].
Theo nghiên cứu của Trần Hậu Khang, Lê Huyền My và CS (2006-2010), tuổi
trung bình của bệnh nhân nhiễm HIV là 32,3 tuổi, tỷ lệ nhiễm HIV cao ở nhóm tuổi
30-39 tuổi qua các năm nghiên cứu. Tỷ lệ bệnh nhân nữ nhiễm HIV cũng tăng dần
từ 19,2% năm 2009 lên 37,5% năm 2010. Lây nhiễm HIV qua đường tình dục
không an toàn đang tăng dần, năm 2009 là 25%, 6 tháng đầu năm 2010 tăng lên
46% [22].

2,1% (p < 0,05) [26].
Nghiên cứu của Chu Quốc Ân (2007), “Đánh giá thực trạng hoạt động phòng,
chống HIV/AIDS tại chùa Pháp Vân và chùa Bồ Đề, Hà Nội” cho thấy: các hoạt
động phòng, chống HIV/AIDS triển khai tại nhà chùa nhiều nhất là phổ biến, tuyên
truyền, tư vấn về HIV/AIDS (90,5%); thứ hai là tổ chức chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
em nhiễm HIV, trẻ em mồ côi (78,4%); thứ ba là hướng dẫn cách chăm sóc người
nhiễm HIV (77,0%); thứ tư là thăm hỏi bệnh nhân AIDS (70,3%). Trong số những
người có HIV tham gia nghiên cứu có 93,2% đã tham gia các hoạt động phòng,
chống HIV/AIDS tại nhà chùa. Họ chủ yếu tham gia các hoạt động tuyên truyền, tư
vấn HIV (52,2%); có 4,1% tham gia dưới hình thức đóng góp kinh phí cùng nhà
chùa mời chuyên gia đến tư vấn, hoặc mua quà đến thăm hỏi người nhiễm và bệnh
nhân AIDS. 100% người nhiễm HIV tham gia nghiên cứu cho rằng hoạt động
phòng, chống HIV/AIDS của nhà chùa là thiết thực, bổ ích cần được tiếp tục [27].
Theo nghiên cứu của Đỗ Mai Hoa, Phạm Việt Cường và CS (2009), cho thấy
lý do chủ yếu bị nhiễm HIV trong nhóm nam là sử dụng bơm kim tiêm chung
(58,6%), trong khi nhóm nữ là do quan hệ tình dục với chồng hoặc bạn tình bị
nhiễm HIV (89,5%). Tất cả bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều được uống thuốc
ARV miễn phí [28].
Theo nghiên cứu Đỗ Đăng Đông, Nguyễn Phương Hiền, Phạm Đức Mạnh,
Nguyễn Văn Hùng (2013) chỉ ra rằng: độ tuổi trung bình của phụ nữ nhiễm HIV
trong nghiên cứu là 32,8 ± 4,3; phụ nữ đã lập gia đình hoặc sống chung như vợ
chồng và sống cùng trong một nhà chiếm 50,9%; phụ nữ độc thân chiếm 9,3%; ly


11

dị/ly thân chiếm 8,4%; góa chồng chiếm 26,9%. Nhiều phụ nữ nhiễm HIV phải vật
lộn để kiếm kế sinh nhai, họ cho rằng họ đã mất việc làm hoặc phải thay đổi công
việc (8%) [29].
1.3. Mô hình hoạt động các câu lạc bộ/nhóm tự lực dành cho người nhiễm HIV

1.4.1. Trên thế giới
Vấn đề hỗ trợ cho phụ nữ nhiễm HIV/AIDS ngày càng được quan tâm của các
tổ chức dịch vụ AIDS, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chính sách và
quan trọng hơn, cho những người phụ nữ thân, gia đình, bạn bè và những người
chăm sóc họ. Có hai vấn đề cần chú trọng đó là tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV đang có xu
hướng tăng lên và làm sao để những phụ nữ nhiễm HIV sống lâu hơn, chất lượng
cuộc sống tốt lên. Nỗ lực để ngăn chặn nhiễm HIV cho phụ nữ rất quan trọng cần có
sự tích hợp các dịch vụ phòng chống HIV với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh
sản, cần có sự nỗ lực trong việc giải quyết tình trạng bất bình đẳng giới, tình trạng
bạo lực, cải thiện điều kiện giáo dục an toàn cho tất cả các trẻ em gái và phụ nữ và
đồng thời đáp ứng các nhu cầu, tôn trọng nhân quyền của chính họ trong suốt cuộc
đời của người phụ nữ.
Các nghiên cứu hiện nay cho thấy rằng còn nhiều người nhiễm HIV/AIDS bị
thiệt thòi do không biết tìm kiếm dịch vụ y tế phù hợp để chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe của mình bởi vì họ thiếu thông tin, thiếu kiến thức, không biết đến các dịch vụ
điều trị và chăm sóc sức khỏe có sẵn, không hiểu làm thế nào để tham gia vào các
dịch vụ, hoặc không có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe [30] .
Cung cấp dịch vụ tư vấn thích hợp cùng với hỗ trợ các biện pháp tránh thai
cho phụ nữ sống chung với HIV để đáp ứng nhu cầu chưa được đáp ứng của họ cho
việc kế hoạch gia đình như khoảng cách giữa các lần sinh và để tối ưu hóa kết quả
sức khỏe cho những người phụ nữ và con cái của họ. Tuy nhiên tỉ lệ trẻ em và phụ
nữ mang thai nhiễm HIV được điều trị ARV vẫn thấp hơn 1/3, so với tỉ lệ trung bình
toàn cầu ở người lớn nói chung là 54%, điều này có nghĩa là những đối tượng dễ bị
tổn thương nhất trong xã hội cũng lại là những đối tượng ít được nhận những điều
trị cần thiết hơn.
Theo báo cáo CDC năm 2003 về chiến lực phòng chống HIV và công tác
chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV đã khẳng định sự cần thiết các chiến lược



việc sử dụng các biện pháp tình dục an toàn như sử dụng bao cao su. Đặc biệt đối


14

với phụ nữ nhiễm HIV, bởi tỷ lệ nhiễm HIV của trẻ sơ sinh hiện nay tương đối cao,
các nhà cung cấp dịch vụ y tế cần quan tâm và đánh giá xem xét đối với phụ nữ
nhiễm HIV trong độ tuổi sinh đẻ, có thể có thai, quan tâm đến việc có thai hay
không hay những hành vi tình dục có an toàn hay không? Còn đối với những phụ nữ
không thể mang thai được nữa (triệt sản, bệnh lý…) thường thiếu quan tâm đến việc
sử dụng các biện pháp tránh thai, cần có những khuyến cáo tư vấn phù hợp cho họ
như đến gặp các bác sĩ chăm sóc sức khỏe sinh sản… Như vậy các tiếp cận để kiểm
soát được các hành vi nguy cơ đơn giản nhất là cần có sự đồng thuận giữa cả những
người cung cấp dịch vụ y tế và bản thân bệnh nhân.
Năm 2014, có tới 27,0% phụ nữ mang thai nhiễm HIV vẫn chưa được nhận
điều trị ARV trong công tác phòng chống lây truyền từ mẹ sang con [32]. Ở nhiều
nơi trên khắp thế giới, nữ giới và nam giới đang hành động để nâng cao kiến thức
về căn bệnh thế kỷ này, mở rộng tiếp cận với sức khỏe tình dục, sinh sản và các dịch
vụ giáo dục, tăng cường khả năng của phụ nữ để quan hệ tình dục an toàn, chống
phân biệt đối xử về giới, bạo lực [33].
Khi đề cập đến nhiễm HIV qua quan hệ tình dục không an toàn, nhiều người
thường đề cập vai trò của gái bán dâm. Điều này được lý giải bởi nghiên cứu “Mối
quan hệ giữa mại dâm, chăm sóc sức khỏe Sinh sản và Sức khỏe Tình dục và vấn đề
HIV” của tác giả Chaiyos Kunanusont. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc tiếp cận
dịch vụ của đối tượng mại dâm còn hạn chế: Chương trình can thiệp mới tiếp cận
được 60,4% tổng số người nữ bán dâm; Chỉ có 16% người nữ bán dâm có thể tiếp
cận được với các dịch vụ phòng, chống HIV cơ bản. Nghiên cứu đề nghị: Các biện
pháp can thiệp phòng chống HIV chỉ thực sự hiệu quả nếu có được sự tham gia của
người mại dâm. Cần áp dụng một phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người
để có thể tạo ra một môi trường thuận lợi. Gần 700.000 phụ nữ mang thai đã được

[36].
Khi phụ nữ được tư vấn và xét nghiệm HIV, họ tham gia vào dịch vụ chăm sóc
sức khỏe để xác định có thai hay không, đầu tiên họ thường được xem xét chẩn
đoán HIV. Trong quá trình tư vấn, hỗ trợ thì việc người phụ nữ biết tình trạng của
mình là rất quan trọng, xét nghiệm HIV phải luôn luôn tự nguyện, bảo mật và
không bắt ép. Cung cấp thông tin giáo dục phòng ngừa trước khi sinh và cơ hội xét
nghiệm bí mật là những chính sách quan trọng để bảo vệ phụ nữ mong muốn được


16

kiểm tra HIV, nhiều khi các thông tin phụ nữ nhiễm HIV/AIDS cung cấp không
chính xác gây ra những khó khăn trong quá trình tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe sinh sản vì bản thân phụ nữ lo sợ các nhà cung cấp chăm sóc y tế sẽ phê phán
và việc xét nghiệm HIV dương tính sẽ bị những phản ứng từ chính gia đình họ (bao
gồm cả sự kỳ thị hoặc bạo lực) khi họ tiết lộ tình trạng của họ. Tham gia vào các
dịch vụ chăm sóc và điều trị cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV là rất quan trọng [37]
Báo cáo của UNAIDS 2010 về bệnh dịch AIDS toàn cầu nhấn mạnh rằng
những nỗ lực để thúc đẩy tiếp cận phổ cập về dự phòng HIV, điều trị, chăm sóc và
hỗ trợ cần tập trung rõ ràng hơn đối với phụ nữ và trẻ em gái. Chiến lược mới của
UNAIDS (2011-2015) nhấn mạnh rằng đáp ứng nhu cầu phòng chống HIV của phụ
nữ và trẻ em gái và không khoan nhượng với bạo lực giới là rất cần thiết để thúc
đẩy sự tiến bộ toàn cầu hướng tới tiếp cận phổ cập về dự phòng HIV, điều trị, chăm
sóc và hỗ trợ và để ngăn chặn sự lây lan của HIV, góp phần vào việc đạt được các
mục tiêu phát triển thiên niên năm 2015.
1.4.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, phụ nữ và trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương và ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS và tỷ lệ này đang có xu hướng tăng cao trong khi tỷ lệ lây nhiễm của nam
giới đang giảm tại một số tỉnh phía bắc và đồng bằng Sông Cửu Long. Mặc dù các cấp,
các ngành và toàn xã hội đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng, chống HIV/AIDS

Ngoài ra, người nhiễm HIV/AIDS gặp khó khăn khi khám chữa bệnh bằng BHYT
như tại nơi đăng ký điều trị, theo dõi HIV/AIDS là các phòng khám ngoại trú không
thuộc bệnh viện, hoặc thuộc các bệnh viện chuyên khoa không phải là nơi đăng ký
khám chữa bệnh, BHYT ban đầu. Bên cạnh đó, tại các cơ sở khám chữa bệnh tuyến
huyện không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh HIV/AIDS và chưa có các quy
định/hướng dẫn riêng về chuyển tuyến. Theo ông Lê Văn Khảm, khó khăn này còn
tồn tại có thể do cách hiểu chưa thống nhất về văn bản luật liên quan đến HIV/AIDS
và BHYT của cơ sở y tế và bảo hiểm xã hội.
Xác định BHYT là một trong các nguồn tài chính đảm bảo cho chương trình
phòng, chống HIV/AIDS trong tương lai khi các dự án viện trợ quốc tế chấm dứt,
đồng thời nhằm cung cấp thông tin về tình hình tiếp cận và sử dụng BHYT của
người nhiễm HIV, cũng như tìm hiểu các rào cản trong việc hạn chế tiếp cận và sử
dụng bảo hiểm y tế trong chăm sóc sức khỏe của người nhiễm, việc thực hiện đề tài


18

“Khảo sát việc tiếp cận và sử dụng bảo hiểm y tế trong chăm sóc sức khỏe của
người nhiễm HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015” đã cho kết quả: nữ giới
chiếm 47,5%, lý do không có thẻ bảo hiểm y tế, 36,11% là thủ tục mua bảo hiểm y
tế khó khăn 27,78% thấy không cần thiết, 16,67% hiện đang được điều trị miễn phí,
11,11% là không có tiền và 8,33% sợ bị biết tình trạng nhiễm. Lý do người nhiễm
không sử dụng bảo hiểm y tế trong khám chữa bệnh, do sợ bị lộ thông tin về tình
trạng nhiễm HIV là 27,5%; thời gian chờ đợi được khám bệnh lâu là 19,5%, khó
khăn trong chuyển tuyến là 14,0%; khó khăn trong thủ tục thanh toán là 9,0% và
khác là 12,0% [39].
1.4.2.2. Công tác phòng chống lây nhiễm HIV ở phụ nữ
Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
Dự phòng Lây truyền HIV từ mẹ sang con là một trong 9 chương trình hành
động trong chương trình mục tiêu Quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS. “Tài liệu

và phát hiện nhiễm HIV cho gần 1239 phụ nữ mang thai nhiễm HIV, khoảng 60%
phụ nữ mang thai nhiễm HIV được xét nghiệm trong thời kỳ mang thai, 40% phụ
nữ mang thai phát hiện trong thời kỳ chuyển dạ. Điều trị dự phòng HIV từ mẹ sang
con cho khoảng 1.691 phụ nữ mang thai nhiễm HIV, khoảng 673 phụ nữ mang thai
nhiễm HIV điều trị ARV trước khi có thai. Tổng số trẻ đẻ sống từ mẹ nhiễm HIV
trên 1700 trẻ được tiếp tục điều trị dự phòng ARV. Trong số 1453 trẻ sinh ra từ mẹ
nhiễm HIV được làm xét nghiệm trong vòng 2 tháng sau sinh 43 trẻ được xét
nghiệm HIV dương tính, tỷ lệ dương tính là 2,96% [41].
Thực tế cho thấy, tỷ lệ phụ nữ mang thai đến lúc chuyển dạ mới được làm xét
nghiệm HIV còn khá cao. Số trẻ có nguy cơ lây nhiễm HIV cao nhất lại nằm trong
giai đoạn lúc bà mẹ chuyển dạ, chiếm từ 10-20% trong khi trẻ nhiễm HIV từ trong
bụng mẹ chỉ từ 5-10%. Nếu được chăm sóc, can thiệp sớm trong thời kỳ mang thai
thì tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 5%. Thông qua đó khuyến khích phụ nữ mang
thai nên thực hiện tự nguyện đến cơ sở y tế để được làm xét nghiệm HIV. Nên việc
nâng cao tính sẵn có và chất lượng của dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV ngay từ y tế
cơ sở triển khai tới tận xã, phường vẫn là cách thức tốt nhất để tăng tỷ lệ bà mẹ
mang thai chấp nhận xét nghiệm HIV tự nguyện sớm phát hiện và điều trị kịp thời.
Điều trị cho những phụ nữ mang thai nhiễm HIV không chỉ giúp họ sống sót
và sống tốt mà còn giúp dự phòng lây nhiễm HIV cho con họ trong quá trình mang


20

thai, sinh nở và cho con bú. Điều trị cũng giúp phòng chống lây nhiễm qua đường
tình dục từ phụ nữ nhiễm HIV sang bạn tình không nhiễm HIV. Những nỗ lực chấm
dứt tình trạng nhiễm mới ở trẻ em đến năm 2015 và giúp các bà mẹ có HIV sống sót
là một thành tố quan trọng trong khuôn khổ cam kết chung của UNICEF đối với sự
sống còn của trẻ em theo phong trào toàn cầu, “Một lời hứa tiếp tục được gìn giữ”
[35]. Theo báo cáo “Công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và các nhiệm vụ
trọng tâm năm 2016” đã đưa ra mục tiêu cụ thể năm 2016 là khống chế tỷ lệ trẻ sinh

thông), người bán dâm và tiếp viên nhà hàng chiếm 4%, thấp nhất là nhóm nam
quan hệ tình dục đồng giới với nam (chỉ chiếm 1%). Ngoài 3 nhóm nguy cơ cao,
nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được truyền thông gần 1 triệu lượt người, cao
nhất trong tất cả các nhóm và chiếm 30% số lượt người được truyền thông); số lượt
người trong độ tuổi từ 15-24 chiếm tỷ lệ 20% tổng số lượt người được truyền thông.
Các hoạt động truyền thông về HIV/AIDS trên phương tiện thông tin đại chúng
được đẩy mạnh, trong năm 2015 có hằng trăm bài báo đưa tin về HIV/AIDS, trong
đó chú trọng nhiều đến công tác điều trị ARV, Methadone, xét nghiệm HIV, thực
hiện các mục tiêu 90-90-90 vào năm 2020 và hướng tới kết thúc AIDS vào năm
2030, sử dụng bảo hiểm y tế cho người nhiễm HIV [42].
Sự tham gia của nam giới trong việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
Kết quả từ một cuộc điều tra về gia đình trên quy mô quốc gia trong năm 2006
đã cho thấy thái độ không phản đối, khoan dung với các hành vi tình dục trước hoặc
ngoài hôn nhân thiên về dành cho nam giới hơn là phụ nữ. Khi được hỏi, hầu hết
nam giới và phụ nữ Việt nam đều thể hiện sự miễn cưỡng khi phải nói chuyện về
tình dục. Nam giới và phụ nữ trong một 11 nghiên cứu đã nói rằng rất khó để có thể
trao đổi với nhau về các vấn đề tình dục. Cả nam giới và phụ nữ đều nghĩ rằng việc
mở đầu bất cứ câu chuyện trao đổi nào về tình dục phải là công việc của nam giới.
Các kết quả của nghiên cứu này cho thấy các thông điệp truyền thông trong các
chính sách và chương trình kêu gọi sử dụng bao cao su để bảo vệ và phòng tránh lây
nhiễm HIV chưa đầy đủ, bởi vì các thông điệp này đã không chú ý tới những vấn đề
nhạy cảm về lòng tin và việc giao tiếp giữa vợ chồng/ bạn tình. Các phương thức
tiếp cận của Chính phủ trong việc khuyến khích sử dụng bao cao su cũng tác động
đến thái độ của nam giới và phụ nữ. Bao cao su dành cho nam giới được giới thiệu


22

như là một công cụ phòng tránh thai vào những năm 1960, khi bắt đầu các chương
trình kế hoạch hóa gia đình. Nam giới được khuyến khích sử dụng bao cao su như

1.4.4.1. Các yếu tố về vị trí địa lý
Điều kiện địa lý ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận dịch vụ y tế. Việc tiếp cận về
mặt địa lý đến các cơ sở y tế được đo bởi khoảng cách và thời gian (ngoài ra còn có
cả loại phương tiện). Theo nghiên cứu của Nguyễn Thế Lương cho thấy ở Hà Nội
người dân ít gặp các trở ngại về khoảng cách khi tiếp cận với các dịch vụ y tế, còn
tại Thanh Hóa và Yên Bái thì tỷ lệ hộ gia đình cách xa bệnh viện trên 60 phút đi
bằng phương tiện thông thường là 41,3% và 54%. Sự khác biệt về thời gian tiếp cận
với các cơ sở y tế là một trong những nguyên nhân gây mất công bằng trong tiếp
cận dịch vụ khám chữa bệnh của người dân [42].
Một nghiên cứu khác cũng cho thấy khoảng cách là một trong các rào cản ảnh
hưởng đến việc sử dụng dịch vụ y tế, đặc biệt ở nhóm người nghèo. Mặc dù người
nghèo đã được cấp thẻ bảo hiểm y tế nhưng đa số sống ở khu vực hẻo lánh nên rất
khó khăn trong phương tiện đi lại. Nhiều nơi phải đi bộ rất xa từ nhà đến trạm y tế
do đường đi rất xấu [43]. Mặt khác xét về khía cạnh điều kiện kinh tế cùng với yếu
tố địa lý khoảng cách ở xa, rất xa các cơ sở y tế thì việc đi lại của các hộ gia đình
nghèo là vấn đề rất lớn, rất khó khăn, họ không có đủ tiền để chi trả cho các chi phí
đi lại đến cơ sở y tế để KCB mặc dù chỉ với phương tiện đi lại thông thường. Ngược
lại với các hộ gia đình giàu có thì khoảng cách địa lý ở xa, thậm chí rất xa các cơ sở
y tế thì khoảng cách hầu như không ảnh hưởng nhiều đến việc quyết định đến cơ sở
y tế để KCB mặc dù cơ sở y tế ở xa như tuyến trung ương. Họ sẵn sàng sử dụng các
phương tiện giao thông nhanh và hiện đại máy bay, ô tô để đi KCB nơi cung cấp
dịch vụ KCB tốt nhất cho họ.
1.4.4.2. Các yếu tố về tài chính liên quan đến điều kiện kinh tế
Một trong những vấn đề cần quan tâm hiện nay ở nước ta trong lĩnh vực y tế là
về tài chính cho y tế. Điều kiện kinh tế có ảnh hưởng rất lớn và quyết định đến rất
nhiều các lĩnh vực đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, trong đó chăm sóc sức khoẻ:
thông thường người càng nghèo thì càng hạn chế đến với cơ sở y tế. Thu nhập của
các hộ gia đình có ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB, khi người dân
có thu nhập cao thì họ cũng sẽ có khả năng sử dụng nhiều dịch vụ KCB hơn và có


nhân nhiễm HIV mới phải điều trị bằng thuốc ARV. Và đến hết năm 2017 khoản
viện trợ này sẽ chấm dứt hoàn toàn, đồng nghĩa việc người bệnh sẽ phải tự bỏ chi


25

phí điều trị nếu không có BHYT. Theo ông Nguyễn Hoàng Long, Cục trưởng Cục
Phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế) thì đến nay, con số bệnh nhân HIV có Thẻ
BHYT hiện ở mức rất khiêm tốn, khoảng 30%. Trong khi đó chi phí thấp nhất cho
việc điều trị HIV là khoảng hơn 4 triệu đồng/năm, đối với bệnh nhân điều trị theo
phác đồ 1. Nhưng đối với bệnh nhân kháng thuốc, phải điều trị phác đồ 2 thì chi phí
điều trị tăng lên 7-8 lần, trong khi đó tỉ lệ kháng thuốc đang tăng lên, chiếm khoảng
4,5% bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị. Nếu không có khả năng chi trả, người
bệnh sẽ bỏ điều trị. Không được điều trị vi rút HIV không chỉ gây hại cho sức khỏe
người bệnh mà quan trọng hơn, nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng sẽ cao hơn [46].
1.4.4.3. Các yếu tố về văn hóa - xã hội
Người dân ở các khu vực sinh sống khác nhau sẽ có những đặc điểm về văn
hóa - xã hội hội khác nhau, ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ y tế. Một số hủ tục
lạc hậu trong phong tục tập quán của người dân tộc thiểu số trước khi đi KCB tại
các cơ sở y tế có thể dẫn đến sự chậm trễ trong sử dụng dịch vụ y tế cũng như
những tai biến có thể xảy ra đối với bệnh nhân [47]. Do tập quán và do trình độ văn
hoá thấp mà có những bộ phận dân cư như phụ nữ dân tộc thiểu số không có thói
quen đến khám thai và đẻ tại cơ sở y tế vẫn còn tồn tại nhiều tại các tỉnh Tây
Nguyên. Tỷ lệ phụ nữ có thai của xã đẻ tại cơ sở y tế chỉ đạt 25%. Trình độ, học vấn
là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến sức khỏe con người, là điều kiện
cần thiết để nâng cao kiến thức và kỹ năng tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe của mỗi
người và cộng đồng. Điều kiện văn hoá cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tiếp cận và
sử dụng dịch vụ KCB của người dân, và đây là yếu tố không dễ gì có thể can thiệp
và thay đổi nhanh chóng được. Lối sống có tác động trực tiếp đến sức khỏe của cá
nhân và cộng đồng. Ở những người nghiện thuốc lá, rượu bia, ma túy... ảnh hưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status