TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
NGUYỄN VĂN DẬU
BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp đỡ em rất nhiều trong
quá trình học tập tại trƣờng và tạo điều kiện cho em thực hiện tốt khóa luận
tốt nghiệp đại học.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – TS. Lê Thị Lan Anh –
ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận với đề tài: “Biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh
tiểu học”.
Qua đây em xin gửi tới Ban giám hiệu và các thầy (cô) giáo trƣờng Tiểu
học Lê Ngọc Hân – thành phố Lào Cai – tỉnh Lào Cai và trƣờng Tiểu học Uy
Nỗ - huyện Đông Anh – thành phố Hà Nội cùng các bạn sinh viên khoa Giáo
dục Tiểu học lời cảm ơn chân thành nhất.
Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2017
Sinh viên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Thống kê số lƣợng phụ huynh trong các nghề ở hai trƣờng tiểu học
Lê Ngọc Hân và tiểu học Uy Nỗ ..................................................................... 23
Bảng 1.2. Thực trạng ngữ âm của phụ huynh ................................................. 24
Bảng 1.3. Kết quả tổng hợp bảng 1.2 .............................................................. 25
Bảng 1.4. Khảo sát tình hình phát âm của học sinh trƣờng Tiểu học ............. 29
Lê Ngọc Hân ................................................................................................... 29
Bảng 1.5. Khảo sát tình hình phát âm của học sinh trƣờng Tiểu học Uy Nỗ . 30
Bảng 1.6. Tổng kết bảng 1.4 và 1.5 ................................................................ 31
Bảng 2.1. Điều tra chất lƣợng học sinh Trƣờng Tiểu học Lê Ngọc Hân ........ 69
Bảng 2.2. Điều tra chất lƣợng học sinh Trƣờng Tiểu học Uy Nỗ.................. 70
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 4
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu .............................................................. 4
5. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 4
6. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
7. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 4
8. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬA LỖI PHÁT ÂM VÀ THỰC
TRẠNG LỖI PHÁT ÂM CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC ................................. 6
1.1. Cơ sở tâm sinh lí của học sinh Tiểu học .................................................... 6
1.1.1. Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học ................................................... 6
1.1.2. Cơ sở sinh lí ............................................................................................ 7
1.2. Cơ sở ngôn ngữ học ................................................................................. 10
1.2.1. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ ............................................................... 10
2.2.4. Biện pháp tổ chức trò chơi học tập để sửa lỗi phát âm cho học sinh.... 42
2.2.5. Thƣờng xuyên luyện đọc các từ khó trong giờ Tập đọc ....................... 46
2.2.6. Biện pháp sử dụng công nghệ thông tin để khắc phục lỗi phát âm ...... 46
2.2.7. Khuyến khích học sinh phát hiện và điều chỉnh lẫn nhau .................... 49
2.2.8. Rèn luyện tính kiên trì cho học sinh ..................................................... 49
2.2.9. Quan tâm rèn luyện cho học sinh ở mọi nơi, mọi lúc……………….50
2.2.10. Kết hợp với phụ huynh rèn luyện phát âm cho học sinh ................... 50
2.3. Thể nghiệm sƣ phạm ................................................................................ 53
2.3.1. Mục đích thể nghiệm............................................................................. 53
2.3.2. Đối tƣợng, thời gian, địa bàn thể nghiệm ............................................. 54
2.3.3. Nội dung thể nghiệm ............................................................................. 54
2.3.4. Thiết kế giáo án thể nghiệm sƣ phạm ................................................... 55
2.3.5. Kết quả thể nghiệm .............................................................................. 69
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 73
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bộ môn Tiếng Việt ở tiểu học có ý nghĩa quan trọng, nó giúp học sinh
hình thành các kĩ năng sử dụng tiếng Việt nhƣ nghe, nói, đọc, viết; lĩnh hội
các kiến thức cơ bản trong kho tàng tri thức, những kinh nghiệm sống, văn
hóa và khoa học. Phân môn Tập đọc có vị trí đặc biệt quan trọng trong
chƣơng trình Tiếng Việt cấp Tiểu học, nó đảm nhiệm việc hình thành và phát
triển cho học sinh kĩ năng đọc, từ đó giúp học sinh phát âm đúng, tránh tình
trạng mắc lỗi phát âm của học sinh.
Phát âm là một phần quan trọng của môn Tiếng Việt, rèn kĩ năng phát
âm cho học sinh Tiểu học đƣợc thực hiện thông qua phân môn Tập đọc.
âm mà học sinh thƣờng mắc phải. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu lí thuyết chung của ngữ âm mà chƣa đi sâu vào việc xác định
các lỗi phát âm sai của học sinh nên chƣa đƣa ra đƣợc các biện pháp khắc
phục cụ thể.
Tác giả Lê Phƣơng Nga – Lê A – Lê Hữu Tỉnh – Đỗ Xuân Thảo – Đặng
Kim Nga (năm 2003), Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1, NXB ĐHSP Hà
Nội, các tác giả đề cập đến phân môn học vần về cơ sở tâm lí học, ngôn ngữ
của việc dạy học vần ở lớp 1, một số nguyên tắc dạy học vần, phƣơng pháp
dạy học vần.
Tác giả Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Nguyên Trứ với công
trình nghiên cứu “Ngữ âm học Tiếng Việt hiện đại” (NXBGD – 1978) đã đề
cập đến một số vấn đề liên quan đến ngữ âm học trong nhà trƣờng.
Giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp
Tiểu học” (tài liệu đào tạo giáo viên) của Dự án phát triển giáo viên Tiểu học
(NXB Giáo dục, năm 2006) cũng đi sâu vào nghiên cứu tầm quan trọng của
2
dạy phát âm đúng cho học sinh, tìm hiểu một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc
phát âm đúng tiếng Việt cho học sinh.
Trong cuốn “Phát triển lời nói cho học sinh tiểu học trên bình diện ngữ
âm” (tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học), Dự án phát triển giáo viên Tiểu học
của Nguyễn Thị Xuân Yến – Lê Thị Thanh Nhàn (NXB Giáo dục năm 2007)
đã mô tả hệ thống âm chuẩn trong tiếng Việt hiện đại xác định lỗi phát âm,
xác định biến thể phát âm theo các vùng phƣơng ngữ cho học sinh tiểu
hoc.Trong cuốn này, tác giả đã đƣa ra cơ sở lí luận một số phƣơng pháp dạy
học phát âm ở tiểu học.
Tác giả Lê Phƣơng Nga với cuốn “Dạy học tập đọc ở tiểu học”đã nghiên
cứu đến việc xác định chuẩn chính âm trong tiếng Việt và hƣớng đến một
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài “ Biện pháp sửa lỗi phát âm cho học
sinh Tiểu học”
- Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân lỗi phát âm của học sinh Tiểu học.
- Đề xuất một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh Tiểu học và bƣớc đầu
thể nghiệm sƣ phạm.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng:
- Phƣơng pháp quan sát
- Phƣơng pháp điều tra
- Phƣơng pháp phân tích
- Phƣơng pháp tổng hợp
- Phƣơng pháp thống kê
- Phƣơng pháp chuyên gia
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung khóa luận gồm 2 chƣơng:
4
- Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của việc sửa lỗi phát âm và Thực trạng lỗi phát âm
của học sinh Tiểu học.
- Chƣơng 2: Một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh Tiểu học và Thể
nghiệm sƣ phạm.
5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬA LỖI PHÁT ÂM VÀ
THỰC TRẠNG LỖI PHÁT ÂM CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
biểu thị mối quan hệ mật thiết giữa sự vận động của thị giác với lời nói âm
thanh.Do đó, trong dạy học Tập đọc giáo viên cần nắm đƣợc đặc điểm tâm
sinh lý, ngôn ngữ, tƣ duy cụ thể của học sinh lớp 3 để xác định cho mình
những phƣơng pháp giảng dạy sao cho phù hợp với đối tƣợng học sinh.
1.1.2. Cơ sở sinh lí
Âm thanh ngôn ngữ do bộ máy phát âm của con ngƣời cùng với hoạt
động của nó tạo nên. Bộ máy phát âm là những bộ phận của cơ thể đƣợc dùng
với chức năng thứ hai là tạo ra các âm của ngôn ngữ. Bộ máy phát âm gồm có
cơ quan hô hấp, thanh hầu và các khoang (khoang mũi, khoang miệng,
khoang yết hầu).
- Cơ quan hô hấp (initiator)
Cơ quan hô hấp không trực tiếp tham gia vào việc cấu tạo âm thanh mà
chỉ cung cấp vật liệu không khí, tức là cái khởi phát luồng hơi. Muốn tạo ra
một âm, trƣớc hết phải có luồng hơi. Trong phần lớn các ngôn ngữ, luồng hơi
đƣợc tạo ra từ cơ quan hô hấp (Luồng hơi cũng có thể đƣợc tạo ra từ nguồn và
hƣớng khác. Chẳng hạn, tiếng Sindhi - một ngôn ngữ ở Ấn Độ và Pakistan đã
dùng hơi từ họng đẩy thanh quản xuống làm cho luồng hơi bị hút vào miệng
và nhƣ thế các âm khép đƣợc tạo ra). Cơ quan hô hấp gồm có phổi, hai lá phổi
và khí quản. Phổi là bộ phận gồm vô số những cái bọng hơi rất nhỏ, xung
quanh có một màng lƣới ti vi huyết quản. Hai lá phổi họp nhau lại ở gốc khí
quản. Lá phổi có một bộ cơ nhẵn cho phép nó co bóp. Khí quản là một cái
ống do những miếng xƣơng sụn hình bán nguyệt áp sát vào nhau mà thành.
Hai lá phổi là nơi chứa nguồn năng lƣợng không khí (hơi) cần thiết cho sự
phát âm. Cơ sở tạo nên âm thanh là luồng không khí từ phổi đi ra, cùng với sự
điều khiển của thần kinh làm dây thanh rung động (mở ra khép vào), tiếp đó,
7
cọ xát vào các bộ phận phát âm ở khoang miệng và khoang mũi tạo nên
Dây thanh (vocal cords), thực tế là hai nếp gấp của một cái màng cố định
ở phía trƣớc nhƣng có thể chuyển động ngang ở phía sau. Khoảng cách giữa
hai dây thanh do thanh môn (glottis) quy định. Khi dây thanh bị đóng kín đến
mức luồng hơi từ phổi ra bị chặn lại và áp suất của luồng hơi phía sau đƣợc
tạo ra, hiện tƣợng này đƣợc gọi là tắc họng. Các âm không thể nghe thấy
nhƣng nó có hiệu quả đối với các ngữ đoạn xung quanh. Trong một số ngôn
ngữ, tắc họng là phƣơng thức tạo nên một số âm trong hệ thống âm. Khi dây
thanh khép lại đến mức có một khe hở hẹp giữa chúng thì áp lực của luồng
hơi sẽ làm cho dây thanh rung, tức là chúng mở hé ra rồi khép lại và tiếp tục
mở ra khép lại nhƣ thế làm cho luồng hơi từ phổi ra ngoài thành từng đợt,
cách nhau đều đặn, tạo nên sóng âm. Những âm đƣợc tạo ra nhƣ thế gọi là âm
hữu thanh. Độ cao của âm phụ thuộc vào tốc độ rung của dây thanh; tốc độ
rung lại do độ dài của dây thanh quy định. Ở đàn ông, dây thanh dài hơn ở
phụ nữ, vì thế, các âm do đàn ông tạo ra thấp hơn đàn bà. Khi dây thanh mở
rộng nhƣ trong hơi thở bình thƣờng, lúc không nói năng thì luồng hơi thoát
qua thanh môn tự do và tạo ra một âm yếu ớt. Âm này sẽ trở nên nghe đƣợc
nếu chúng ta thở qua miệng với một cƣờng độ nhất định. Trong ngữ âm học,
âm này đƣợc kí hiệu là /h/. Khi cấu âm, nếu dây thanh không rung thì kết quả
sẽ cho một âm đƣợc gọi là âm vô thanh.
- Các khoang (khoảng rỗng) Khoang là các khoảng rỗng ở họng, ở miệng
và ở mũi. Khoang họng (thanh hầu) giăng ra từ nắp họng đến sau khoang mũi
và dùng nhƣ cái hộp chứa hơi; hơi này có thể rung động hòa theo sự rung
động của dây thanh. Khoang họng có thể thay đổi kích thƣớc nhờ nâng thanh
quản lên, hoặc nâng ngạc mền lên. Cũng nhƣ khoang họng, khoang miệng và
khoang mũi cũng là những hộp (khoang) cộng hƣởng của bộ máy phát âm.
Khoang miệng là hộp cộng hƣởng quan trọng nhất. Chính ở đây, những sự
khu biệt về cấu âm đƣợc thể hiện. Khoang miệng cùng với các bộ phận và
9
Vần
Âm đầu (1)
Âm đệm (2)
Âm chính (3)
Âm cuối (4)
+ Thành phần vị trí 5 là thanh điệu bao trùm lên toàn bộ âm tiết, có 6
thanh điệu:
- Thanh ngang: trên chữ không ghi dấu khi viết.
- Thanh huyền: ( \ )
- Thanh sắc: ( / )
- Thanh hỏi: ( ? )
- Thanh ngã: ( ~ )
- Thanh nặng: ( . )
Thanh điệu là sự thay đổi cao độ của giọng nói, có tác dụng khu biệt các
từ, có ý nghĩa khác nhau, đối với những ngôn ngữ có thanh điệu thì thanh điệu
đƣợc coi là một âm vị đặc biệt. Dƣới đây là biểu đồ thanh điệu:
11
+ Thành phần ở vị trí 1 là âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm.
+ Thành phần ở vị trí 2 là âm đệm / ṷ / có hai con chữ thể hiện là “o” và
“u”, ví dụ: Hoàn, Tuấn.
+ Thành phần ở vị trí 3 là âm chính do các nguyên âm đảm nhận. Âm
chính là hạt nhân của âm tiết.
+ Thành phần ở vị trí thứ 4 là âm cuối do 6 phụ âm là /m/, /n/, /ŋ/, /p/, /t/,
Âm chính
Âm cuối
Thanh điệu là sự thay đổi độ cao của những âm tiết: la, lá, lã đối lập
với là, lã, lạ. Các âm tiết trƣớc đều đƣợc phát âm với cao độ cao, các âm tiết
sau phát âm với cao độ thấp.
Thanh điệu là sự thay đổi về âm điệu, trong những âm tiết trên thì
những âm tiết cùng thuộc độ cao lại đối lập nhau về sự biến thiên của độ cao,
trong thời gian âm tiết “la” đƣợc phát âm với độ cao hoàn toàn bằng phẳng;
còn “lã” với đƣờng nét biến thiên, cao độ không bằng phẳng; âm điệu là
những nét biến thiên về cao độ.
Nguyên âm trong Tiếng Việt đƣợc coi là âm chính, nguyên âm là khi
nói âm phát ra luồng hơi đi tự do không có gì cản trở. Trong Tiếng Việt có 16
nguyên âm đơn và nguyên âm đôi.
- Nguyên âm đơn:
+ 9 nguyên âm dài: a, e, ê, o, ô, ơ, i, u, ƣ.
+ 4 nguyên âm ngắn: ͻ , ɤ , ɛ , ǎ
- Nguyên âm đôi là gồm hai nguyên âm ghép lại liền nhau. Khi phát âm
thì đọc nhanh, đọc lƣớt từ âm này sang âm kia, lúc đầu mạnh, sau yếu hơn, do
đó âm sắc chủ yếu của các nguyên âm đôi là do âm đầu quyết định. Có ba
nguyên âm đôi, đó là:
+ uo: đƣợc thể hiện bằng hai con chữ: uô và ua.Ví dụ: muốn và lúa.
13
14
1.3. Một số lỗi phát âm của học sinh
Âm tiết của ngôn ngữ là đơn vị âm thanh nhỏ nhất trong lời nói
không thể phân chia đƣợc nữa. Sự phát âm đúng có liên quan chặt chẽ với sự
phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan phát âm của học sinh.
Phát âm đúng là phát âm chính xác những thành phần âm tiết, không
ngọng không lắp, biết điều chỉnh âm lƣợng thể hiện đúng ngữ điệu trong khi
nói, biết thể hiện tình cảm qua nét mặt, điệu bộ, nắm đƣợc những đặc điểm
của văn hóa giao tiếp.
Chuẩn phát âm là cách phát âm đƣợc cho là chuẩn. Hiện nay, chuẩn
phát âm tiếng Việt là chuẩn phát âm Hà Nội bổ sung thêm ba âm s, tr, r và hai
vần ƣu, ƣơu.
Trong quá trình học phát âm, học sinh phải ghi nhận các âm thanh
(nghe bằng tai, nhìn bằng mắt) và tái hiện bằng âm thanh của mình. Học sinh
tiếp thu âm thanh của tiếng nói một cách dần dần. Ở lứa tuổi Tiểu học, nhất là
ở lứa tuổi đầu Tiểu học, bộ máy ngôn ngữ của các em đã hình thành, tuy
nhiên khả năng tái tạo ngôn ngữ chƣa hoàn chỉnh. Ở lứa tuổi này, các em
thƣờng không nói đúng một số thành phần khó của âm tiết nhƣ phụ âm đầu,
âm đệm, âm cuối, thanh ngã, thanh hỏi,…Dƣới đây là một số lỗi phát âm mà
học sinh thƣờng mắc phải.
1.3.1. Lỗi âm đầu
- Học sinh thƣờng hay nói lẫn lộn giữa: l và n
+ l n: Con lợn thành con nợn
+ n l: quả na thành quả la
+l
n: nón lá
và o (ví dụ: huệ, hoa).
- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phƣơng ngữ Nam Bộ
đối với các âm chính trong hầu hết các vần trên.
16
1.3.4. Lỗi âm cuối
- Học sinh thƣờng lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ an/ang: cây bàn, bàng bạc…
+ at/ac: lang bạc, lƣờng gạc, rẻ mạc…
+ ăn/ăng: lẳn lặn, căn tin…
+ ăt/ăc: giặc giũ, co thắc, mặt quần áo…
+ ân/âng: hụt hẫn, nhà tần…
+ ât/âc: nổi bậc, nhất lên…
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+ êt/êch: trắng bệt…
+ iêt/iêc: mải miếc, tiêu diệc…
Ngƣời Miền Nam phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối
n/ng/nh và t/c/ch. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán
âm cuối /i, u/ lại đƣợc ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong:
sau/sao) do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh khu vực
phía Nam.
1.3.5. Lỗi thanh điệu
Trong các số thanh điệu tiếng Việt, thanh hỏi và thanh ngã là hai thành
có cấu tạo phức tạp.
- Việc thể hiện thanh ngã với âm điệu gãy ở giữa là cách phát âm khó đối
với học sinh
Nhƣ vây, để có thể phát hiện ra lỗi phát âm của trẻ chúng ta cần phải
nắm đƣợc đặc điểm tâm sinh lý và phải nắm rõ về đặc điểm phát triển ngôn