BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------------
PHẠM HỮU HUY
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở HUYỆN CAO PHONG
TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------------
PHẠM HỮU HUY
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở HUYỆN CAO PHONG
TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60 62 01 15
- Huyện Cao Phong là huyện miền núi nằm ở phía tây bắc tỉnh Hòa Bình,
cách thành phố Hòa Bình gần 20km, Phía bắc giáp thành phố Hòa Bình và
huyện Đà Bắc, phía đông giáp huyện Kim Bôi, phía tây và tây nam giáp
huyện Tân Lạc, phía đông nam giáp huyện Lạc Sơn. Tổng diện tích tự nhiên
toàn huyện là 255 km2, gồm 12 xã và 1 thị trấn, dân số 40.949 người. Thu
nhập của người lao động cơ bản dựa vào sản xuất nông nghiệp, chất lượng lao
động thấp, lao động phổ thông là chủ yếu, chưa qua đào tạo [13]
2
- Coi trọng và phát huy nhân tố con người, chăm lo giải quyết các vấn đề
bức xúc về xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện và nâng cao đời sống nhân
dân là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu để góp phần giữ vững
và ổn định kinh tế.
Vì vậy, “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tạo việc làm cho lao động nông
thôn ở huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình” nhằm đánh giá đúng đắn thực trạng,
tìm ra phương hướng và những giải pháp hữu hiệu để sử dụng hợp lý, có hiệu
quả nguồn lao động của huyện là một đòi hỏi bức xúc có ý nghĩa thiết thực cả
về lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết việc làm lao động
nông thôn ở huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc
làm nói chung và giải quyết việc làm lao động nông thôn nói riêng.
- Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở
huyện Cao Phong.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm lao động
Nông thôn là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ của đất nước.
Đó là vùng sinh sống và làm việc chung của cộng đồng dân cư, hoạt động sản
xuất nông nghiệp là chủ yếu.
- Xét về địa lý, nông thôn là vùng đất đai rộng lớn tạo thành vành đai bao
quanh các khu vực đô thị.
- Xét về mặt tổ chức xã hội, làng xã là tổ chức có vị trí rất quan trọng trong
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Ở Việt Nam làng xã và quốc gia là hai
đối tượng quan trọng nhất đối với người Việt và được tổ chức chặt chẽ nhất.
Chính vì thế mà người Việt thường nói làng với nước đi đôi với nhau. Nếu coi
tổ chức nông thôn theo huyết thống là bước phát triển thứ nhất thì tổ chức
nông thôn theo địa bàn cư trú là bước phát triển tiếp theo để hình thành
nên làng và xóm, đơn vị tổ chức quan trọng nhất của nông thôn Việt Nam.
- Về kinh tế, nông thôn là địa bàn trên đó diễn ra chủ yếu các hoạt động
nông, lâm, thủy sản và các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ gắn kết
khá chặt chẽ với nông, lâm, thủy sản. So với thành thị, nông thôn là nơi mà cơ
sở hạ tầng thấp kém hơn cả về hạ tầng kinh tế và hạng tầng xã hội.
- Về dân số học, gia đình nông dân là bộ phận chủ yếu của cơ cấu dân cư và
có mật độ dân cư thấp.
- Về mặt văn hoá, là nơi còn lưu giữ được nhiều di sản văn hoá, phong tục
tập quán, và những di sản văn hoá phi vật thể của quốc gia, dân tộc.
- Về phương diện môi trường sinh thái, là nơi mà về cơ bản môi trường thiên
nhiên vẫn còn được giữ gìn tốt.
5
- Về cơ sở hạ tầng, là nơi mà cơ sở hạ tầng thấp kém hơn đô thị, cả về hạ tầng
xã hội và hạ tầng vật chất - kỹ thuật.
1.1.1.2. Khái niệm và đặc trưng của lao động nông thôn
Khái niệm về lao động mà đề tài nghiên cứu ở đây là nói về bản thân
phong của người lao động. Ở tổng thể nguồn lao động, chất lượng lao động
không chỉ xem xét dưới góc độ cá nhân từng người lao động, mà còn thể hiện
ở cơ cấu của nguồn lao động xét theo ngành nghề, theo vùng miền, cũng như
cơ cấu xét theo trình độ đào tạo, tính chất lành nghề của chất lượng chuyên
môn và trình độ tổ chức của lao động.
Lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn lao động xã hội hoạt
động trong hệ thống kinh tế nông thôn. Đó là bộ phận dân số trong và ngoài
độ tuổi lao động, thuộc trong khu vực nông thôn, có khả năng lao động và có
nhu cầu lao động.
Lao động nông thôn có những đặc trưng cơ bản sau:
Khác với lao động hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ đô thị,
lao động nông thôn có đặc trưng cơ bản sau:
- Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kĩ năng nghề nghiệp có nhiều hạn
chế và phần lớn hoạt động thuần nông, chưa qua đào tạo. chủ yếu cha truyền
con nối.
- Lao động nông thôn Việt Nam hiện nay phần lớn có độ tuổi trung bình cao
vì thanh niên phần lớn rời bỏ quê hương ra các thành phố và khu công nghiệp
để làm việc hay đi xuất khẩu lao động. Thực tế này đang diễn ra ở tất cả các
vùng nông thôn nước ta. Nhiều vùng nông thôn tương lai không xa sẽ rất
thiếu lao động. Vấn đề này đã và đang xẩy ra ở các nước phát triển trên thế
giới. Chẳng hạn ở Nhật Bản hiện nay tuổi bình quân của lao động nông
nghiệp là 66 tuổi. Đây là vấn đề đòi hỏi phải có chiến lược và chính sách
đồng bộ mới giải quyết được, nhất là vấn đề việc làm có thu nhập ổn định và
không quá chênh lệch so với lao động tại các khu công nghiệp đô thị..
7
- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tổ chức quản lý kinh
doanh và tiếp cận thị trường thấp. Vì vậy đối với lao động nông thôn khả
+ Những công việc do người lao động tự làm để mang lại lợi ích cho
bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công
việc không được trả công.
Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn
hai điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và các thành viên trong gia đình.
Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị
pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Hai điều kiện này có quan hệ chặt với nhau, là điều kiện cần và đủ của
một hoạt động được thừa nhận là việc làm quan niệm đó đã góp phần mở rộng
quan niệm về việc làm, khi đa số lao động đương thời chỉ muốn chen chân
vào làm việc ở những doanh nghiệp có thu nhập cao hay các cơ quan nhà
nước.
Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam, bên
cạnh đại đa số người lao động có việc làm thì một bộ phận người lao động lại
không có việc làm. Đó là hiện tượng thất nghiệp.
Thất nghiệp là hiện tượng gồm những phần mất thu nhập, do không có
khả năng tìm được việc làm trong khi họ còn trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động muốn làm việc và đã đăng ký ở cơ quan môi giới về lao động
nhưng chưa được giải quyết.
Như vậy, những người thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc lực lượng lao
động hay dân số hoạt động kinh tế. Một người thất nghiệp phải có 3 tiêu
chuẩn:
- Đang mong muốn và tìm việc làm.
9
- Có khả năng làm việc.
- Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian
thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp, nguyên
nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kỹ năng của người lao động thấp
không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động tồi, tổ chức
lao động kém. Thước đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là mức thu nhập
thấp, nguyên nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kỹ năng của người
lao động thấp không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động
tồi, tổ chức lao động kém. Thước đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là mức
thu nhập thấp hơn mức lương tối thiểu.
* Khái niệm tạo việc làm mới
Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để
tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng
hóa và dịch vụ theo yêu cầu thị trường. Vấn đề tạo việc làm cho người lao
động là một vấn đề rất phức tạp nhưng rất cần thiết cho mỗi quốc gia, mỗi địa
phương phải luôn quan tâm. Việc tạo việc làm cho người lao động chịu ảnh
hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau. Vì vậy khi xem xét để đưa chính sách
tạo việc làm cho người lao động cần phải quan tâm đến nhiều nhân tố.
Thị trường lao động chỉ có thể được hình thành khi người lao động và
người sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức lao
động. Do vậy vấn đề tạo việc làm phải được nhìn nhận ở cả người lao động và
người sử dụng lao động đồng thời không thể không kể đến vai trò của Nhà
nước. Người sử dụng lao động là người chủ yếu tạo ra chỗ làm việc cho người
lao động, bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong và ngoài nước. Để
có quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động phải có
những điều kiện nhất định. Đó là người sử dụng lao động cần phải có vốn,
công nghệ, kinh nghiệm, thị trường tiêu thụ,… Còn người lao động phải có
sức khỏe, trình độ, chuyên môn, kinh nghiệp phù hợp với công việc của mình.
12
Ngược lại, nếu bất chấp tất cả các điều kiện môi trường, hoặc không nhận
thức đầy đủ tính khách quan của các nhân tố ảnh hưởng, chúng ta sẽ có
những chủ trương áp đặt mang tính chủ quan, duy ý chí đối với quá trình giải
quyết việc làm và khó tránh khỏi thất bại.
Để có cơ sở cho sự lựa chọn và thực hiện các giải pháp đồng bộ trong
giải quyết việc làm cho lao động nông thôn có thể chia các nhân tố ảnh
hưởng thành các nhóm sau:
1.1.2.1. Các nhân tố tự nhiên
Thu nhập của lao động nông thôn một phần rất lớn là thu từ nông
nghiệp, do đó các yếu tố về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất
nông nghiệp, từ đó ảnh hưởng lớn đến thu nhập của lao động nông thôn.
Các yếu tố về điều kiện tự nhiên gồm:
+ Vị trí địa lý.
Những vùng thuận lợi là những vùng gần các trung tâm đô thị, các
trung tâm kinh tế và văn hoá sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với các
thông tin khoa học kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và dịch vụ cũng như
mua sắm các tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Ngược lại,
những vùng nông thôn sâu, cách xa các trung tâm kinh tế và văn hoá sẽ rất
khó khăn trong việc phát triển sản xuất hàng hoá, sản xuất thuần nông là
chính, trình độ sản xuất hạn chế dẫn tới thu nhập thấp.
+ Điều kiện về đất đai, địa hình.
Những vùng trung du và miền núi (đặc biệt là miền núi) có địa hình
hiểm trở bị chia cắt do đó rất khó khăn trong việc phát triển giao thông và
thuỷ lợi. Việc áp dụng máy móc kỹ thuật cũng rất hạn chế do đất đai bị chia
cắt manh mún. Vì vậy, năng suất lao động thấp, hạn chế trong khả năng giao
lưu kinh tế và tiếp cận với thị trường, với các thông tin về văn hoá, khoa học
kỹ thuật do vậy cũng hạn chế quá trình sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng đến
nhập cho người dân. Vì vậy, ở những vùng có hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội phát triển thì cơ hội việc làm cho lao động nông thôn càng lớn.
14
- Trình độ dân trí và mức sống dân cư.
Trình độ dân trí và mức sống dân cư cao sẽ làm cho sức mua của vùng
cao, từ đó sẽ tăng khả năng tiêu thụ các hàng hóa công nghiệp và dịch vụ. Mặt
khác, trình độ dân trí và sức mua cao sẽ có điều kiện hơn trong việc tích lũy
vốn của dân cư, cũng như trong việc cung cấp nguồn lao động chất lượng
hơn. Khi trình độ dân trí và mức sống dân cư tăng lên sẽ tạo cơ hội cho sự
phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp, từ đó có điều kiện để chuyển dịch
mạnh mẽ cơ cấu lao động nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông
nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ.
- Trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của người lao động.
Đây là yếu tố có ý nghĩa rất quyết định giúp người lao động có khả
năng chuyển đổi nghề nghiệp từ nghề nông sang các ngành nghề phi nông
nghiệp ngay tại địa bàn nông thôn. Hiện nay do trình độ văn hóa, khoa học kỹ
thuật của người lao động nông thôn còn thấp nên nhiều khu công nghiệp, đô
thị mới có nhu cầu tuyển dụng lao động nhưng phần đông lao động nông thôn
không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Từ thực tế đó muốn giải
quyết tốt việc làm cho lao động nông thôn đòi hòi phải quan tâm đầu tư cho
đào tạo nghề phù hợp vơi nhu cầu việc làm ở từng vùng nông thôn.
- Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất là yếu tố quan trọng.
Để có điều kiện chuyển sang một ngành nghề mới hay mở rộng quy mô
sản xuất của những ngành đã có đòi hỏi phải có vốn đầu tư. Tuy nhiên, ở các
vùng nông thôn hiện nay, hầu hết các hộ nông dân đều thiếu vốn sản xuất. Do
vậy, để tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn thì cần phải
giúp đỡ người nông dân có khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay một cách
gia công, các đơn vị vệ tinh, các đại lý cho công nghiệp trong vùng và phát
triển các ngành dịch vụ theo nhu cầu của các khu công nghiệp, đô thị.
Công nghiệp và đô thị phát triển sẽ thúc đẩy sự ra đời các vùng nông
nghiệp, các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung với công nghệ hiện đại, từ đó
tạo ra nhiều việc làm mới cho lao động nông thôn.
16
Công nghiệp và đô thị trong vùng phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của
hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, từ đó thúc đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang phát triển kinh tế nông thôn
toàn diện cả về kinh tế và văn hóa, xã hội.
- Trình độ phát triển của sản xuất hàng hóa, nhất là sự phát triển của hệ
thống thị trường ( Bao gồm hệ thống thị trường các yếu tố đầu vào và thị
trường tiêu thụ sản phẩm )
Sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc trực trực tiếp và rất lớn vào thị
trường các yếu tố đầu vào, như: thị trường vốn, vật tư, thiết bị, lao động,
khoa học và công nghệ. Thị trường đầu vào phát triển sẽ đảm bảo cung ứng
kịp thời, đầy đủ với chất lượng tốt, giá cả hợp lý các yếu tố cần thiết của quá
trình sản xuất, kinh doanh. Việc thay đổi quy mô sản xuất, cơ cấu mặt hàng
trong từng ngành, từng doanh nghiệp phụ thuộc trực tiếp ở việc đảm bảo các
yếu tố đầu vào.
Vì vậy, khi xây dựng các dự án giải quyết việc làm cần xem xét khả
năng các yếu tố đầu vào trên thị trường. Cần phân tích, đánh giá khách quan,
có căn cứ các nguồn cung cấp các yếu tố đầu vào có liên quan đến thực hiện
dự án [9].
Mặt khác, qua phân tích, đánh giá các nguồn cung cấp các yếu tố đầu vào
phải chỉ ra được những khó khăn, hạn chế của thị trường các yếu tố đầu vào
để chủ động đối phó và có giải pháp thích hợp.
hưởng rất lớn và trực tiếp đến quá trình giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn [2].
Chính sách của Nhà nước tác động đến khả năng thu hút các nguồn lực
đầu tư cho phát triển các ngành, các vùng cần ưu tiên trong chiến lược và quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kì. Chẳng hạn, các chính
sách ưu đãi về thuế, về tiền thuê đất, hay chính sách hỗ trợ của Nhà nước về
đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho các vùng quy hoạch, các vùng
18
trọng điểm sẽ tạo cơ hội cho các nhà đầu tư đầu tư theo yêu cầu của Nhà
nước.
Các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp được xây dựng đồng
bộ, có cơ sở khoa học và thực tiễn sẽ có tác dụng định hướng phát triển cho
các ngành, các doanh nghiệp, tạo môi trường cho các nhà đầu tư phát triển
theo hướng bền vững. Đồng thời chính sách và luật pháp còn có tác dụng điều
tiết sản xuất và giúp các ngành, các doanh nghiệp giải quyết những khó khăn
do cơ chế thị trường gây ra.
Ngược lại, nếu chính sách và luật pháp xây dựng chưa đồng bộ, không
phù hợp với thực tiễn phát triển của kinh tế thị trường sẽ có tác động tiêu cực
đến quá trình phát triển, có thể gây thiệt hại cho cả Nhà nước và người dân.
Vai trò của Nhà nước đối với giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn còn được thể hiện trên các mặt, như: Đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ khoa
học và công nghệ, đào tạo nghề phục vụ chương trình giải quyết việc làm.
Ngoài ra, vai trò của Nhà nước đối với vấn đề giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn còn được thể hiện ở việc thực hiện các chính sách và
chương trình tài trợ cho phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn
1.1.2.4. Tác động của hội nhập quốc tế.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm một số nước và vùng lãnh thổ trong
khu vực Châu á, như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia,
Philipin… về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, có thể rút ra
một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung, nói riêng trên các mặt
chủ yếu sau: [14]
a, Để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, các nước rất coi trọng
đầu tư phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn.
20
Nhìn chung để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, các nước
quan tâm là đa dạng hóa sản xuất trong phát triển kinh tế nông thôn, như phát
triển công nghiệp nông thôn và các ngành nghề phi nông nghiệp khác.
Cụ thể:
- Đối với Trung Quốc, ngay từ năm 1978 (sau cải cách và mở cửa kinh
tế) đã thực hiện phương châm “li nông bất li hương, nhập xưởng bất nhập
thành”. Chính phủ Trung Quốc đã có chủ trương và có chính sách khuyến
khích phát triển mạnh mẽ công nghiệp hương trấn. Xí nghiệp Hương trấn là
loại hình xí nghiệp kinh tế do nông dân tự nguyện thành lập ngay trên quê
hương mình trên cơ sở những lợi thế về nguồn tài nguyên, lao động và các
nguồn lực kinh tế khác dưới sự quản lý của chính quyền các cấp, sự lãnh đạo
của Đảng và quan tâm giúp đỡ của nhà nước. Hệ thống xí nghiệp Hương trấn
chủ yếu sản xuất các hàng hoá tiêu dùng nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế nông
thôn, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân. Việc phát triển
xí nghiệp hương trấn có ý nghĩa rất to lớn. Xí nghiệp Hương trấn đã thu hút
120 triệu lao động (chiếm 26,9% lực lượng lao động cả nước) với mức thu
nhập 2.500 NDT/lao động/ tháng. Đây là thành quả to lớn mà xí nghiệp
Hương trấn mang lại, vì vậy cần nghiên cứu để có thể áp dụng một cách phù
hợp với điều kiện nước ta.
nhanh quá trình giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, Nhật Bản đã chủ
trương duy trì và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống
và ngành nghề mới ở nông thôn. Theo thống kê, ở Nhật Bản có 867 nghề thủ
công truyền thống khác nhau, các nghề này không những không bị mai một
trong quá trình CNH, mà trái lại còn được giữ vững và phát triển. Chính phủ
Nhật Bản còn chú trọng phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa để thu hút lao
động nông nghiệp.
Các loại hình dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn như: Tín dụng, bảo
hiểm, cung ứng vật tư kỹ thuật cũng được quan tâm phát triển. Chính các cơ
sở dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn đã tạo điều kiện cho nông nghiệp
nâng cao năng suất lao động, giải phóng lao động, mặt khác tạo khả năng để
22
thu hút lao động, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn (theo số liệu
thống kê 1994 riêng dịch vụ buôn bán máy nông nghiệp đã thu hút được
45.700 lao động làm việc). Vì vậy, chỉ sau 4 thập kỷ tỷ trọng lao động nông
nghiệp của Nhật Bản đã giảm được 39,8% (từ 45,2% năm 1950 xuống còn
6,3% năm 1990). Điều đáng quan tâm là chuyển dịch cơ cấu lao động nông
thôn ở Nhật Bản chủ yếu diễn ra theo xu hướng” li nông bất li hương” nên
không xảy ra tình trạng lao động nông thôn ồ ạt chạy ra thành thị.
- Kinh nghiệm nổi bật của Hàn Quốc là thực hiện các chương trình đồng
bộ để CNH, HĐH nông thôn, như: Chương trình phát triển ngành nghề ngoài
nông nghiệp của các hộ nông dân, chương trình phát triển các ngành nghề thủ
công truyền thống, chương trình phát triển các xí nghiệp, phong trào cộng
đồng mới ( xí nghiệp Sameul) ở nông thôn.
- Đối với Thái Lan, là quốc gia có đặc điểm giống Việt Nam, đã có nhiều
thành công trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Trong vòng 30
hạ tầng nông thôn (giao thông, thuỷ lợi…), hỗ trợ ứng dụng các tiến bộ khoa
học và công nghệ vào sản xuất.
Để thúc đẩy quá trình giải quyết việc làm cho lao động nông thôn,
ngoài các chính sách hỗ trợ nông nghiệp (trợ giá, trợ cấp cho nông dân, trợ
cấp xuất khẩu…), Chính phủ các nước còn thực hiện các chính sách tạo điều
kiện và khuyến khích phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn.
- Chẳng hạn, ở Nhật Bản từ năm 1995, các chính sách hỗ trợ nông nghiệp
đã có nhiều thay đổi, các hình thức trợ cấp sản xuất và lưu thông được chuyển
sang trợ cấp thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp và phát triển
kinh tế nông thôn, như: xây dựng hệ thống tưới tiêu, hệ thống giao thông
nông thôn, chi cho hoạt động nghiên cứu, phổ biến kỹ thuật (khoảng 20 tỷ
USD vào năm 1997). Các chính sách hỗ trợ đã tạo điều kiện cho các ngành
công nghiệp, dịch vụ phát triển, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy
sản, các ngành dịch vụ nông nghiệp và kinh tế nông thôn.