Thể chế chính trị đương đại trên thế gới và gợi mở cho việt nam tiểu luận cao học - Pdf 43

MỞ ĐẦU
Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều thể chế chính trị thế giới khác nhau. Mỗi
quốc gia có sự lựa chọn con đường đi cho riêng mình để sao cho phù hợp với những
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của quốc gia mình. Khoan hãy nói tới sự tiến bộ hay lạc
hậu của những thể chế ấy, và sự thực là trên thế giới hiện nay tồn tại rất nhiều thể chế
chính trị khác nhau. Người ta đã từng nói cái gì hợp lý nó sẽ tồn tại và nó tồn tại bởi
vì nó hợp lý. Thể chế này có thể bị coi là không tiến bộ bằng thể chế khác, nhưng sự
hiện diện của nó trong lịch sử của nhân loại, ở những giai đoạn khác nhau của lịch sử
chứng tỏ rằng nó có những điểm hợp lý, tích cực riêng nó, nên người ta mới lựa chọn.
Chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, không
kinh qua chủ nghĩa tư bản. Chúng ta có thể tự hào rằng việc chọn lựa con đường đi
lên Chủ nghĩa xã hội của nước ta là đúng đắn và hợp với quy luật phát triển của xã
hội. Và thực tiễn Việt Nam cũng đã, và đang chứng minh điều đó. Song chúng ta
cũng không thể không công nhận những thành tựu và những mặt tích cựu của những
thể chế chính trị thế giới đương đại khác.
Không Tử đã từng nói: “Biển nhiều nước vì nó thấp hơn sông, suối”. Nhìn
nhận và tiếp thu những yếu tố tích cực của các thể chế chính trị thế giới khác là việc
làm cần thiết, góp vào hành trang của chúng ta trên con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội.

1


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ
1.1. Thể chế
Thể chế là một thuật ngữ xuất hiện từ rất sớm, nhưng nó chỉ được sử dụng rộng
rãi trong nghiên cứu và quy hoạch định chính sách kinh tế từ những năm 20 – 30 của
thế kỷ XX, lúc đầu ở các nước phương Tây. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trường tại các nước XHCN trước đây, ở Trung Quốc và cả ở
nước ta, vấn đề thể chế ngày càng được quan tâm hơn.

chức năng, chế độ cụ thể.
Hai là, là cơ sở có tính pháp lý để theo đó những thiết chế chính trị được dựng
lên và vận hành trong khuôn khổ vì sự bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm quyền.
Ba là, quy định và điều chỉnh các quan hệ, hành vi của các chủ thể chính trị
nhằm tạo lập sự ổn định và cân bằng của các quá trình chính trị, tạo “sân chơi” công
bằng và song phẳng.
1.3. Các thể chế chính trị trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có hai loại thể chế chính chính tiêu biểu là: thể chế Quân
chủ và thể chế Cộng hòa (trước đây có thêm thể chế quân sự của Mianma, tuy nhiên,
năm 2010 Mianma đã chuyển từ thể chế quân sự để sang thể chế dân sự, đó là Cộng
hòa tổng thống).
Thể chế Quân chủ có 3 loại là: Quân chủ chuyên chế, Quân chủ Nhị nguyên và
Quân chủ Lập hiến (hay Quân chủ đại nghị). Quân chủ chuyên chế: tức quyền lực
nhà nước tối cao chỉ tập trung trong tay của một người, đó chính là Vua. Quân chủ
Nhị nguyên: tức là quyền lực nhà nước tối cao được chia làm hai: Vua và Nghị viện,
nhưng Vua vẫn lấn át quyền của Nghị viện và có thể giải tán Nghị viện (điển hình là
Bruney). Quân chủ Lập hiến (Đại nghị) có nghĩa quyền lực nhà nước tối cao được
chia làm hai: Vua và Nghị viện, Vua trị vì nhưng không cai trị, quyền lực nhà nước
tập trung trong tay của Nghị viện (điển hình là ở Anh, Nhật, Úc,… ). Quân chủ ở đây
là thể hiện quyền lực tập trung một phần hay toàn bộ vào trong tay một người theo
nguyên tắc kế thừa, và sự kế thừa ở đây không nhất thiết phải là “cha truyền con
nối” (chẳng hạn như ở Malaisia, người ta tổ chức bầu luân phiên giữa 9 tiểu vương
quốc, không theo kiểu theo kiểu cha truyền con nối). Ở Campuchia, Vua cũng không
có quyền lựa chọn người kế vị mà người kế vị là do Hội đồng Hoàng gia gồm 9 thành
3


viên sẽ bổ nhiệm, lựa chọn người ít nhất 30 tuổi, là thành viên hoàng tộc và hậu duệ
của Quốc vương Ang Duong, Norodom hoặc Sisowath.
Thể chế Cộng hòa có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Thể chế này có 4

NHỮNG YẾU TỐ TÍCH CỰC
CỦA MỘT SỐ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI
VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
2.1. Về hiến pháp
Hiến pháp của Mỹ được coi là một trong những bản hiến pháp đầu tiên và
thành công nhất thế giới. Cơ sở để hình thành bản hiến pháp này là: truyền thống cai
trị của người Anh; kinh nghiệm thực tiễn trong tự trị của 13 bang; Tuyên ngôn độc
lập; học thuyết tam quyền phân lập của Lôccơ và Môngtetxkiơ. Hiến pháp được xây
dựng theo 6 nguyên tắc cơ bản sau: Các bang đều bình đẳng, phân quyền giữa các
bang và liên bang; nhà nước hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phân lập; Mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật; Chính phủ và tất cả mọi người đều bình đẳng
theo pháp luật; Nhân dân có quyền bãi miễn Chính phủ bằng cách thay đổi Hiến
pháp; giao quyền có thời hạn; Hiến pháp, các sắc lệnh của Quốc hội, các hiệp định ký
kết với nước ngoài đều là những pháp luật tối cao của đất nước.
Đây là một trong những bản hiến pháp ra đời sớm nhất trong lịch sử của nhân
loại và có thể nói đó là một trong những bản hiến pháp ít sửa đổi nhất. Trong khi ấy,
thực tiễn xã hội luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng, bản Hiến pháp của Mĩ ra
đời cách đây đã hàng trăm năm mà hầu như không phải sửa đổi, không những cho
chúng ta thấy được tư duy vượt trước thời đại mà còn đem lại bài học lớn cho chúng
ta trong việc làm ra luật pháp. Phải có những tư duy vượt trước như vậy, phải trên cơ
sở căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh và thực tế đời sống để làm ra luật, khi đó pháp
luật mới có thể đi vào cuộc sống và tồn tại được lâu bền.
Một bản Hiến pháp hoàn hảo, tốt nhất cũng phải thay đổi sau một khoảng thời gian.
Hiến pháp của Hoa Kỳ đã tồn tại hơn 200 năm. Trong nhiều khía cạnh, người dân Mỹ
không hài lòng với bản Hiến pháp như hệ thống bầu cử Tổng thống. Hiến pháp Mỹ
cũng thiếu thể chế quyền lực thứ 4 để kiểm soát 3 nhánh quyền lực còn lại. Nhưng tại
sao Hiến pháp của chúng Mỹ vẫn tồn tại? Điều gì làm cho bản Hiến pháp tồn tại lâu
dài? Muốn làm một bản Hiến pháp tồn tại lâu dài phải làm gì?
5


ở Mỹ, quá trình thông qua một dự luật phải trải qua một chu trình: dự luật – Hạ viện ủy ban thích hợp – tiểu ban thích hợp - ủy ban Quy tắc (ấn định lịch trình tranh cãi) –
gửi lại ủy ban chuyên trách thảo luận – ra Hội nghị toàn thể Hạ viện thảo luận và biểu
quyết. Quy trình ở Thượng viện cũng tương tự, nhưng không có ủy ban quy tắc. Dự
luật thông qua ở cả hai viện sẽ gửi lên Tổng thống phê chuẩn. Nếu dự luật chưa thống
nhất, hai viện sẽ thành lập ủy ban hỗn hợp để chỉnh lý, bổ sung, Tổng thống có 10
ngày để xem xét. Có 4 khả năng: Tổng thống ký ngay; Tổng thống phủ quyết, dự luật
quay lại Quốc hội, nếu hai viện biểu quyết lại và đạt 2/3 số phiếu trở lên, dự luật vẫn
có hiệu lực; hết 10 ngày nhưng Tổng thống không ký, kỳ họp Quốc hội đã kết thúc,
dự luật phải trải qua các bước từ đầu; Tổng thống phủ quyết một vài điểm trong dự
luật, gửi lại để Quốc hội thảo luận. Ở mỗi giai đoạn đó, dự luật đều có thể bị bác bỏ,
vì vậy, trên thực tế số dự luật đưa ra rất nhiều, nhưng chỉ có rất ít trở thành luật
(khoảng 6%).
Điều đó cho thấy sự chặt chẽ trong quá trình làm luật ở các nước, và nhằm đảm bảo
chất lượng những dự luật sẽ được đưa ra. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, có những
đạo luật do thời gian cấp bách, chưa chuẩn bị kỹ nhưng ban soạn thảo vẫn đề nghị
Quốc hội cứ thông qua rồi giao cho Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn sau.
Hệ quả là luật ban hành mà vẫn phải chờ hướng dẫn thi hành đi kèm (đó là chưa nói
đến việc giao luật của Quốc hội cho cơ quan hành pháp đi giải thích). Tình trạng luật
chờ nghị định, nghị định chờ thông tư, thông tư có khi vẫn phải có công văn hướng
dẫn mới đủ rõ để thi hành là một hiện tượng không hiếm gặp. Đó là điều bất hợp lý
trong quá trình và cách làm luật của chúng ta. Chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng
để tiến hành đổi mới lĩnh vực lập pháp có như vậy mới có thể đáp ứng được những
yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn.
2.2.2. Lĩnh vực hành pháp
Ở Anh, đảng đối lập có quyền thành lập “Chính phủ bóng”. Pháp luật Anh cho
phép đảng đối lập thành lập “Nội các trong bóng tối” nhà nước trả lương cho Thủ
7


tướng của Nội các này. Có thể nói đây chính là việc tạo ra cơ chế để kiểm soát quyền



luật. Quốc hội không thể buộc Tổng thống trả lời bất cứ vấn đề nào, ngoại trừ đang có
lời buộc tội.
Tổng thống có quyền thành lập Chính phủ, bổ nhiệm (với sự đồng ý của
Thượng viện), các bộ trưởng, thẩm phán liên bang, hội đồng cố vấn, đại sứ,… tất cả
khoảng 3000 chức vụ (nếu kể cả quân đội, cảnh sát, các cơ quan tình báo thì con số
được bổ nhiệm lên tới 75.000 chức vụ).
Tổng thống có quyền chuẩn bị dự thảo ngân sách, các dự luật tài chính; ban
hành các văn bản lệnh thừa hành, quy tắc, quy chế, kế hoạch cải tổ. Hiện nay, có trên
15.000 lệnh thừa hành đang có hiệu lực.
Tổng thống Mỹ còn là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, Tổng thống có
quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hay trong từng địa phương, có
quyền dùng sức mạnh quân sự lập lại trật tự.
Trong đối ngoại, Tổng thống có quyền thay mặt quốc gia ký kết các hiệp định
với các nước, hoạch định chính sách đối ngoại. Về tư pháp, Tổng thống có quyền bổ
nhiệm các Thẩm phán tòa án liên bang và ra các lệnh ân xá.
Trên thực tế, Tổng thống có nhiều quyền lực hơn so với quy định của Hiến
pháp. Tổng thống thường dùng các biện pháp gây ảnh hưởng của mình trong Quốc
hội, quan tâm đến quyền lợi của các lãnh tụ nhóm trong Quốc hội, các đảng viên của
mình và vận động sự ủng hộ của dân chúng, nhất là biết sử dụng các phương tiện
thông tin đại chúng.
Thực tế hiện nay ở nước ta, quyền hạn của Chủ tịch nước với tư cách là nguyên
thủ quốc gia còn khá khiêm tốn. Để đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của thời đại cần
phải trao cho Chủ tịch nước nhiều quyền hạn hơn nữa cả về góc độ lập pháp, hành
pháp và tư pháp.
Ở Mỹ, cũng như một số quốc gia khác nữa, các cơ quan hành pháp hoạt động
độc lập, không bị Quốc hội giải tán, chỉ chịu trách nhiệm trước Nguyên thủ quốc gia
(Tổng thống, Thủ tướng, … Các thành viên Chính phủ không được kiêm nhiệm chức
vụ trong Quốc hội. Tính độc lập đó làm tăng tính khách quan, tự chủ trong công việc

không phối hợp với nhau, chống đối nhau. Chính nhờ vào quan điểm này mà bộ máy
nhà nước ta qua cải cách và đổi mới ngày càng được củng cố và hoàn thiện hơn về tổ
chức và hoạt động quyền lực, tránh được tình trạng như: lẫn lộn chức năng và quyền
hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; dựa dẫm và ỷ lại nhau trong việc thực hiện
10


quyền lực nhà nước; nể nang, xuê xoa trong giám sát, kiểm sát, thanh tra việc thực
hiện chức năng và quyền hạn của mỗi bên.
Tuy nhiên có thể thấy rằng, việc phân công quyền lực giữa các cơ quan nhà nước còn
nhiều bất cập. Chính sự phân công không rõ ràng về thẩm quyền đã dẫn đến sự chồng
chéo giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong việc thực thi quyền lực.
Làm cho cơ cấu quyền lực không phát huy được hết hiệu quả. Bên cạnh đó, chúng ta
cũng chưa kế thừa và thiết lập được cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu ngay trong
bộ máy nhà nước.
Do vậy, việc vận dụng học thuyết tam quyền phân lập trong tổ chức và thực thi quyền
lực nhà nước ta cần tập trung vào các nội dung cơ bản sau:
- Tiến hành sự phân công, phân nhiệm rạch ròi về mặt chức năng, thẩm quyền giữa
các nhánh quyền lực và thể chế hoá cụ thể, rõ ràng trong Hiến pháp nhằm tạo ra sự ổn
định trong hoạt động của bộ máy nhà nước.
- Cần cầu thị học tập cơ chế kiểm soát quyền lực mà học thuyết tam quyền phân lập
đã đưa ra và vận dụng sáng tạo trong điều kiện một đảng lãnh đạo, nhằm thiết lập các
ràng buộc bên trong đối với quyền lực.
- Nhân sự phải được chuyên môn hoá cao độ mà trước hết là hạn chế tối đa sự kiêm
nhiệm ở các bộ phận quyền lực khác nhau.
Có thể khẳng định rằng, cho đến nay việc nghiên cứu học thuyết, những mô hình thể
chế trên thế giới, tiếp thu những hạt nhân hợp lý vẫn có ý nghĩa quan trọng đối với
quá trình đổi mới hệ thống chính trị, cải cách bộ máy nhà nước ta theo hướng xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Khai thác nhân tố hợp lý
đòi hỏi phải làm rõ tính độc lập, chuyên nghiệp trong hoạt động của các cơ quan nhà

làm tiền đề (cho các yêu cầu khác). Thứ hai, đương nhiên lựa chọn chế độ nào đều
phải được sự đồng tình, ủng hộ của đại đa số nhân dân, thông qua những người đại
diện của mình đó là Quốc hội.
Việt nam chỉ có một đảng lãnh đạo đó cũng là tất yếu của lịch sử, hoàn toàn phù hợp
với quy luật phát triển của xã hội. Tuy vậy, chúng ta cũng cần phải nhìn nhận những
tiến bộ của các đảng khác để học hỏi. Học không có nghĩa là rập khuôn, máy móc.
Không có nghĩa họ thành lập “Chính phủ bóng” thì chúng ta cũng phải thành lập. Mà
học hỏi ở đây, là chúng ta cần phải tạo lập được cơ chế cho phản biện xã hội, tạo điều
kiện để các tổ chức chính trị xã hội hoạt động, phát huy quyền làm chủ thực sự cho
quần chúng nhân dân.
12


2.4. Thể chế Các nhóm lợi ích
Ở các nước trên thế giới như: Anh, Mỹ, Pháp, Đức,… tồn tại thể chế Các nhóm
lợi ích. Các nhóm lợi ích này tồn tại và hoạt động nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của
một nhóm người trong xã hội. Ở Việt Nam, chúng ta không có các nhóm lợi ích giống
như họ, nhưng chúng ta có Mặt trận và các Đoàn thể, chúng ta cần phải có cơ chế và
tạo điều kiện để Mặt trận, Các Đoàn thể hoạt động, phát huy tối đa quyền làm chủ
của nhân dân. Cũng giống như việc Chính phủ các nước khác tạo điều kiện để nhân
dân bày tỏ nguyện vọng cũng như chính kiến của mình thông qua trung gian, điển
hình như “lobby”.
“Lobby" là khái niệm khá mới mẻ đối với Việt Nam, nhưng lại phổ biến ở nhiều nước
trên thế giới. Vận động hành lang theo đúng nghĩa được ghi nhận trong các văn bản
pháp luật có mục đích rất trong sáng và có vai trò, tác dụng tích cực đến hoạt động
của chính quyền nói chung và cụ thể là quá trình hoạch định chính sách nói riêng. Tại
một số quốc gia, vận động hành lang được pháp luật thừa nhận như một hoạt động
hợp pháp. Những người tiến hành hoạt động này phải đăng ký với chính quyền và
thực hiện việc báo cáo định kỳ để bảo đảm được tiến hành một cách minh bạch, ít bị
lạm dụng nhất. Dù được thừa nhận công khai hay không, vận động hành lang vẫn

chế của những thể chế ấy.
Có thể nói, chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội giống như việc khai mở ra một con
đường mới. Điều đó cho thấy trước mắt chúng ta đầy rẫy những khó khăn và thách
thức mà chúng ta cần phải vượt qua. Một cơ thể yếu sẽ không thể gánh được nặng và
đi được xa. Hơn lúc nào hết chúng ta cần phải nâng cao sức đề kháng của bản thân, tự
hoàn thiện bản thân mình. hiện nay, có rất nhiều thể chế chính trị khách nhau trên thế
giới, nếu gạt đi những yếu tố lạc hậu, bảo thủ, phản tiến bộ thì còn lại đó là những tri
thức, những kinh nghiệm vô cùng quý báu mà đã được thực tiễn minh chứng. Chúng
ta cần phải biết trân trọng, học hỏi và kế thừa. Có như vậy, chúng ta mới có thể đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy nhanh thời kỳ quá độ đi
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Chính trị học nâng cao: Khoa Chính trị học, Học viện Báo chí và tuyên truyền.

2.

Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn An: Thể chế chính trị thế giới đương đại, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
3.

Đặng Thị Lương: Các đảng chính trị trên thế giới, Nxb Chính trị - Hành chính,

Hà Nội 2012.
4.

Lê Thị Hằng: Đảng chính trị phương Tây, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status