BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
BẠCH QUỐC DŨNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
LƯU VỰC THỦY ĐIỆN KHE BỐ, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng
Mã số:
60.62.02.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Trần Quang Bảo
Hà Nội - 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, công trình
được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Quang Bảo. Các số liệu
và kết quả nghiên cứu của đề tài là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ các công trình khác, nếu có gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách
Bạch Quốc Dũng
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan......................................................................................................i
Lời cảm ơn........................................................................................................ii
Mục lục............................................................................................................iii
Danh mục các bảng..........................................................................................vi
Danh mục các biểu..........................................................................................vii
Danh mục các hình.........................................................................................viii
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................ 3
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu ............................. 3
1.1.1. Các khái niệm liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường ............... 3
1.1.2. Dịch vụ môi trường rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng ....... 4
1.2. Tổng quan về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu………8
1.2.1. Trên thế giới ............................................................................... 10
1.2.2. Ở Việt Nam ................................................................................. 14
CHƯƠNG 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................ 18
2.1. Mục tiêu của đề tài ............................................................................ 18
2.1.1. Mục tiêu tổng quát ...................................................................... 18
2.1.2. Mục tiêu cụ thể ........................................................................... 18
2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……………………………...……….18
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................. 18
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................... 18
2.3. Nội dung thực hiện ............................................................................ 19
4.1. Cơ sở kỹ thuật phục vụ chi trả DVMTR ............................................ 39
4.1.1. Xác định tọa độ các điểm khai thác/sử dụng nước trong phạm vi
lưu vực thủy điện Khe Bố...................................................................... 39
4.1.2. Xác định ranh giới các lưu vực tương ứng với các tọa độ điểm
khai thác/ sử dụng nước........................................................................ 41
v
4.1.3. Đánh giá hệ số K (K=1 theo quy định của địa phương) bằng
phương pháp cùng tham gia ................................................................. 45
4.2. Cơ sở kinh tế xã hội phục vụ chi trả DVMTR tại lưu vực Khe Bố ..... 46
4.2.1. Xác định danh sách và những thông tin cơ bản về bên sử dụng
DVMTR (bên mua dịch vụ) trong lưu vực ............................................. 46
4.2.2. Danh sách các đối tượng được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi
trường rừng (bên bán dịch vụ) theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP và diện
tích các loại rừng của từng đối tượng đó .............................................. 51
4.2.3. Xác định mức chi trả DVMTR cho cả lưu vực và lưu vực bậc thang..... 59
4.2.4. Những thuận lợi và khó khăn về chi trả DVMTR ở Nghệ An theo
Nghị định 99/2010/NĐ-CP. .................................................................. 63
4.3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chi trả DVMTR trong
lưu vực khe bố tỉnh Nghệ An ……………………………………………..65
4.3.1. Giải pháp về kỹ thuật .................................................................. 65
4.3.2. Giải pháp về chi trả .................................................................... 67
4.3.3. Giải pháp về quy hoạch và kinh tế xã hội ................................... 70
4.3.4. Đề xuất hệ thống theo dõi và đánh giá việc chi trả DVMTR ở
Nghệ An ............................................................................................... 72
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ .................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU
Biểu đồ 4.5: Diện tích rừng theo chức năng trong lưu vực Khe Bố .........................53
Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ các chủ rừng quản lý rừng trong lưu vực Khe Bố ......................58
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Bản đồ hành chính tỉnh Nghệ An .............................................................36
Hình 4.1 Bản đồ lưu vực thủy điện Khe Bố và các lưu vực bậc thang ....................42
Hình 4.2. Lưu vực Khe Bố và các lưu vực bậc thang nhìn qua ảnh vệ tinh...........42
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là bước ngoặt
về chính sách cho người làm nghề rừng ở Việt Nam. Từ năm 2004, Chính phủ
đã thiết lập cơ sở pháp lý nhằm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi
trường rừng thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi. Năm 2008,
Quyết định số 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm
chính sách chi trả DVMTR tại hai tỉnh Sơn La và Lâm Đồng. Sau hai năm thí
điểm, ngày 24/9/2010 Chính phủ chính thức ban hành Nghị định số
99/2010/NĐ-CP để triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên
phạm vi toàn quốc. Qua 5 năm thực hiện ở Việt Nam, chính sách chi trả dịch
vụ môi trường rừng (PES) đã cho thấy tính hữu dụng của nó trong công tác
bảo vệ rừng, đặc biệt bước đầu đã tạo ra một nguồn ngân sách cho việc đầu tư
phục hồi, bảo vệ, duy trì bền vững các giá trị của hệ sinh thái rừng.
Nghệ An là một tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn nhất cả
Bố đi vào vận hành phát điện từ năm 2013 và thực hiện chi trả dịch vụ môi
trường rừng thông qua hợp đồng uỷ thác với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh.
Nhằm nghiên cứu một cách khách quan về thực trạng thực hiện chính
sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần
thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh
Nghệ An nói chung, lưu vực thủy điện Khe Bố nói riêng, tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
chi trả dịch vụ môi trường rừng lưu vực thủy điện Khe Bố, tỉnh Nghệ An”.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các khái niệm liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường
1. Chi trả Dịch vụ môi trường (PES):
- Theo định nghĩa cơ bản của Mayrand và Paquin (2004): Là tạo ra lợi
ích cho các cá nhân và cộng đồng để bảo vệ các dịch vụ môi trường bằng cách
bồi hoàn cho họ khoản chi phí phát sinh từ việc quản lý và cung cấp những
dịch vụ này.
- Theo định nghĩa kinh điển của Wunder (2005): Là một giao dịch tự
nguyện đối với một loại dịch vụ môi trường cụ thể....giữa ít nhất một bên sử
dụng dịch vụ môi trường và một bên cung ứng dịch vụ môi trường khi và chỉ
khi bên cung ứng dịch vụ môi trường có khả năng cung cấp dịch vụ (trong
những điều kiện cụ thể).
2. Môi trường rừng:
Bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh
vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trường rừng có các giá
trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của
- Chi trả gián tiếp được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ
môi trường rừng không có khả năng và điều kiện trả tiền trực tiếp cho bên
cung ứng dịch vụ môi trường rừng mà thông qua tổ chức trung gian theo quy
định. Chi trả gián tiếp có sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước, giá dịch vụ
môi trường rừng do Nhà nước quy định.
1.1.2. Dịch vụ môi trường rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng
Mặc dù giá trị môi trường đã được khẳng định và nghiên cứu từ lâu
song chúng thường được coi là thứ hàng hóa công cộng. Mọi người đều có thể
tự do tiếp cận, tự do sử dụng và hưởng lợi từ giá trị môi trường rừng. Tình
trạng ấy, nhất là ở những nước nghèo, đã không khuyến khích người lâm
5
nghiệp bảo vệ và phát triển những giá trị môi trường rừng, dẫn đến thiệt hại
cho nhiều ngành sản xuất và đời sống nói chung. Thực tế đó đã buộc người ta
phải hợp tác với nhau giữa người làm rừng và những người hưởng lợi chính
từ giá trị môi trường rừng, chia sẻ với nhau trách nhiệm trong việc bảo vệ và
phát triển những giá trị môi trường rừng. Trong quá trình đó những giá trị môi
trường rừng được phân tích, lượng giá, mua bán, trao đổi như những hàng hoá
và dịch vụ khác. Người ta gọi những lợi ích môi trường của rừng được đưa ra
trao đổi, mua bán như vậy là dịch vụ môi trường rừng. Những chính sách
khuyến khích việc trao đổi, mua bán giá trị dịch vụ môi trường rừng được gọi
là chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Đến nay trên thế giới đã có nhiều chương trình chi trả dịch vụ môi
trường rừng (PES). Chúng được chia thành nhóm các chương trình PES tự
nguyện và PES chính phủ. Trong chương trình PES tự nguyện, cả nhà cung
cấp dịch vụ môi trường và người sử dụng dịch vụ đều tự nguyện trên cơ sở
hợp đồng. Ngược lại, trong các chương trình PES chính phủ tài trợ thường chỉ
tự nguyện ở bên nhà cung cấp, còn người sử dụng dịch vụ môi trường rừng sẽ
nguyện chủ yếu hướng vào bảo vệ nguồn nước.
- Các chương trình PES ưu tiên cho các hoạt động bảo tồn rừng, trồng
rừng mới và tái trồng rừng, công nghệ mới trong chăn nuôi bò sữa, nông lâm
kết hợp, canh tác nông nghiệp thân thiện, bảo vệ đa dạng sinh học, thay đổi sử
dụng đất, bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, loại trừ sinh vật xâm hại v.v... Tuy
nhiên, tập trung nhiều nhất vẫn là bảo tồn rừng, trồng rừng và phát triển nông
nghiệp thân thiện môi trường.
- Đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng gồm nhiều thành phần
khác nhau từ chính quyền địa phương, sở ban ngành địa phương, tập đoàn
điện lực, chính quyền Trung ương, cơ quan lâm nghiệp, chính phủ, quỹ tư
nhân, tài trợ quốc tế, người dân sử dụng nước. Phần lớn trong số họ là các tổ
chức và cơ quan chính phủ và phi chính phủ.
7
- Đối tượng hưởng lợi từ PES là người sử dụng nguồn nước ở địa
phương, nông dân, người không sử dụng đồng hồ đo nước, cơ quan tổ chức
trên lưu vực sông, người sử dụng nước ở hạ lưu, khách du lịch, công đồng bảo
tồn toàn cầu v.v... Nhìn chung, đối tượng được hưởng lợi là cả cộng đồng và
toàn xã hội.
- Đối tượng khởi xướng PES chủ yếu là các chính phủ, tổ chức phi
chính phủ, tổ chức hưởng lợi, chính quyền Trung ương, Bộ Tài nguyên nước,
Lâm nghiệp và Môi trường, các trường đại học, chính quyền địa phương v.v...
Đây là những cơ quan và tổ chức có khả năng liên kết và hỗ trợ đàm phán
hoặc ra quyết định, lập chính sách v.v...
- Vùng thực hiện PES chủ yếu là các vùng thượng nguồn lưu vực sông,
đất dốc vùng đầu nguồn, vùng đất cao nguyên, đồng cỏ, ven biển, đất cộng
đồng và quy mô toàn quốc. Như vậy, một số chương trình tập trung vào
những vùng sinh thái nhạy cảm, còn gần 50% chương trình có quy mô toàn
dịch vụ môi trường rừng là bắt buộc qua phí và lệ phí.
- Các chương trình PES ở vùng hồ thuỷ điện nên khuyến khích vào
hoạt động quản lý rừng và tái trồng rừng để đảm bảo quyền lợi của nhiều bên
liên quan.
- Để các chương trình PES phát triển bền vững theo hướng cơ chế thị
trường cần phân loại rừng để chi trả, phải có hệ số hiệu chỉnh về mức chi trả
dịch vụ môi trường rừng tính đến giá trị môi trường do rừng tạo ra, đến nhu
cầu phòng hộ và mức khó khăn trong việc bảo vệ rừng.
1.2. Tổng quan về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu
Bản chất của hoạt động chi trả dịch vụ môi trường là tạo cơ chế khuyến
khích và mang lại lợi ích cho những người hiện đang sử dụng các hệ sinh thái
có ý nghĩa môi trường để đổi lấy việc họ sử dụng các hệ sinh thái này theo
cách bảo vệ hoặc tăng cường các dịch vụ môi trường để phục vụ lợi ích của
phần đông dân số. Với cách làm này thì từng người dân của cộng đồng có thể
được hưởng lợi trực tiếp từ dịch vụ họ mang lại. Nói cách khác, những người
cung cấp dịch vụ môi trường nên được chi trả hoặc bồi hoàn cho những gì họ
9
làm để duy trì chức năng của hệ sinh thái, và những người sử dụng dịch vụ
môi trường nên chi trả cho những dịch vụ này.
Nhiều nghiên cứu đã khẳng vai trò to lớn của môi trường, trong đó đã
có rất nhiều nghiên cứu đã khẳng định giá trị của môi trường rừng. Tuy nhiên,
với cách tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi tự do (là một loại hàng hoá công
cộng) nhiều quốc gia đã không khuyến khích người dân; người làm nghề rừng
bảo vệ và phát triển những giá trị môi trường rừng dẫn đến nhiều thiệt hại cho
môi trường sống nói chung và các ngành sản xuất nói riêng.
Chúng ta đã phải trả giá đắt cho việc suy giảm rừng do phá rừng và sử
dụng rừng không hợp lý. Việc tàn phá rừng đã làm tăng các thảm họa tự nhiên
trường rừng (PES). Chúng được chia thành nhóm các chương trình PES tự
nguyện và PES chính phủ. Trong chương trình PES tự nguyện, cả nhà cung
cấp dịch vụ môi trường và người sử dụng dịch vụ đều tự nguyện trên cơ sở
hợp đồng. Ngược lại, trong các chương trình PES chính phủ tài trợ thường chỉ
tự nguyện ở bên nhà cung cấp, còn người sử dụng dịch vụ môi trường rừng sẽ
chi trả qua các dạng phí và lệ phí bắt buộc.
Có thể kể đến một số chương trình PES tự nguyện ở Los Negros
Bolivia (Asquith et al., 2008), ở Pimampiro Ecuador (Wunder and Albán,
2008), ở Vittel Pháp (Perrot-Maître, 2006), và một số chương trình PES chính
phủ như chương trình bảo vệ đất dốc ở Trung Quốc (Bennett, 2008), Chương
trình PES ở Costa Rica (Pagiola, 2008), chương trình PES ở Mexico (MuñozPiña et al., 2008-this issue), chương trình dịch vụ bảo tồn ở Mỹ (Claassen et
al., 2008), chương trình vùng nhạy cảm môi trường và sơ đồ quản lý quốc gia
ở Anh (Dobbs and Pretty, 2008), dự án mô hình Northeim ở Đức (Bertke and
Marggraf, 2004), chương trình Wimmera ở Úc (Shelton and Whitten, 2005),
chương trình tương tự chi trả dịch vụ môi trường ở CAMPFIRE, Zimbabwe
(Frost and Bond, 2008), chương trình hoạt động vì nước ở Nam Phi (Turpie et
al., 2008).
Từ cuộc điều tra toàn cầu về tất cả các chương trình chi trả cho các
DVMTR, Châu Mỹ La tinh được xem là nơi dẫn đầu với tổng số 101 chương
11
trình chi trả, trong đó 36 chương trình đang hoạt động và được ghi nhận có
giao dịch trong năm 2008, sản sinh ra 31 triệu đô-la Mỹ cho các biện pháp
bảo tồn vùng đầu nguồn và tác động tới 2.3 triệu héc-ta. Được thực hiện bởi
sự hình thành của Quỹ nước đầu tiên ở Ecuador, sau đó ở Colombia, Brazil,
và hiện nay là Peru, việc sử dụng công cụ này để gây quỹ cho bảo tồn vùng
thượng nguồn bởi những người sử dụng dưới hạ lưu được công bằng nhằm
trải rộng ra những nơi khác trong vùng và đóng vai trò mô hình nhân rộng tới
nhằm xác định, hình thành và thực hiện các hoạt động quản lý gắn với hệ sinh thái.
Một số nhận xét về PES trên thế giới như sau:
- Cho đến nay các chương trình PES chủ yếu vẫn là các chương trình
chính phủ. Thực tế, người làm rừng ít có khả năng quản lý được giá trị dịch
vụ môi trường rừng nên để thực hiện được chi trả DVMTR thường cần sự hỗ
trợ của nhà nước và khi đó việc chi trả DVMTR được xem là bắt buộc.
- Các chương trình PES đều được hình thành trong những năm gần đây,
sớm nhất là chương trình dịch vụ bảo tồn ở Mỹ được khởi xướng năm 1983,
còn lại chủ yếu từ những năm 90 trở lại đây.
- Mục tiêu của PES rất đa dạng, trong đó có bảo vệ nguồn nước, bảo vệ
đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, bảo vệ đất ướt, bảo vệ đất, bảo vệ động
vật hoang dã, kiểm soát sự nhiễm mặn, tích luỹ Carbon, v.v... Tuy nhiên, phổ
biến nhất vẫn là các chương trình bảo vệ nguồn nước. Đây là một trong những
hiệu quả môi trường quan trọng nhất của rừng. Các chương trình PES tự
nguyện chủ yếu hướng vào bảo vệ nguồn nước.
- Các chương trình PES ưu tiên cho các hoạt động bảo tồn rừng, trồng
rừng mới và tái trồng rừng, công nghệ mới trong chăn nuôi bò sữa, nông lâm
kết hợp, canh tác nông nghiệp thân thiện, bảo vệ đa dạng sinh học, thay đổi sử
dụng đất, bảo tồn cảnh quan thiên, loại trừ sinh vật xâm hại v.v... Tuy nhiên,
tập trung nhiều nhất vẫn là bảo tồn rừng, trồng rừng và phát triển nông nghiệp
thân thiện môi trường.
- Đối tượng chi trả DVMTR gồm nhiều thành phần khác nhau từ chính
quyền địa phương, sở ban ngành địa phương, tập đoàn điện lực, chính quyền
13
Trung ương, cơ quan lâm nghiệp, chính phủ, quỹ tư nhân, tài trợ quốc tế,
người dân sử dụng nước. Phần lớn trong số họ là các tổ chức và cơ quan
chính phủ và phi chính phủ.
1.2.2. Ở Việt Nam
* Nhận thức về giá trị môi trường rừng
Ở Việt Nam từ xa xưa người dân ở nhiều nơi đã biết bảo vệ những khu
rừng thiêng, rừng ma, rừng đầu nguồn để giữ nước sinh hoạt và nước tưới cho
cộng đồng. Hầu hết người dân miền núi đều hiểu rõ vai trò bảo vệ và phục hồi
đất của rừng. Họ đã sử dụng nó như một công cụ hiệu quả để bảo vệ và phục
hồi đất canh tác từ đời này sang đời khác.
Các nhà khoa học Việt Nam đã quan tâm đến hiệu quả môi trường của
rừng từ những thế kỷ trước trong nhiều lĩnh vực như lâm học, sinh thái học,
khí tượng thuỷ văn, trồng rừng, quản lý nguồn nước v.v... Kết quả nghiên cứu
về hiệu quả bảo vệ đất và giữ nước của rừng đầu nguồn đã trở thành căn cứ
khoa học cho những giải pháp phục hồi đất, ngăn chặn các quá trình suy thoái
đất, xây dựng những biện pháp kỹ thuật canh tác đất dốc bền vững, những
biện pháp nông lâm kết hợp v.v...
Các nghiên cứu về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng đã
được các nhà khoa học Việt Nam quan tâm nghiên cứu, ví dụ như: Báo cáo
chuyên đề chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam từ chính sách đến thực
tiễn của tác giả Phạm Thu Thủy và các cộng sự, báo cáo là sản phẩm trong dự
án nghiên cứu so sánh toàn cầu về Reed+, Trong nghiên cứu này, đã thực hiện
một đánh giá so sánh về Chinh sách chi trả DVMTR ở Việt Nam để đánh giá
thực trạng của chương trình PFES, so sánh các cách tiếp cận cho việc triển
khai và nhận biết các bài học thực tiễn và các vấn đề có thể nhân rộng và nêu
ra tại các khu vực khác. Dựa trên các phân tích và đánh giá, nghiên cứu cũng
đưa ra các khuyến nghị nhằm đạt được tính hiệu quả, hiệu ích và công bằng
trong thực hiện Chính sách chi trả DVMTR ở Việt Nam. Ngoài ra, còn có một
số nghiên cứu nghiên cứu đã đánh giá các bài học từ việc triển khai PFES tại
Việt Nam như Tô và Laslo 2009; Nguyễn 2009; McElwee 2012; Hess và Tô
2010; Nguyễn 2011. Tuy nhiên, các đánh giá này chỉ tập trung vào một tỉnh
16
các báo cáo theo từng giai đoạn tới Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trung ương.
Người cung cấp dịch vụ là các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng và tổ chức
được xem xét bởi các Quỹ cấp tỉnh dựa trên chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 24 tháng 09 năm 2010 Chính phủ đã ra ban hành Nghị định số
99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng để áp dụng
trong phạm vi cả nước. Chính sách này không chỉ mở rộng về địa bàn áp dụng
mà còn tăng thêm số loại dịch vụ môi trường gồm: Dịch vụ giữ nguồn nước,
bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ cho thủy điện, cho cấp nước
sinh hoạt, dịch vụ bảo vệ cảnh quan và giá trị thiên nhiên cho du lịch giải trí
và nghỉ dưỡng, dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống cho nuôi
trồng thuỷ sản, dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ cac bon (C02) v.v.... Tuy nhiên,
thực chất số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng được chuyển cho người sử
dụng dịch vụ cuối cùng là người dân và các đối tượng sử dụng điện và nước
(số tiền này được hạch toán trong giá bán điện và nước).
Mặc dù được xã hội hưởng ứng tuyệt đối nhưng vẫn còn nhiều tranh
luận về các yếu tố kỹ thuật của chính sách, trong đó có khung giá trị dịch vụ
môi trường rừng, mức chi trả và mức chi trả dịch vụ môi trường rừng, các hệ
số hiệu chỉnh, diện tích rừng và số lượng các đối tượng chi trả và được chi trả
dịch vụ môi trường rừng v.v... Trong một số trường hợp, việc xác định thiếu
chính xác các yếu tố trên sẽ gây cản trở nhất định đến thực hiện chính sách
chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên, việc xác định những yếu tố trên
không đơn giản, nó cần có những phương pháp khoa học phù hợp với điều
kiện kinh tế xã hội của Việt Nam.
Trong những năm gần đây, tại một số trường đại học, các viện, trung
tâm nghiên cứu khoa học đã có một số đề tài nghiên cứu thạc sỹ về Dịch vụ
môi trường rừng để đưa ra các giải pháp hợp lý và hiệu quả hơn trong chính