TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC DỰA TRÊN VẤN ĐỀ (PBL) CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” VẬT LÍ 11 NÂNG CAO - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
DỰA TRÊN VẤN ĐỀ (PBL)
CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI”
VẬT LÍ 11 NÂNG CAO
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số

: 60140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

HUẾ, NĂM 2014

1


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa..............................................................................................................i
Lời cam đoan............................................................................................................. ii
Lời cảm ơn...............................................................................................................iii
MỤC LỤC................................................................................................................
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT......................................................................
TRANG....................................................................................................................
2.1. Những nghiên cứu trên thế giới....................................................................10
NỘI DUNG.............................................................................................................
1.1.3. NGUYÊN NHÂN CỦA TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC

3.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM....................
Bảng 3.1. Phân bố điểm nhóm TN và ĐC trước khi TNSP......................................
Biểu đồ 3.1. Đa giác đồ về chất lượng học tập của nhóm TN và ĐC.......................
Bảng 3.2. Phân bố điểm của nhóm TN và nhóm ĐC sau TNSP..............................
Biểu đồ 3.2. Đường biểu diễn tần suất luỹ tích hội tụ lùi của nhóm TN và ĐC
trong đợt TNSP...............................................................................................
Bảng 3.4. Bảng tổng hợp các tham số thống kê.......................................................
Bảng 3.5. Bảng tổng hợp các chỉ số thống kê..........................................................
Bảng 3.6. Kết quả thăm dò GV về tiết học TNSP....................................................
Bảng 3.7. Kết quả thăm dò HS về tiết học TNSP....................................................
KẾT LUẬN............................................................................................................
1. Đánh giá kết quả nghiên cứu...............................................................................
2. Hướng phát triển của đề tài..................................................................................
3. Khuyến nghị........................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................
PHỤ LỤC

3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt

Viết đầy đủ

CHĐH

:

Câu hỏi định hướng


HS

:

Học sinh

NC

:

Nâng cao

PBL

:

Problem-based learning

PPDH

:

Phương pháp dạy học

QTDH

:

Quá trình dạy học

Bảng
Bảng 1.1. So sánh sự khác nhau giữa hai loại vấn đề có cấu trúc và phi cấu trúc
...................................................................... Error: Reference source not found
Bảng 1.2. Kết quả điều tra GV về thực trạng dạy học môn Vật lí theo PBL......Error:
Reference source not found
Bảng 2.1. Phiếu tổng kết kiến thức số 1.................Error: Reference source not found
Bảng 2.2. Phiếu tổng kết kiến thức số 2.................Error: Reference source not found
Bảng 3.1. Phân bố điểm nhóm TN và ĐC trước khi TNSP.....Error: Reference source
not found
Bảng 3.2. Phân bố điểm của nhóm TN và nhóm ĐC sau TNSP........Error: Reference
source not found
Bảng 3.3. Phân bố tần suất luỹ tích hội tụ lùi của nhóm TN, ĐC sau TNSP......Error:
Reference source not found
Bảng 3.4. Bảng tổng hợp các tham số thống kê.....Error: Reference source not found
Bảng 3.5. Bảng tổng hợp các chỉ số thống kê........Error: Reference source not found
Bảng 3.6. Kết quả thăm dò GV về tiết học TNSP.............Error: Reference source not
found
Bảng 3.7. Kết quả thăm dò HS về tiết học TNSP..............Error: Reference source not
found
MỤC LỤC................................................................................................................
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT......................................................................
TRANG....................................................................................................................
2.1. Những nghiên cứu trên thế giới....................................................................10
NỘI DUNG.............................................................................................................
1.1.3. NGUYÊN NHÂN CỦA TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC
SINH..............................................................................................................
Bảng 1.1. So sánh sự khác nhau giữa hai loại vấn đề có cấu trúc và phi cấu trúc....
5



Bảng 3.4. Bảng tổng hợp các tham số thống kê.......................................................
Bảng 3.5. Bảng tổng hợp các chỉ số thống kê..........................................................
6


Bảng 3.6. Kết quả thăm dò GV về tiết học TNSP....................................................
Bảng 3.7. Kết quả thăm dò HS về tiết học TNSP....................................................
KẾT LUẬN............................................................................................................
1. Đánh giá kết quả nghiên cứu...............................................................................
2. Hướng phát triển của đề tài..................................................................................
3. Khuyến nghị........................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................
Hình
MỤC LỤC................................................................................................................
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT......................................................................
TRANG....................................................................................................................
2.1. Những nghiên cứu trên thế giới....................................................................10
NỘI DUNG.............................................................................................................
1.1.3. NGUYÊN NHÂN CỦA TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC
SINH..............................................................................................................
Bảng 1.1. So sánh sự khác nhau giữa hai loại vấn đề có cấu trúc và phi cấu trúc....
1.2.4. CẤU TRÚC CỦA PBL................................................................................
Hình 1.1. Sơ đồ tiến trình tổ chức dạy học theo PBL..............................................
Bảng 1.2. Kết quả điều tra GV về thực trạng dạy học môn Vật lí theo PBL............
Hình 2.1. Sơ đồ cấu trúc chương “Dòng điện không đổi”.......................................
Vật lí 11 NC.............................................................................................................
2.1.2. CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN KHÔNG
ĐỔI”...............................................................................................................
- VIẾT ĐƯỢC CÔNG THỨC TÍNH SUẤT ĐIỆN ĐỘNG VÀ ĐIỆN TRỞ
TRONG CỦA BỘ NGUỒN MẮC NỐI TIẾP, MẮC SONG SONG..........

1. Đánh giá kết quả nghiên cứu...............................................................................
2. Hướng phát triển của đề tài..................................................................................
3. Khuyến nghị........................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................

8


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết kì họp thứ 8, Quốc hội khoá XI về đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục Việt Nam đã nêu: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu
trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học
đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục
gia đình và giáo dục xã hội” [2].
Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) sao cho trong dạy học phải đảm bảo
được sự phát triển năng lực sáng tạo của HS, bồi dưỡng tư duy khoa học, năng lực
tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) để thích ứng được
với cuộc sống với sự phát triển của khoa học. Trong dạy học phải phát huy khả
năng tự chủ, tích cực của học sinh (HS), giúp cho HS chiếm lĩnh được các kiến
thức khoa học sâu sắc… Hiện nay, giáo viên (GV) sử dụng nhiều PPDH tích cực
nhằm đổi mới PPDH theo hướng nâng cao (NC) tính tích cực tự lực cho HS như
dạy học GQVĐ, dạy học phân hóa, dạy học khám phá, dạy học theo dự án, dạy
học hợp tác,...
PPDH dựa trên vấn đề - Problem Based Learning (PBL) là một trong những
PPDH mới có thể đáp ứng được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo con người trong
thời đại ngày nay. PPDH này giúp phát triển tính tích cực, tư duy sáng tạo, năng
lực GQVĐ của HS. Nó đã được áp dụng rất hiệu quả ở một số trường đại học và
trung học phổ thông (THPT) trên thế giới. Ở nước ta, phương pháp này được áp

Florida) đào tạo hoàn toàn dựa vào PBL.
Tại Malaysia, các nhà giáo dục đang cố gắng để áp dụng mô hình dạy học dựa
trên vấn đề vào môn Toán học ở trung học. Mô hình này được gọi là mô hình học
tập dựa trên vấn đề trong 4 lĩnh vực cốt lõi (PBL4C) lần đầu tiên được đề cập đến
trong hội nghị SEAMEO RECSAM năm 2008 và kết quả của khóa đào tạo đầu tiên
được báo cáo tại hội nghị EARCOME 5 năm 2010, và tiếp theo là tại hội nghị
UNESCO – APEID 15 năm 2011. Mô hình này đã mở rộng để áp dụng vào lĩnh vực
quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực và giáo dục quốc tê (EIU). Sau đó, nhiều
trường đại học Malaysia bắt đầu thực hiện PBL trong chương trình giảng dạy của họ
nhằm nổ lực để NC chất lượng giáo dục. Phối hợp với trường đại học Aalborg của
Đan Mạch PBL đã được giới thiệu tại trường đại học Tun Hussein Onn Malaysia
(UTHM). Kể từ đó, PBL đã được các giảng viên sử dụng rộng rãi trong các ngành
kỹ thuật cũng như nhân văn tại UTHM.

10


Một số trường y tế đã đưa PBL vào chương trình giảng dạy của họ, sử dụng
những trường hợp thực tế để dạy sinh viên cách suy nghĩ như một bác sỹ. Hơn 80%
các trường y tế tại Mỹ đã sử dụng PBL trong chương trình của họ. Dữ liệu 10 năm
nghiên cứu từ Missouri School of Medicine cho biết PBL có ảnh hưởng rất tích cực
đến năng lực của sinh viên sau khi ra trường. Đại học Monash là cơ sở thứ hai áp
dụng PBL trong môi trường học về y tế, trường đã áp dụng trong khoa Điều dưỡng
và Khoa học y tế cho cử nhân Dược và cử nhân phẫu thuật (MBBS). Năm 1998,
Western University of Health Sciences đã mở trường cao đẳng thú y với chương
trình giảng dạy dựa hoàn toàn vào PBL. Năm 2002, Gadjah Mada University of
Yogyakarta, Idonesia bắt đầu đưa ra một chương trình học y tế quốc tế theo PBL.
Năm 2009, Libyan International Medical University of Benghazi, Libya bắt đầu sử
dụng PBL cho tất cả chương trình học y tế của họ [41].
Năm 2002, Đại học Gadjah Mada của Yogyakarta, Indonesia bắt đầu cung cấp

của Hoàng Ánh Phương, trường Đại học Quốc gia Hà Nội; …
Có thể nói PPDH PBL mang lại kết quả cao trong dạy học vật lí nói riêng và
các môn học khác nói chung. Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy cho đến nay chưa
có tác giả nào nghiên cứu về tổ chức hoạt động dạy học (HĐDH) dựa trên vấn đề
(PBL) chương “Dòng điện không đổi” Vật lí 11 NC.
3. Mục tiêu đề tài
Đề xuất được tiến trình tổ chức HĐDH một số kiến thức trong chương
“Dòng điện không đổi” Vật lí 11 NC theo PPDH dựa trên vấn đề PBL.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được tiến trình dạy học theo PPDH dựa trên vấn đề và tổ chức
HĐDH chương “Dòng điện không đổi” Vật lí 11 NC theo đúng tiến trình đã xây
dựng thì sẽ góp phần tích cực hóa hoạt động nhận thức (HĐNT) và NC chất lượng
kiến thức của HS.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học dựa trên vấn đề.
- Nghiên cứu thực tiễn dạy học chương “Dòng điện không đổi” tại các trường
THPT hiện nay.
- Nghiên cứu nội dung, đặc điểm chương “Dòng điện không đổi”.
- Xây dựng tiến trình dạy học chương “Dòng điện không đổi” theo PBL.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) để kiểm nghiệm tính khả thi của
đề tài nghiên cứu.

12


6. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học dựa trên vấn đề chương “Dòng điện không đổi” Vật
lí 11 NC.
7. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc thiết kế dạy học theo PPDH dựa trên vấn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức HĐDH dựa trên vấn đề
Chương 2. Xây dựng và định hướng tổ chức HĐDH dựa trên vấn đề trong chương
“Dòng điện không đổi” Vật lí 11 NC
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

14


NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC DỰA TRÊN VẤN ĐỀ
1.1. Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
1.1.1. Khái niệm về tính tích cực
Theo I.U.C Ba-ban-xki, tính tích cực trong học tập được hiểu là “sự phản ánh
vai trò tích cực của cá nhân ở HS trong quá trình học, nhấn mạnh rằng, HS là chủ
thể của quá trình học chứ không phải là đối tượng thụ động. Tính tích cực của HS
không chỉ tập trung vào sự ghi chép, ghi nhớ đơn giản hay thể hiện sự chú ý mà
còn hướng dẫn HS tự lĩnh hội các tri thức mới, tự nghiên cứu các sự kiện, tự rút ra
kết luận và tự khái quát sao cho dễ hiểu, tự cụ thế hóa các kiến thức mới nhằm tiếp
thu kiến thức mới” [7].
Theo Kharlamốp: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là
của người hành động. Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS đặc
trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và có nghị lực cao trong quá trình nắm
kiến thức” [4].
Theo Đặng Vũ Hoạt, tính tích cực nhận thức biểu hiện ở chỗ huy động mức độ
cao các chức năng tâm lý, đặc biệt là chức năng tư duy. Theo đó, tính tích cực nhận
thức trong học tập là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập,
cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức [5].
Như vậy, tính tích cực trong hoạt động nhận thức bao gồm ba mặt là nhận

Tiến hành lượng hóa một số dấu hiệu để kiểm tra, đánh giá định lượng tính
tích cực nhận thức của HS trong QTDH bao gồm:
- Tỷ lệ HS tự công nhận là có hứng thú trong học tập;
- Tỷ lệ HS hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập;
- Thời gian hoàn thành nhiệm vụ học tập của HS;
- Tỷ lệ HS hiểu, ghi nhớ và trình bày lại được nội dung bài học;
- Tỷ lệ HS hoàn thành bài tập được giao về nhà;
- Số HS có vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn.

16


1.1.3. Nguyên nhân của tính tích cực nhận thức của học sinh
Con người HĐNT không chỉ do nhu cầu nhận thức mà do nhu cầu sinh học,
nhu cầu đạo đức và giao lưu văn hóa. Các nhu cầu đã thúc đẩy làm nảy sinh HĐNT,
làm xuất hiện tính tích cực nhận thức.
Tính tích cực của HS tuy nảy sinh trong quá trình học tập nhưng lại là kết quả
của nhiều nguyên nhân khác nhau. Có những nguyên nhân nảy sinh trong chính quá
trình học tập nhưng cũng có những nguyên nhân được hình thành trong quá khứ,
thậm chí từ lịch sử hình thành nên nhân cách của HS.
Nhìn chung thì tính tích cực nhận thức phụ thuộc những nhân tố sau:
- Hứng thú nhận thức;
- Nhu cầu nhận thức;
- Động cơ HĐNT;
- Năng lực HĐNT;
- Ý chí;
- Sức khỏe;
- Môi trường: bầu không khí tâm lý, quan hệ thầy trò bạn bè,…
Theo Thái Duy Tuyên [6], trong những nhân tố trên thì có những nhân tố GV
có thể hình thành ngay trong QTDH trên lớp như hứng thú nhận thức, nhu cầu nhận

1.1.4. Các biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức của học sinh
Tính tích cực nhận thức là một trạng thái tâm lí, là một phẩm chất vốn có của
nhân cách HS, nó phụ thuộc vào sự nỗ lực học tập của HS. Tuy nhiên, để QTDH đạt
hiệu quả cao thì GV phải sử dụng các biện pháp thích hợp để kích thích và phát huy
cao độ tính tích cực nhận thức của HS, tức là tích cực hoá HĐNT của HS.
Theo Thái Duy Tuyên, “Tích cực hoá là một tập hợp các hoạt động của thầy
giáo và của các nhà giáo dục nói chung, nhằm biến người học từ thụ động thành
chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao
hiệu quả học tập” [6].
Như vậy, để NC hiệu quả dạy học, GV cần phải tích cực hoá HĐNT của HS
nhằm khơi dậy mặt tự phát và khuyến khích mặt tự giác trong tính tích cực của HS, làm
cho các em từ chỗ lơ là, lười biếng đến chỗ tích cực và say mê học tập. Sau đây là một số
biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của HS:
- Tạo ra và duy trì không khí lớp học sôi nổi, môi trường sư phạm thân thiện:
Không khí dạy học và môi trường sư phạm là một yếu tố tâm lí ảnh hưởng rất lớn
đến tinh thần, tình cảm và thái độ học tập của HS. Lớp học sôi nổi, vui vẻ và môi
trường thân thiện sẽ tạo cho HS cảm giác gần gũi, thoải mái trong học tập. Sự thân

18


mật giữa GV với HS, giữa HS với nhau sẽ giúp HS mạnh dạn hơn, tích cực suy nghĩ
và thảo luận nhiều hơn để xây dựng bài học. Nhờ vậy mà tính tích cực nhận thức
của HS được phát huy cao độ góp phần NC hiệu quả dạy học.
- Xác định rõ mục tiêu cụ thể của bài học: Ngay từ đầu mỗi giờ học, GV cần
nêu rõ mục tiêu cụ thể về kiến thức và kĩ năng HS phải đạt được sau khi nghiên cứu
một phần hay cả bài học, làm cho HS thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề
nghiên cứu. Điều này giúp HS xác định rõ mục đích, động cơ và đối tượng nhận
thức, nhằm kích thích mặt tự giác của tính tích cực nhận thức ở HS.
- Kích thích sự ham hiểu biết và hứng thú học tập của học sinh: Để kích thích

kể củng cố kiến thức cho HS. Mặt khác, các hoạt động này sẽ tạo không khí vui
chơi thoải mái, học mà chơi, chơi mà học, góp phần làm giảm bớt căng thẳng cho
HS do học lí thuyết gây ra.
1.2. Dạy học dựa trên vấn đề (PBL)
1.2.1. Khái niệm
Theo một số tác giả, PBL được hiểu như sau:
Theo Duch: “PBL là cách thức hướng dẫn HS cách học, cách hợp tác với các
thành viên trong cùng một nhóm để tìm ra giải pháp cho một vấn đề có thực trong
cuộc sống đồng thời liên quan đến chương trình học. Những vấn đề này được sử
dụng để khơi dậy trí tò mò và khởi xướng nhu cầu học tập. Rèn luyện cho HS khả
năng tư duy nghiêm túc, kĩ năng phân tích chuyên sâu, cũng như kĩ năng tìm kiếm
các nguồn tư liệu hỗ trợ” [34].
Theo Don Woods: “PBL là bất kì môi trường học tập nào mà vấn đề đặt ra
sẽ điều khiển quá trình học tập. Như vậy, một vấn đề nào đó sẽ được giao cho
người học trước khi họ được học các kiến thức. Vấn đề đặt ra sao cho người học
khám phá rằng họ cần phải học một số kiến thức nào đó trước khi họ có thể giải
quyết vấn đề” [33].
Theo Barrows và Kelson: “PBL vừa là chương trình, vừa là quá trình.
Chương trình bao gồm những vấn đề được lựa chọn kĩ càng, đòi hỏi người học
trong quá trình học phải tích luỹ kiến thức then chốt. Quá trình là sự rèn luyện các
kĩ năng giải quyết vấn đề thành thạo, phương pháp tự học, kĩ năng làm việc theo
nhóm, rèn luyện trong những quá trình, những phương pháp được sử dụng phổ
biến trong cuộc sống, trong giải quyết vấn đề” [36].
Theo Bound, ý tưởng của PBL là dùng một vấn đề mà người học phải giải
quyết để làm điểm khởi đầu của học tập [10]. Trong môi trường dạy học PBL người
học được khuyến khích để GQVĐ của thế giới thực. PBL là phương pháp theo chủ
nghĩa kiến tạo với quan điểm triết lý cho rằng kiến thức không phải là tuyệt đối mà
20



việc theo nhóm, HS xác định những điều đã biết, những điều cần biết và làm thế
nào để có được những thông tin cần thiết trong việc GQVĐ. Trên cơ sở đó, người

21


học tự chiếm lĩnh tri thức và phát triển các năng lực như lập kế hoạch, tự định
hướng học tập, hợp tác, các kĩ năng tư duy, kĩ năng sống.
1.2.2. Các đặc trưng cơ bản của PBL
 Vấn đề là bối cảnh trung tâm của hoạt động dạy và học
HS được tiếp cận với vấn đề ngay ở giai đoạn đầu của bài học, và thông qua
việc giải quyết những vấn đề bằng quá trình hoạt động nhóm HS sẽ tự thu nhận kiến
thức. Brooks cho rằng một trong những nguyên tắc chủ yếu của sự giảng dạy theo
xu hướng PBL là GV gợi ý cho HS tìm ý tưởng trong những vấn đề được đặt ra.
Chuỗi sự kiện hoặc vấn đề nên có tính thách thức, tính phi lí, tính dị thường, chính
những điều đó sẽ thúc đẩy hoạt động học tập của HS [30].
Bruce cho rằng vấn đề mang tính thách thức, không tuân thủ thường làm cho
chúng ta dẫn đến tình trạng “mất cân bằng”. Sự “mất cân bằng” đó sẽ thúc đẩy hoạt
động nghiên cứu, tìm tòi, học tập để giải quyết mâu thuẫn và trở lại trạng thái cân
bằng [30]. Bên cạnh tính phi lý, tính thách thức, để đạt được hiệu quả trong dạy
học, những vấn đề đặt ra phải được chọn lọc cẩn thận tương ứng với mục tiêu kiến
thức mà GV mong muốn truyền đạt. Vấn đề có thể là một hiện tượng tự nhiên hoặc
là một sự kiện hay một tình huống đã, đang hoặc có thể sẽ diễn ra trong thực tế và
chứa đựng những điều cần được lý giải.
Như vậy, những vấn đề đặt ra đã tạo cho HS sự hứng thú khi bắt đầu tham gia
vào bài học, thúc đẩy HS tìm câu trả lời. Câu trả lời của HS không nhất thiết là một
kết luận chính xác hay một phương án đúng duy nhất mà nó có thể là những giải
pháp chấp nhận được, nó được gọi là những kết luận mở hay giải pháp mở. Và
trong những kết luận mở, giải pháp mở đó lại chứa những vấn đề mới, tiếp tục lôi
cuốn HS tham gia vào quá trình học. Do đó, có thể thấy trong suốt quá trình học,

thuyết và đi đến kết luận.
Bắt đầu từ giai đoạn tiếp cận vấn đề, thảo luận nhóm giúp các cá nhân phân tích
vấn đề, xác định vấn đề quan trọng cần tập trung. Tiếp theo các cá nhân sẽ chia sẻ
những thông tin, những hiểu biết của bản thân về vấn đề. Từ đó xác định được những
thông tin còn thiếu hụt, cần bổ sung để GQVĐ. Đây là cơ sở rất cần thiết để có thể
tìm được giải pháp thích hợp GQVĐ. Trên cơ sở những vấn đề thiếu hụt, các cá nhân
sẽ có những giai đoạn tự nghiên cứu và tìm hiểu. Tuy nhiên, những thông tin mà các
cá nhân tự tìm hiểu, nghiên cứu chưa hẳn là những thông tin xác thực, đúng đắn, cần
thiết, chính vì vậy, kết quả nghiên cứu cần phải được đưa ra thảo luận nhóm. Thông
qua việc chất vấn trong nhóm, các kết quả cá nhân nghiên cứu sẽ được chọn lọc, phân
tích, từ đó đưa ra giải pháp chung nhất, đúng nhất cho cả nhóm.
Mặt khác, thảo luận nhóm cũng là cơ sở để phát triển kĩ năng giao tiếp. Việc
trao đổi thông tin, trình bày và bảo vệ kết quả nghiên cứu của cá nhân trước nhóm

23


sẽ giúp HS trau dồi kĩ năng giao tiếp. Qua việc thảo luận nhóm, HS sẽ có cơ hội để
thể hiện bản thân, từ đó sẽ nhận được những đóng góp hữu ích từ những cá nhân
khác, HS sẽ có điều kiện để hoàn thiện bản thân.
 Vai trò của GV chỉ mang tính hỗ trợ
Vai trò của GV trong PBL không phải là người cung cấp kiến thức sẵn có mà
là người đưa ra vấn đề, tình huống để lôi kéo HS tham gia GQVĐ. Khi HS đã tham
gia vào GQVĐ thì GV là người giúp đỡ họ trong quá trình học tập với vai trò giống
như một huấn luyện viên, một người hướng dẫn và tạo điều kiện. Sự hướng dẫn có
thể thông qua các câu hỏi định hướng, các gợi ý để đảm bảo HS luôn đi đúng
hướng, và luôn lựa chọn những phương án hợp lý, những lựa chọn này được coi là
chìa khoá của việc học.
 Kiến thức mang tính liên môn
Vấn đề học tập đưa ra trong PBL là những vấn đề xuất phát từ thế giới thực.

Một vấn đề có cấu trúc bao gồm tất cả các yếu tố của vấn đề bao gồm một
trạng thái được xác định ban đầu, một trạng thái mục tiêu, một vài trạng thái trung
gian, và một số ít thông số xuất hiện trong vấn đề [17]. Việc GQVĐ đòi hỏi việc áp
dụng một số hữu hạn các khái niệm, quy tắc, giải pháp. Vì vậy, các kĩ năng GQVĐ
có cấu trúc chỉ có thể được chuyển giao cho các loại vấn đề tương tự.
 Quy trình GQVĐ có cấu trúc
Mô hình xử lý thông tin GQVĐ thường xác định hai quá trình tư duy liên
quan đến quá trình GQVĐ: quá trình hiểu và quá trình tìm kiếm. Dựa trên các mô
hình GQVĐ khác nhau, quá trình GQVĐ có cấu trúc được mô tả trong ba quá trình
cần thiết bao gồm:
- Xác định lại các vấn đề;
- Tìm kiếm giải pháp;
- Thực hiện một giải pháp.
Đầu tiên, khi người giải quyết đang phải đối mặt với một vấn đề, nhiệm vụ
được đặt ra có thể bao gồm các câu hỏi sau: Mục tiêu là gì? Một giải pháp chấp
nhận được là gì? và sản phẩm cuối cùng phải đạt được là gì? Sau khi hiểu nhiệm vụ,
người giải quyết cố gắng để xác định lại các vấn đề theo sự hiểu biết của bản thân,
xác định lại mục tiêu, giải pháp khả thi, và bất kỳ chiến lược GQVĐ mà có thể được
sử dụng để giải quyết nhiệm vụ này [28]. Có thể coi công việc này như là công việc
xác định lại vấn đề theo cách hiểu của người giải quyết.
Trong khi xác định lại vấn đề, những thông số của vấn đề có thể kích hoạt kiến
thức trong bộ nhớ. Nếu trong lúc xác định lại vấn đề, người giải quyết tìm được giải
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status