Nghiên cứu một số chỉ số đánh giá kết quả điều trị, chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn tính được lọc máu bằng thận nhân tạo và lọc màng bụng (TT) - Pdf 44

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y
---------

PHẠM VĂN MỸ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ KẾT
QUẢ ĐIỀU TRỊ, CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở
BỆNH NHÂN SUY THẬN MẠN TÍNH ĐƯỢC
LỌC MÁU BẰNG THẬN NHÂN TẠO
VÀ LỌC MÀNG BỤNG

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2017


2
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề.
Lọc màng bụng và thận nhân tạo là hai phương thức lọc máu điều
trị thay thế thận suy phổ biến hiện nay. Lọc máu tốt giúp điều chỉnh
các rối loạn cho các bệnh nhân suy thận mạn tính, từ đó nâng cao
chất lượng cuộc sống cũng như kéo dài thời gian sống của người
bệnh. Sức khỏe nói chung và sức khỏe của người bệnh lọc máu nói
riêng theo như định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới là một tình trạng

Tuy nhiên, với mục tiêu đưa người bệnh mắc bệnh mạn tính nói
chung và bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối được điều trị lọc
máu về với cuộc sống thường ngày, qua đó họ có những đóng góp cụ
thể cho xã hội là rất thiết thực và có ý nghĩa nhân văn. Đánh giá kết
quả điều trị lọc máu bằng lâm sàng, chỉ số cận lâm sang với các
thông số kỹ thuật lọc máu cụ thể kết hợp với sự tự đánh giá chất
lượng cuộc sống của mình thông qua bộ câu hỏi SF36 của người
bệnh là khá toàn diện, cần thiết và dễ thực hiện.
3. Những đóng góp của luận án.
Nghiên cứu được thực hiện ở bệnh viện đa khoa khu vực ở 174
bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị lọc máu chu kỳ theo
dõi trong 2 năm. Luận án có giá trị thực tiễn, phản ánh được thực
trạng lọc máu của người bệnh. Điều này giúp cho cơ sở y tế nơi đây
có những nhìn nhận đầy đủ, khách quan hơn về chất lượng chăm sóc,
phục vụ người bệnh từ đó có những điều chỉnh, cải thiện chất lượng
dịch vụ y tế tốt hơn nữa.
4. Bố cục của luận văn.
Luận án gồm 131 trang trong đó: Đặt vấn đề 2 trang, tổng quan tài
liệu 34 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 20 trang, kết quả
nghiên cứu 31 trang, bàn luận 41 trang, kết luận 2 trang, kiến nghị 1 trang.
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Suy thận mạn và các phương pháp điều trị.
Suy thận mạn tính (STMT) là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa
do tổn thương nhu mô thận từ từ, nặng dần, không hồi phục, bệnh tiến
triển kéo dài qua nhiều năm tháng, có từng đợt nặng lên và cuối cùng
dẫn đến suy thận giai đoạn cuối cho dù bệnh khởi phát từ phần nào của
nhu mô thận. Suy thận mạn tính nói riêng và bệnh thận mạn tính
(BTMT) nói chung có tỷ lệ mắc khá cao và ngày càng gia tăng với tốc
độ nhanh ở nhiều nước trên thế giới. Nó để lại những hậu quả nặng nề
về sức khỏe và gánh nặng về kinh tế do có nhiều biến chứng và chi phí

kali và phosphat... Cân bằng nước - muối, ít toan, đủ canxi, ít
phosphat. Nếu phù, suy tim cần ăn giảm muối (2 - 3 g/ngày).
+ Sử dụng các thuốc tác động lên chuyển hoá: Thuốc làm tăng
đồng hoá đạm (durabolin, decadurabolin), thuốc chống gốc oxy tự
do, bổ xung natri bicarbonat để dự phòng toan hóa khi có chỉ định.
+ Điều trị triệu chứng:
Điều trị phù: hạn chế nước và muối trong chế độ ăn hàng ngày. Sử
dụng thuốc lợi tiểu chú ý đề phòng giảm thể tích tuần hoàn hiệu dụng.
Điều trị thiếu máu: Sử dụng erythropoietin người tái tổ hợp từ
công nghệ gen (EPO). Liều thấp nhất 15 IU/ kg/ lần × 3 lần/ tuần.


5
Liều trung bình 40 - 50 IU/ kg/ lần × 3 lần/ tuần. Duy trì sắt huyết
thanh 10 - 20 µmol/l hoặc ferritin huyết thanh 100 - 150 µg/l, cung
cấp đủ dinh dưỡng và yếu tố tạo máu (axit folic, vitamin B12). Duy
trì hemoglobin 100-110 g/l.
Điều chỉnh cân bằng nước và điện giải: Kiểm soát tốt tình trạng
quá tải dịch, kiểm soát tốt nồng độ kali, natri, canxi và phospho máu.
- Các phương pháp điều trị thay thế thận: áp dụng cho BN
STMT giai đoạn IIIb và IV, gồm lọc máu TNT, lọc màng bụng hoặc
ghép thận.
+ Lọc màng bụng: là sử dụng màng bụng làm màng lọc, theo
nguyên lý khuyếch tán riêng phần và thẩm thấu. Khi điều trị lọc
màng bụng mạn tính, BN được đặt một ống thông cố định được luồn
qua một đường hầm dưới da thành bụng vào khoang phúc mạc. Trong
thời gian tiến hành lọc màng bụng mạn tính bệnh nhân vẫn sinh hoạt
gần như bình thường.
+ Lọc máu ngoài cơ thể hay còn gọi thận nhân tạo: là quá trình
lọc máu diễn ra ở ngoài cơ thể dựa trên hai cơ chế cơ bản là khuyếch

+ Giữ được cân bằng phospho-canxi.
+ Bệnh nhân không bị suy dinh dưỡng.
+ Khống chế bệnh lý β2-microglobulin..
- Cận lâm sàng:
+ Kt/Vure (độ thanh thải từng phần Ure): công thức tính như sau
Kt/Vure = ln( Co/Ct)
Ct = Co × e(-Kt/V)
Với K: là độ thanh thải Ure của màng lọc
t : là thời gian lọc máu
V: là thể tích khuyếch tán của Urea
e = 2,718
+ Tỷ lệ giảm Ure sau buổi lọc (URR - Urea Reduction Ratio): tỉ lệ
% ure máu giảm được sau buổi lọc máu so với ure máu trước buổi
lọc máu.
URR = (Co-Ct)/Co %
URR cho phép ước lượng phần ure đã được lấy ra khỏi cơ thể
trong một buổi lọc máu.
Theo khuyến cáo của chương trình hành động vì chất lượng lọc
máu TNT của Quĩ thận học quốc gia Mỹ (K/DOQI: National Kidney
Foundation Dialysis Outcomes Quality Initiative) để đạt được chất
lượng của cuộc lọc máu thì: Kt/Vure ≥ 1,2 và URR ≥ 65%.


7
* Đối với lọc màng bụng:
Đánh giá hiệu quả lọc màng bụng căn cứ vào các yếu tố, cụ thể là
- Độ thanh thải các chất hoà tan ure và creatinin:
+ Độ thanh thải chất hoà tan toàn phần gồm độ thanh thải của thận
và của màng bụng: Ktoàn phần (tuần) = Kthận (tuần) + Kmàng bụng (tuần)
Độ thanh thải ure thường được ký hiệu Kt/ V ure (tuần), độ thanh

thể chất). Do đó, mỗi chiều bao gồm ba mục chuyên biệt và hai phân độ
trùng nhau. SF36 này cũng bao gồm các câu hỏi tự đánh giá về sự thay
đổi sức khỏe trong năm qua và số điểm tổng SF36 dựa trên trung bình
toán học. SF36 là một hệ thống điều tra y tế đã được sử dụng rộng rãi và
xác nhận như là một công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống cho dân số
nói chung cũng như các bệnh nhân lọc máu nói riêng.
Cách tính điểm:Mỗi bệnh nhân sẽ được điều tra từng nội dung của
bảng điểm này, nhân viên y tế sẽ đánh dấu vào các nội dung tương
ứng, số liệu được đưa vào phần mềm tự động tính toán cho kết quả
từng bệnh nhân trên máy tính theo nguồn sau: />Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
+ Bệnh nhân STM giai đoạn cuối được lọc máu chu kỳ bằng hai
phương thức TNT hoặc LMB liên tục ngoại trú.
+ Các bệnh nhân được quản lí điều trị ngoại trú lọc máu kết hợp
điều trị nội khoa thiếu máu, tăng huyết áp…theo khuyến cáo của Hội
Thận học Việt Nam.
+ Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
+ Bệnh nhân suy tim mạn tính nặng độ 3,4 hay suy gan nặng, cổ
trướng lớn.
+ Bệnh nhân mắc ung thư giai đoạn cuối kèm theo.
+ Bệnh nhân suy chức năng cầu nối thông động tĩnh mạch.
- Đối với bệnh nhân lọc màng bụng:
+ Bệnh nhân có suy giảm chức năng màng bụng.
+ Bệnh nhân LMB đang viêm phúc mạc.
+ Bệnh nhân chuyển đổi phương thức lọc máu trong thời gian nghiên cứu.
+ Không hợp tác nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, theo dõi dọc trong thời gian 2 năm.

95 ≤ Hb < 120
Vừa
80 ≤ Hb < 95
Nặng
69 ≤ Hb < 80
Rất nặng
Hb < 69
* Chẩn đoán THA: theo JNC 7.
- HA tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc HA tâm trương ≥ 90 mmHg.
- Hoặc HA bình thường nhưng đang dùng thuốc giảm HA.
* Phân loại BMI: theo tiêu chuẩn của hiệp hội ĐTĐ Đông Nam Á 2001:
Gầy: BMI < 18,5 kg/m2
Bình thường: BMI từ 18,5 đến 22,9 kg/m2
Thừa cân: BMI ≥ 23,0 kg/m2.


10
- Diện tích da cơ thể (BSA) được tính theo công thức Dubois:
BSA (m2) = 0,007184 x W0,425 x H0,725 (W là trọng lượng cơ thể
tính bằng kg, H là chiều cao tính bằng cm).
* Một số chỉ số sinh hoá máu:
Bảng 2.2. Các chỉ số sinh hoá máu
Chỉ số
Giá trị bình thường
Bất thường
Protein (g/l)
60 – 80
Giảm: < 60
Albumin (g/l)
38 – 54

* Đánh giá hiệu quả lọc máu: theo K/DOQI (2006) và Bộ Y Tế
Việt Nam.
+ Bệnh nhân TNT:
Hiệu quả lọc máu đạt khi: Kt/Vure ≥ 1,2 và
URR ≥ 0,65
Hiệu quả lọc máu tốt khi:
Kt/Vure ≥ 1,4 và
URR ≥ 0,70
+ Bệnh nhân LMB:
Hiệu quả lọc máu đạt khi: Kt/Vure tuần > 1,7 và
CCr tuần > 50 lít/tuần/1,73m2da
Hiệu quả lọc máu tốt khi:
Kt/Vure ≥ 2,0 và
CCr tuần > 60 lít/tuần/1,73m2da
* Phân chia mức đánh giá chất lượng cuộc sống theo SF36:
chia làm 4 mức như sau


11
Bảng 2.3. Phân chia mức độ chất lượng cuộc sống
Mức độ
Điểm SF36
Tốt
76 – 100
Khá
51 – 75
Trung bình
26 – 50
Kém
0 – 25

giữa nhóm LMB và TNT.
Nồng độ Hemoglobin chung 100,86 ± 18,91g/l, ở nhóm LMB là
108,80 ± 18,41g/l và ở nhóm TNT là 98,09 ± 18,36g/l, có sự khác biệt
thống kê về nồng độ Hb giữa hai nhóm LMB và TNT (p < 0,001).
- Tỷ lệ tăng huyết áp chung là 100,0%
- Tỷ lệ rối loạn ít nhất một thành phần lipid máu là 70,7%. Tỷ lệ
này ở nhóm LMB cao hơn nhóm TNT (73,3% so với 69,8%, p> 0,05).
- Một số chỉ số sinh hóa:
Tỷ lệ tăng glucose máu là 45,4%. Nồng độ glucose máu trung
bình là 6,79 ± 2,64 mmol/l.
Tỷ lệ giảm protein và giảm albumin máu của bệnh nhân nghiên
cứu lần lượt là 6,3% và 23,6%. Nồng độ protein, albumin máu tương
ứng là 71,22 ± 8,32 g/l và 37,86 ± 5,13g/l.
Nồng độ ure, creatinin máu lần lượt là 20,36 ± 9,23mmol/l và
810,43±276,26 µmol/l. Nhóm LMB có ure, creatinin máu thấp hơn
có ý nghĩa so với nhóm TNT (tương ứng 13,54 ± 3,89mmol/l so với
22,74 ± 9,38mmol/l, p< 0,001; 718,75 ± 262,42µmol/l so với 842,40
± 274,76µmol/l, p< 0,01). Nồng độ natri, kali, canxi toàn phần máu
đều trong giới hạn cho phép.
25,9% BN tăng CRP máu. Nồng độ CRP chung 11,28 ± 28,91 mg/dl,
nồng độ chất này ở nhóm LMB cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm
TNT (15,01 ± 23,85 mg/dl so với 9,98 ± 21,49 mg/dl, p < 0,05).
- Hiệu quả cuộc lọc máu
+ Nhóm lọc màng bụng: độ thanh thải Kt/V ure tuần 2,16 ± 0,52, độ
thanh thải CCr tuần 55,86 ± 9,33 (lít/tuần/1,73m 2da). Có 80,0% bệnh
nhân đạt chỉ số Kt/Vure tuần > 1,7 và 73,3% bệnh nhân đạt chỉ số CCr
tuần > 50 lít/ tuần/ 1,73m2da theo khuyến cáo.
+ Nhóm TNT: Kt/Vure và URR trung bình tương ứng là 0,96 ±
0,34 và 0,59 ± 0,15. 24,8% BN đạt Kt/Vure ≥ 1,2 và 41,9% BN đạt
URR ≥ 0,65 theo khuyến cáo.

giảm không có ý nghĩa thống kê theo thời gian lọc máu (Kt/V ure 0,99
± 0,33 (T0) so với 0,92 ± 0,24 với p>0,05; URR 0,61 ± 0,15 so với
0,59 ± 0,11 với p > 0,05). Sau 2 năm lọc máu, tỷ lệ BN đạt theo
khuyến cáo về các chỉ số cuộc lọc Kt/Vure giảm có ý nghĩa thống kê
(28,3% (T0) so với 14,1% (T2), p< 0,05), và URR cũng giảm nhưng
không có ý nghĩa thống kê (47,8% (T0) so với 32,6% (T2), p> 0,05).


14
3.4. Đặc điểm chất lượng cuộc sống theo thang điểm SF36 và biến
đổi sau 2 năm theo dõi
- Đặc điểm chất lượng cuộc sống theo thang điểm SF36 ở thời
điểm bắt đầu theo dõi (T0):
+ Điểm SF36 của các bệnh nhân lọc máu ở mức trung bình 45,65
± 8,18 điểm, nhóm LMB 47,54 ± 7,52 điểm và nhóm TNT 44,98 ±
8,32, không có sự khác biệt thống kê về điểm SF36 giữa hai nhóm
LMB và TNT, p > 0,05. Bệnh nhân lọc máu có điểm SF36 ở mức khá
là 42,5%, mức trung bình 57,5%. Không có bệnh nhân ở mức tốt và
mức kém.
Điểm SF36 về tinh thần cao hơn về thể chất tương ứng là 53,35 ±
10,01 điểm so với 37,94 ± 9,19 điểm, p < 0,01. Điểm CLCS trung
bình cả về tinh thần và thể chất nhóm LMB đều cao hơn nhóm TNT
(tuong ứng là, điểm SF36 tinh thần: 55,39 ± 8,14 điểm so với 52,64 ±
10,52 điểm; và điểm SF 36thể chất: 39,69 ± 9,88 điểm so với 37,33 ±
8,89 điểm), khác biệt không có ý nghĩa p> 0,05.
+ Liên quan giữa điểm SF36 với một số yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng:
Điểm SF36 ở BN nữ lọc máu là 43,29 ± 8,03 điểm thấp hơn có ý
nghĩa so với các BN nam là 48,11 ± 7,62 điểm, p < 0,001.
Không có mối tương quan giữa điểm SF36 và thời gian lọc máu,
với r = 0,14 và p> 0,05

điểm so với 51,77 ± 10,54 điểm; SF36 thể chất 38,12 ± 9,17 điểm so
với 36,76 ± 8,71 điểm.
- Biến đổi chất lượng cuộc sống sau 2 năm theo dõi (T2): Số
bệnh nhân được theo dõi liên tục trong 2 năm là 128 bệnh nhân bao
gồm 92 bệnh nhân TNT và 36 bệnh nhân LMB
+ Điểm SF36 chung cũng như điểm thể chất và tinh thần ở BN
lọc máu sau 2 năm đều cao hơn so với thời điểm bắt đầu nghiên
cứu, tuy nhiên khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p> 0,05. Cụ thể:
SF36 chung 47,92 ± 7,72 điểm (T2) so với 47,24 ± 7,74 điểm (T0);
SF36 tinh thần 54,54 ± 8,62 điểm (T2) so với 54,64 ± 9,64 điểm
(T0); SF36 thể chất 41,30 ± 8,76 điểm (T2) so với 39,85 ± 8,47
điểm (T0).
Không có sự biến đổi có ý nghĩa thống kê giữa các phân mức
SF36 khác nhau sau 2 năm theo dõi, chỉ gặp các BN có phân mức
SF36 trung bình và khá.
+ Về tình trạng và nguy cơ tử vong ở các bệnh nhân lọc máu:
Điểm SF36 chung, SF36 tinh thần và thể chất ở bệnh nhân sống
sót đều cao hơn có ý nghĩa thống kê so với bệnh nhân tử vong, p < 0,001.


16
Tương ứng: SF36 chung 47,25 ± 7,65 điểm so với 40,77 ± 7,87 điểm;
SF36 tinh thần 54,78 ± 9,62 điểm so với 48,98 ± 10,02 điểm; SF36
thể chất 39,71 ± 8,46 điểm so với 32,57 ± 9,34 điểm.
Những bệnh nhân lọc máu có điểm SF36 chung < 51 điểm thì nguy
cơ tử vong tăng 6,8 lần so với người ≥ 51 điểm (OR = 6,8 và p < 0,001).
Cứ giảm mỗi 5 điểm SF36 chung nguy cơ tử vong tăng 1,7 lần (OR =
1,7 và p< 0,001; 95%CI: 1,3 - 2,0); và cứ giảm mỗi 10 điểm nguy cơ tử
vong tăng 2,7 lần (OR = 2,7 và p< 0,001; 95%CI: 1,6 - 4,2).
Những bệnh nhân lọc máu có điểm SF36 về thể chất < 45 điểm thì

mái hơn do đó chỉ số BMI cao hơn so với các bệnh nhân TNT.
- Thời gian lọc máu:
Thời gian lọc máu có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của
các bệnh nhân mắc bệnh thận mạn. Thời gian lọc máu trung bình
chung của cả hai nhóm là 23,98 ± 30,73 tháng, ở nhóm LMB là 16,47
± 17,31 tháng và ở nhóm TNT là 26,61 ± 33,86 tháng (p > 0,05).
Thời gian lọc máu của các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi
thấp, nguyên nhân có thể là do bệnh viện đa khoa khu vực Củ chi là
bệnh viện khu vực, chuyên ngành thận nhân tạo còn sơ khai, mới
phát triển trong khoảng 10 năm nay. Do đó cần được quan tâm đầu tư
cả về cơ sở hạ tầng và đào tạo nhân lực.
4.2. Thực trạng kết quả lọc máu
4.2.1. Một số chỉ số đánh giá kết quả lọc máu
- Đặc điểm thiếu máu:
Thiếu máu là triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân STM có lọc
máu chu kỳ (LMCK). Ở bệnh nhân STM LMCK, hội chứng thiếu
máu do là do sản xuất thiếu Erythropoietin, hoặc do thiếu nguyên
liệu tạo hồng cầu như sắt, acid folic, vitamin B12, đạm ...
Tỷ lệ thiếu máu chung 87,4% BN, nhóm LMB có 80,0% BN và
nhóm TNT 89,9%, không có khác biệt thống kê về tỷ lệ thiếu máu
giữa nhóm LMB và TNT. Nồng độ Hemoglobin chung 100,86 ±
18,91g/l, ở nhóm LMB là 108,80 ± 18,41g/l và ở nhóm TNT là 98,09
± 18,36g/l, có sự khác biệt thống kê về nồng độ Hb giữa hai nhóm
LMB và TNT (p < 0,001). Nhóm TNT có nồng độ Hb thấp hơn và tỷ
lệ thiếu máu cao hơn nhóm LMB là do có thể mất máu qua cuộc lọc
vì do tan hồng cầu, mất qua hệ thống lọc máu. Nên cần có chiến lược
quản lí ở mỗi nhóm BN lọc máu nhằm đảm bảo tốt mục tiêu điều trị.
- Về tình trạng tăng huyết áp:
100,0% BN lọc máu đều tăng huyết áp và phải dùng thuốc hạ áp.
Như vậy, dường như việc kiểm soát các yếu tố liên quan tới cơ chế

tại bệnh viện chúng tôi còn nhiều bất cập về chuyên môn, cơ chế bảo
hiểm cũng như điều kiện của người bệnh, rất cần được quan tâm
trong tương lai gần nhằm nâng cao chất lượng lọc máu từ đó cải thiện
chất lượng cuộc sống cho người bệnh.


19
4.3. Kết quả lọc máu và sự biến đổi sau 2 năm theo dõi
Theo dõi 174 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị lọc máu
trong 2 năm, kết quả cho thấy có 128 người còn sống (73,6%), 43 bệnh
nhân đã tử vong (24,7%), có 3 bệnh nhân lọc màng bụng chuyển phương
pháp lọc máu. Đa số các bệnh nhân tử vong tại nhà 26 bệnh nhân chiếm tỷ
lệ 60,47%, còn lại 17 bệnh nhân tử vong tại bệnh viện (39,53%).
Lọc máu tốt được thể hiện thông qua việc kiểm soát huyết áp, cải thiện
tình trạng thiếu máu, dinh dưỡng ... ở các bệnh nhân lọc máu chu kỳ.
- Tình trạng tăng huyết áp:
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp giảm
dần theo thời gian lọc máu. Khi vào theo dõi có 100,0% đều có tăng HA,
sau 2 năm tỷ lệ này giảm còn 89,1% bệnh nhân. Lí giải cho điều này,
chúng tôi cho rằng, trong quá trình theo dõi bệnh nhân chúng tôi đã phát
hiện và thay đổi liều lọc cá thể hóa với từng người bệnh nhằm đạt hiệu
quả lọc tối ưu, do vậy, dần dần chúng tôi kiểm soát được hiện tượng thừa
dịch của bệnh nhân.
- Tình trạng thiếu máu:
Tỷ lệ thiếu máu tăng từ 87,5% (T0) lên 100,0% (T2). Nồng độ Hb
trung bình tăng từ `101,6 ± 18,11g/l (T0) lên 107,34 ± 18,07g/l (T2),
p< 0,05.
Điều trị thiếu máu luôn là những vấn đề nan giải, bài toán khó ở
các bệnh nhân lọc máu chu kỳ do chịu tác động của nhiều yếu tố như
tủy xương, giảm sản xuất EPO, thiếu nguyên liệu, do mất máu khi

theo dõi
4.4.1. Chất lượng cuộc sống theo điểm SF36 khi bắt đầu theo dõi (T0)
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, điểm SF36 trung bình là
45,65 ± 8,18 điểm, trong đó nhóm BN LMB là 47,54 ± 7,52 điểm, nhóm
TNT là 44,98 ± 8,32 điểm. Điểm sức khoẻ thể chất chung là 37,94 ±
9,19 điểm, nhóm LMB là 39,69 ± 9,88 điểm, nhóm TNT là 37,33 ± 8,89
điểm. Điểm sức khoẻ tinh thần chung là 53,35 ± 10,01 điểm, nhóm
LMB là 55,39 ± 8,14 điểm, nhóm TNT là 52,64 ± 10,52 điểm. Khi so
sánh điểm SF36 chung; điểm sức khoẻ thể chất ; sức khoẻ tinh thần giữa
hai nhóm LMB và TNT chúng tôi không thấy có ý nghĩa thống kê, p>
0,05. Nghĩa là, chọn lựa phương pháp điều trị thay thế thận không tạo
ra sự khác biệt về điểm chất lượng sống chung ở những bệnh nhân.
Tuy nhiên, cùng với tổng điểm 100 nhưng điểm sức khoẻ thể chất lại
thấp hơn nhiều điểm sức khoẻ tinh thần, p< 0,01. Khi so sánh tỷ lệ bệnh
nhân có CLCS mức khá thì nhóm bệnh nhân LMB có tỷ lệ cao hơn
nhóm TNT có ý nghĩa, p< 0,05. Như vậy ở lĩnh vực cảm nhận đau đớn,


21
tự đánh giá sức khỏe, cảm nhận sức sống, sức khỏe tâm thần tổng
quát, sức khỏe thể chất nhóm bệnh nhân LMB cao hơn nhóm TNT, ở
lĩnh vực giới hạn thể lực nhóm bệnh nhân LMB thấp hơn so với
nhóm TNT. Ngoài ra các lĩnh vực sức khỏe: hoạt động chức năng,
giới hạn chức năng, hoạt động xã hội, sức khỏe tinh thần và tổng
điểm SF-36 chung không có sự khác biệt có ý nghĩa. Đây là một kết
quả theo chúng tôi cho rằng hợp lý, bởi một số lý do sau. Thứ nhất là,
chất lượng lọc và các vấn đề xã hội liên quan đến phương pháp LMB
chúng tôi cho rằng, nhóm BN LMB có tỷ lệ BN có CLCS mức khá cao
hơn, mức trung bình thấp hơn nhóm bệnh nhân TNT trong nghiên cứu
này là hợp lý. CLCS phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả thể chất và tinh thần.

bệnh nhân LMB và TNT chu kỳ do đó chất lượng cuộc sống của
người bệnh giảm thấp.
- Liên quan giữa điểm SF36 với giảm albumin và nồng độ CRP máu:
Viêm và thiếu dinh dưỡng là 2 yếu tố luôn song hành và cộng
hưởng làm nặng nề hơn toàn trạng ở các bệnh nhân do đó sẽ ảnh
hưởng tới sức khỏe thể chất cũng như tinh thần của người bênh.
Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điểm SF36 có mối tương
quan thuận mức yếu với nồng độ albumin huyết thanh (r = 0,25 và p
0,05. Cụ thể là: SF36 chung 47,92 ± 7,72 điểm (T2) so với 47,24
± 7,74 điểm (T0); SF36 tinh thần 54,54 ± 8,62 điểm (T2) so với
54,64 ± 9,64 điểm (T0); SF36 thể chất 41,30 ± 8,76 điểm (T2) so với
39,85 ± 8,47 điểm (T0).


23

- Tỷ lệ thiếu máu chung là 87,4%. Nồng độ hemoglobin 100,86 ±
18,91 g/l.


24
- 100% bệnh nhân có tăng huyết áp.
- 23,6% bệnh nhân có giảm albumin máu.
- 70,7% bệnh nhân có rối loạn ít nhất một thành phần lipid máu.
- Chỉ số BMI chung 19,75 ± 2,87 kg/m 2. Nhóm LMB có BMI cao
hơn so với nhóm TNT (20,72 ± 2,89 kg/m 2 so với 19,41 ± 2,79 kg/m 2,
p< 0,01).
- Các chỉ số cuộc lọc máu:
+ Nhóm LMB: 80,0% bệnh nhân có Kt/Vure tuần và 73,3% bệnh
nhân có CCr tuần đạt theo khuyến cáo của KDOQI (2006) và Bộ Y Tế
Việt Nam.
+ Nhóm TNT: 24,8% bệnh nhân có Kt/Vure và 41,9% bệnh nhân có
URR đạt theo khuyến cáo của KDOQI (2006) và Bộ Y Tế Việt Nam..
1.2. Sự biến đổi kết quả lọc máu sau 2 năm
- Tỷ lệ thiếu máu tăng là 100% so với thời điểm T0: 87,5%, p
0,05.
- Hiệu quả cuộc lọc máu:
+ Nhóm bệnh nhân LMB: Sau 2 năm, Kt/V ure tuần và CCr tuần
thay đổi không có ý nghĩa thống kê so với thời điểm T0 (tương ứng
1,71 ± 0,79 so với 2,14 ± 0,52, và 45,68 ± 19,41 lít/ tuần/ 1,73m 2 da
so với 54,71 ± 8,87 lít/ tuần/ 1,73m 2 da, p > 0,05). Tuy nhiên, tỷ lệ
bệnh nhân đạt Kt/Vure tuần theo khuyến cáo giảm có ý nghĩa so với
thời điểm T0 (58,3% so với 80,0%, p< 0,05).

chất lượng cuộc sống. Cần có sự quan tâm tích cực để cải thiện, nâng
cao chất lượng điều trị và chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân lọc
máu tại đây.
Thang điểm SF36 là một công cụ hữu ích giúp các thày thuốc lâm
sàng đánh giá chất lượng điều trị ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ, nên được
áp dụng thường qui, rộng rãi ở các trung tâm lọc máu tại Việt Nam.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status