i
LỜI CẢM ƠN
Cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS. TS. Nguyễn Thế Nhã,
Chủ nhiệm Khoa QLTNR& MT – Đại học Lâm nghiệp, người đã hướng dẫn tôi
hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
của các thầy cô Bộ môn Bảo vệ thực vật rừng, Khoa QLTNR&MT trong việc giám
định mẫu, biên dịch tài liệu tham khảo cũng như tạo điều kiện thuận lợi về thời gian
để tôi hoàn thành luận văn này. Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban Giám đốc, Cán bộ
KBTTN Pù Huống, Ban Quản lý rừng phòng hộ Qùy Hợp, Ban Quản lý rừng phòng
hộ Qùy Châu, Ban Quản lý rừng phòng hộ Quế Châu, Trạm Quản lý rừng phòng hộ
Bình Chuẩn, UBND xã Nga My đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất cũng như đóng
góp ý kiến quan trọng trong thực hiện luận văn này.
Xin cảm ơn bạn bè, người thân đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn tới tất cả sự giúp đỡ quý báu đó.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2010
Bùi văn Bắc
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đa dạng sinh học (ĐDSH), nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, đóng vai trò
rất lớn đối với tự nhiên đời sống con người. Tuy nhiên, do các nguyên nhân khác
nhau, ĐDSH đang bị suy thoái nghiêm trọng. Các hệ sinh thái bị tác động và khai
lại phần lớn các loài côn trùng hoặc là không gây hại hoặc là mang lại lợi ích cho
con người [50].
Việt Nam có lãnh thổ kéo dài, khí hậu nhiệt đới với nhiều hệ sinh thái khác
nhau, là một trong những nước có tính ĐDSH côn trùng cao. Tuy nhiên do hậu quả
của sự tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số, tài nguyên đa dạng côn trùng của Việt
Nam đang phải đối mặt với sự thu hẹp môi trường sống, sự tuyệt chủng một số loài
và sự suy giảm các loài thiên địch. Nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là do sự mở
rộng diện tích nông nghiệp, thành thị hóa, công nghiệp, ô nhiễm, khai thác khoáng
sản, du lịch, săn bắt, và thương mại hóa bất hợp pháp các loài nguy cấp. Để khai
thác có hiệu quả các nguồn lợi của côn trùng như một nguồn tài nguyên sinh học và
kiểm soát tốt những mặt có hại, hơn lúc nào hết, các chiến lược quốc gia, các hành
động pháp lý, xây dựng năng lực hoạt động cần phải được thực hiện. Những nỗ lực
này sẽ hướng tới mục tiêu bảo tồn tài nguyên ĐDSH côn trùng ở Việt Nam.
Nằm cách 30 km về phía Bắc của dãy Trường Sơn, bị ngăn cách bởi thung
lũng sông Cả và trải dài trên địa bàn các huyện Quế Phong, Quế Châu, Qùy Hợp,
Tương Dương và Con Cuông, Khu Bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) Pù Huống có
diện tích tự nhiên là 160.686 ha, trong đó vùng bảo tồn 49.806 ha và vùng đệm
110.880 ha. KBTTN Pù Huống là một kho tàng về các nguồn gen hoang dã, quý
hiếm với 665 loài thực vật bậc cao có mạch đã được ghi nhận, trong đó có 63 loài
có trong Sách Đỏ Việt Nam (SĐVN) năm 2000. Ngoài ra tại KBTTN Pù Huống đã
ghi nhận được 291 loài thú với 45 loài có trong SĐVN năm 2000 [26]. Trên thực tế
số lượng loài động, thực vật còn lớn hơn rất nhiều. Hiện nay, tại Khu Bảo tồn chưa
có nghiên cứu nào về tài nguyên côn trùng nói chung, ĐDSH côn trùng nói riêng.
Vì vậy việc “Nghiên cứu tính ĐDSH côn trùng và đề xuất các giải pháp quản lý,
bảo tồn tại KBTTN Pù Huống, Nghệ An” sẽ góp phần cung cấp những thông tin
cần thiết về khu hệ côn trùng Khu bảo tồn, là sơ sở khoa học quan trọng trong việc
bảo tồn, phát triển không những tài nguyên côn trùng mà cho cả hệ sinh thái rừng
nơi đây.
4
- Khảo sát theo các điểm, ô tiêu chuẩn: Phương pháp này thường áp dụng với
côn trùng, thủy sinh vật, sinh vật đất.
- Xác định nơi ở, ổ sinh thái, sinh cảnh, hệ sinh thái: Mỗi loài, mỗi cá thể đều
có nơi ở và ổ sinh thái riêng. Bất cứ một địa điểm nào cần được đánh giá đều bao
gồm ít nhất là một và thông thường gồm nhiều hệ sinh thái. mỗi hệ sinh thái đều
được đặc trưng bởi một quần xã sinh vật riêng. Do đó, khi cần đánh giá ĐDSH cần
phân biệt các hệ sinh thái với các hiểu biết có trước về nơi ở và ổ sinh thái của các
loài, các cá thể để lập kế hoạch quan sát và thu mẫu.
- Bản đồ và máy định vị GPS: Trong công tác đánh giá ĐDSH, sử dụng các
bản đồ với tỷ lệ thích hợp để ghi chú sự hiện diện của các loài là vô cùng quan
trọng. Việc sử dụng bản đồ để đánh dấu các tuyến khảo sát, các ô tiêu chuẩn lấy
mẫu cũng vậy. Máy định vị GPS giúp xác định chính xác nơi quan sát và thu mẫu.
- Công thức đánh giá ĐDSH loài: Những chỉ số thường được sử dụng để
đánh giá ĐDSH: Chỉ số đa dạng Fisher và chỉ số phong phú Margalef, chỉ số
Shannon – Weiner, chỉ số simpson…Việc sử dụng các chỉ số này phụ thuộc vào
mục đích, nội dung nghiên cứu:
+ Chỉ số đa dạng Fisher:
S = ln(1
Trong đó:
N
)
(tháng 5 năm 2000) tới 751.000 (Tangley 1997), 800.000 (Nieuwenhuys 1998,
2008), 948.000 (Brusca 2003), 950.000 (IUCN 2004) đến hơn 1.000.000 (Myers
2001a). Groombridge và Jenkins (2002) đã thống kê được 963.000 loài gồm côn
trùng và các động vật nhiều chân khác. Ước tính tổng số lượng côn trùng rất khác
nhau ở khắp nơi trên thế giới từ 2.000.000 (Nielsen và Mound, 2000), 5-6.000.000
(Raven và Yeates 2007) lên đến khoảng 8.000.000 (1995 Hammond, Groombridge
và Jenkins 2002). Các tính toán dựa trên ngoại suy từ loài Coleoptera và
Lepidoptera tại New Guinea bởi Novotny et al. (2002) có thể đạt tới một con số từ
3,7 triệu và 5.900.000 cho tổng số động vật chân đốt trên thế giới.
Côn trùng không chỉ đa dạng về thành phần loài mà còn là nhóm có số lượng
cá thể lớn, đông đúc nhất trên hành tinh chúng ta. Lớp côn trùng có đến một tỷ tỷ
(108) cá thể, có nghĩa là trên 1 km2 bề mặt trái đất có tới 10 tỷ con sâu bọ sinh sống
ở đó và nếu so với dân số loài người thì có khoảng 200 triệu con côn trùng cho bình
quân 1 đầu người. Với tương quan như vậy, đã có người cho rằng sâu bọ mới chính
là “chủ nhân” đích thực “thống trị” hành tinh xanh của chúng ta [27]
Côn trùng là nhóm có dạng sống rất đa dạng: sinh vật rễ (gồm các côn trùng
có quan hệ với rễ của thực vật như: các loài dế; sinh vật hoại sinh gồm những sinh
vật ăn cặn bã hữu cơ phân hủy như ấu trùng bọ hung; sinh vật ăn phân; sinh vật ở
hang và nhóm du động vật gồm các côn trùng có đặc tính luôn luôn di chuyển.
Với sự đa dạng về thành phần loài, cũng như dạng sống, côn trùng có vai trò
khác nhau đối với con người và sự sống trên hành tinh. Trong nhận thức của con
người, sâu bọ luôn bị xem là những sinh vật có hại, gây nhiều phiền toái cho đời
sống của họ. Trong lĩnh vực nông nghiệp, sâu bọ là mối đe dọa thường trực đến
năng suất và phẩm chất của mùa màng cả trước và sau thu hoạch. Có thể kể đến một
số loài sâu hại khét tiếng như: rầy nâu hại lúa, sâu tơ hại rau, ruồi đục quả, mọt
6
thóc, ngô....Với ngành lâm nghiệp cũng vậy, sâu bọ thường gây ra những tổn thất
7
đã biết thu bắt nhiều loài côn trùng làm thức ăn và cùng với tiến trình phát triển của
nhân loại, lớp động vật nhỏ bé và đông đúc này đã trở thành một phần đáng kể
trong thói quen ăn uống của con người ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày nay việc
chăn nuôi, chế biến một số loài côn trùng như: tằm, dế, châu chấu, bọ muỗm, bọ
dừa, cà cuống...đã trở thành một ngành kinh doanh thu hút sở thích ẩm thực của
nhiều người. Có thể xem việc khai thác côn trùng làm thức ăn cho con người và vật
nuôi là một hướng đi triển vọng và có ý nghĩa trong bối cảnh bùng nổ dân số, nguồn
tài nguyên thiên nhiên ngày một cạn kiệt và môi trường sống không ngừng bị hủy
hoại do các hoạt động sản xuất quá mức của con người [27].
1.2. Các nghiên cứu về ĐDSH côn trùng ở ngoài nước
1.2.1. Nghiên cứu về phân loại, thành phần loài côn trùng
Côn trùng trở thành một ngành khoa học được bắt đầu từ Aistote (384 – 322
tr.CN). Ông được coi như người cha của lịch sử tự nhiên. Lần đầu tiên ông đã mô tả
và sắp xếp thế giới động vật thành hai nhóm: nhóm có máu và nhóm không có máu.
Ở nhóm thứ 2 cơ thể phân đốt, chia thành đầu, ngực và bụng. Thuộc nhóm này có
côn trùng và ông ghép thêm cả đa túc, nhện, một phần giáp xác thấp và một số giun
đốt.
Một thời gian dài sau đó là những công trình của Aldrovandi (1522 – 1605),
giáo sư ở Gymnasium thuộc Bologna bắt đầu được công bố. Trong đơn vị thống
nhất có tính hệ thống thuật ngữ Insecta (côn trùng) bao gồm cả bọ cạp, nhện, giun
đốt, sao biển…Trong tác phẩm của ông, một khối lượng lớn những quan sát về cách
sinh sống và hình dạng các nhóm động vật này được đánh giá có giá trị đặc biệt
trong khoa học.
Th.Moufer (1550 – 1604) dựa theo bản thảo của Conrad Gesner ( 1516 –
1565) đã biên soạn thành một tài liệu và công bố năm 1634. Hệ thống phân loại của
Moufet cũng tương tự như của Aldrovandi, chỉ có sự khác là sao biển đã không còn
thuộc vào Insecta nữa.
Năm 1710, tài liệu “Historia Insectorum” của John Ray (1628 – 1704) đã
Bộ Cánh phấn (Lepidoptera): Là một trong những bộ có số lượng loài lớn
trong lớp côn trùng bao gồm nhóm ngài (bướm đêm) và bướm ngày. Cơ thể và
cánh, chân phủ đầy những lông vảy nhỏ như bụi phấn nên còn có tên là bộ Cánh
phấn. Miệng vòi hút, hàm trên thoái hóa chỉ còn lại một ít dấu vết hoặc không còn.
9
Râu đầu có đủ các hình dạng: sợi chỉ, lông chim, dùi đục, dùi trống. Hiện nay có
khoảng 180.000 loài bướm đã được mô tả (ước lượng có khoảng: 300.000-500.000
loài trên thế giới) [34], [55], [57].
Bộ Cánh màng (Hymenoptera): Bộ Cánh màng là một trong những bộ lớn
nhất của lớp côn trùng với hơn 130.000 loài đã được mô tả. Bộ Cánh màng có
nguồn gốc trong kỷ triat, các hóa thạch cổ nhất thuộc về họ Xyelidae [44]. Sự tiến
hóa của nhóm này đã và đang được nghiên cứu sâu hơn bởi A. Rasnitsyn, MS
Engel, G. Dlussky, và cộng sự.
Bộ Cánh nửa (Hemiptera): Bao gồm những loài côn trùng được biết đến
như là những loài đáng ghét nhất trong giới tự nhiên. Chúng có khoảng 80.000 loài
có kích thước cơ thể biến đổi từ 1mm đến 15 mm. Râu đầu hình sợi chỉ có 5 đốt
hoặc ít hơn. Miệng chích hút hơi dài.Vòi có phân đốt và mọc ra từ phần trước của
đầu; có hai đôi cánh, cánh trước gần hai phần ba chiều dài được kitin hóa cứng,
phần ngoài còn lại là dạng màng. Cánh sau là cánh màng ngắn hơn cánh trước. Phần
lớn các loài sống trên cạn thuộc bộ này chích hút nhựa cây, một số loài hút máu các
động vật và các côn trùng khác. Một số loài là vật trung gian truyền bệnh cây. Bộ
này có nhiều loài sống ở dưới nước [47], [49], [46].
Bộ Hai cánh (Diptera): Ước lượng trên thế giới có khoảng 240.000 loài,
trong đó đã mô tả được 152.956 loài (Thompson 2008). Bộ này gồm những loài có
kích thước cơ thể bé nhỏ hoặc trung bình. Đặc điểm chủ yếu là miệng liếm hút hoặc
chích hút hoặc cứa liếm. Đầu hình bán cầu có thể cử động được, có 2-3 mắt đơn.
Râu đầu dài, chia nhiều đốt hoặc ngắn có 3 đốt, có một đôi cánh trước phát triển
1.2.2. Nghiên cứu về giá trị, vai trò của ĐDSH côn trùng
Các nghiên cứu về vai trò ĐDSH côn trùng trên thế giới tập trung chủ yếu
vào các lĩnh vực: sinh thái, nông nghiệp, thực phẩm, văn hóa, nhân văn....
Những lợi ích của côn trùng mang lại cho con người
Đối với hệ sinh thái, ĐDSH không chỉ có vai trò cung cấp thực phẩm cho
con người mà vai trò quan trọng khác của nó trong hệ sinh thái là tạo ra các chu
trình tuần hoàn vật chất năng lượng, ảnh hưởng lớn đến điều kiện tiểu khí hậu và
chế độ thủy văn của địa phương. Bên cạnh đó, ĐDSH đóng vai trò tích cực trong
việc khống chế các loài sinh vật gây hại, tham gia vào quá trình làm sạch các chất ô
11
nhiễm trong môi trường. Trong tổng số các loài côn trùng được mô tả trên thế giới,
thì có hơn một nửa sử dụng nguồn thức ăn từ thực vật chủ yếu là mật và phấn hoa
[32]. Bằng cách thu thập và ăn phấn hoa và mật, côn trùng có vai trò rất quan trọng
trong quá trình thụ phấn của thực vật. Hiện có hơn 300 loài côn trùng thụ phấn đã
được ghi nhận ở Trung Quốc [66]. Theo W. S. Robinson, R. Nowogrodski & R. A.
Morse, tính riêng tại Mỹ [64], thì các loài bướm thụ phấn cho thực vật đã mang lợi
khoảng 9 tỷ đô la trong tổng doanh thu kinh tế hàng năm ở Mỹ. Cây trồng nông
nghiệp, đặc biệt là các loài cây ăn quả, cây tái sinh bằng hạt phụ thuộc nhiều vào
các loài côn trùng thụ phấn. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, trong tổng số
các loài thực vật lưỡng tính ở Trung Quốc có tới 85% là được thụ phấn nhờ côn
trùng, 5% là do tự thụ phấn và 10 % còn lại là do gió. Các loài côn trùng ăn phấn
hoa hoặc hút mật: ong, ong bắp cày, ruồi, bướm đêm và bướm, thường tập trung
xung quanh khu vực có hoa và thụ phấn cho hầu hết trong số đó. Nhân tố trung
gian này đã làm tăng sản lượng của nhiều loại cây trồng, rau, hoa quả và thậm chí
cả cỏ [52]. Ngoài việc lợi dụng các loài côn trùng tự nhiên để thụ phấn cho cây
trồng, con người còn biết thuần hóa, sử dụng các loài côn trùng: ong mật tham gia
vào công việc này. Ở Trung Quốc, 70% sản lượng táo của Trung Quốc phụ thuộc
quan trọng trong việc điều chỉnh sâu bệnh trong hệ sinh thái tự nhiên bằng cách tấn
công và ăn thịt chúng.
Các giá trị khác của ĐDSH côn trùng: cung cấp thực phẩm, dược liệu…
Fenemore trong tác phẩm “Plant Pests and Their Control” cho rằng, loài
người đã biết quản lý, sử dụng các loài côn trùng đặc biệt như ong mật cách đây
hàng trăm năm [41]. Trong lịch sử, sự quan tâm chính trong quản lý sử dụng ong
mật là sản xuất mật ong (được sử dụng như một chất làm ngọt trước khi có đường),
và ở một mức độ thấp hơn là việc sử dụng sáp ong và các sản phẩm nhỏ khác.
Ngoài ra mật ong kết hợp với sáp ong được sử dụng trong y học dân gian truyền
thống [48]. Lụa tơ tằm tự nhiên từ kén của bướm tằm là mặt hàng ưa chuộng cho
nhiều lứa tuổi khác nhau, biểu tượng của sự giàu có. Việc xuất khẩu tơ lụa hàng
năm ở Trung Quốc là 50.000 tấn, tạo ra 3tỷ USD thu nhập [60].
Trong quá khứ, nhiều sản phẩm khác có nguồn gốc từ côn trùng là mặt hàng
quan trọng trong nền kinh tế nội địa và thương mại quốc tế như: sen lắc, sáp trắng,
phẩm son.. Ngoài ra nhiều loài côn trùng hoặc các sản phẩm của chúng đã được sử
13
dụng trong ngành y học cổ truyền của Trung Quốc: gián, dế cơm, bọ hung…[65].
Một giá trị khác dễ bị bỏ qua, đó là sử dụng côn trùng làm thực phẩm như một món
ăn ngon và bổ dưỡng ở nhiều nước trên thế giới: Mexico, Trung Quốc [53]. Côn
trùng là thực phẩm giàu Protein và là một thực đơn tốt cho người ăn kiêng [41].
Theo You có hơn 600 loài côn trùng có thể sử dụng làm thực phẩm tại Trung Quốc
[66].
Những ảnh hưởng bất lợi của côn trùng đối với con người: Côn trùng có
thể mang lại nhiều giá trị to lớn cho con người, nhưng đồng thời cũng là nhân tố
gây ra những thiệt hại nhất định khi chúng cạnh tranh với các nguồn tài nguyên của
con người. Tổ chức Nông lương (FAO) đã ước tính rằng khoảng 14% của tất cả
thực phẩm được trồng trên thế giới bị mất là do côn trùng hại, 10% là do bệnh thực
- Sự xuất hiện của nhiều loài ngoại lai xâm hại các loài bản địa
Theo SiDa [12], nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH trong đó có ĐDSH côn
trùng ở các nước đang phát triển chủ yếu là do sự nghèo đói và gia tăng dân số.
1.2.4. Nghiên cứu về các giải pháp bảo tồn ĐDSH côn trùng trên thế giới
Bảo tồn ĐDSH là một vấn đề phức tạp và mang tính hệ thống. Mặc dù côn
trùng phong phú về thành phần loài với số lượng cá thể lớn, nhưng chỉ là một trong
nhiều nhóm khác nhau của sinh vật sống trên trái đất này hay nói cách khác: ở bất
kỳ một hệ sinh thái nào, côn trùng cũng có mối liên hệ với các loài sinh vật khác.
Do đó không thể bảo vệ các loài côn trùng như là một nhóm độc lập mà phải lấy
toàn bộ hệ sinh thái là mục tiêu bảo tồn.
Nhận xét: Ngày nay nghiên cứu về côn trùng nói chung và côn trùng rừng
nói riêng đã có những bước tiến vượt bậc. Hiện tại trên thế giới có hơn 135 tạp chí
chuyên khảo về côn trùng với đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, không chỉ riêng
các nhà côn trùng học, mà cả các nhà toán học, vật lý học, hóa học, công nghệ…
cũng đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của côn trùng [15]. Với sự phát
triển mạnh mẽ và rộng lớn trong nghiên cứu côn trùng hiện nay, xu thế nghiên cứu
về côn trùng trên thế giới đã chuyển theo những hướng chuyên môn hẹp từng bộ,
giống và thậm chí từng loài. Những nghiên cứu liên tục được thể hiện ở các tạp chí
côn trùng, báo cáo hội nghị côn trùng từng nước, từng khu vực trên thế giới, các
15
trang web. Những kết quả nghiên cứu của họ đã thực sự góp phần đáng kể vào sự
phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia và toàn nhân loại.
1.3. Những nghiên cứu về ĐDSH côn trùng ở trong nước
1.3.1. Nghiên cứu về phân loại, thành phần loài côn trùng
Nghiên cứu về phân loại côn trùng đầu tiên ở Việt Nam được biết đến là
công trình nghiên cứu của Đoàn nghiên cứu tổng hợp của Pháp mang tên Mission
Pavie đã tiến hành khảo sát ở Đông Dương trong 16 năm (1879 – 1895) xác định
chuyên đề “Điều tra côn trùng rừng tự nhiên trên phạm vi 5 vùng (Bao gồm các
vùng: Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông
Nam Bộ)”. Kết quả là đã điều tra phát hiện được một số loài côn trùng rừng tự
nhiên, phân bố của chúng theo các sinh cảnh rừng, đánh giá vai trò của các loài có
ích và có hại đồng thời đề xuất các biện pháp bảo vệ. Tuy nhiên, kết quả điều tra
mới chỉ dừng ở mức độ điều tra phát hiện thành phần côn trùng, và số lượng côn
trùng phát hiện được còn tương đối ít (756 loài).
Ngoài các báo cáo điều tra cơ bản côn trùng rừng trong các chu kỳ theo dõi
diễn biến tài nguyên côn trùng rừng giai đoạn từ 1991 – 2005, còn có nhiều công
trình nghiên cứu về côn trùng từ các dự án, chương trình của các tổ chức nghiên cứu
trong và ngoài nước tiến hành ở Việt Nam. Các nghiên cứu về côn trùng trong đó có
thể nói đến là công trình nghiên cứu về nhóm bướm ngày (Rhopalocera,
Lepidoptera) ở Việt Nam của Alexander L. Monastyrskii; hướng dẫn tìm hiểu về
các loài bướm Vườn Quốc gia Tam Đảo và các giá trị bảo tồn của chúng của Đặng
Thị Đáp; các kết quả điều tra nghiên cứu về côn trùng của Viện Điều tra Quy hoạch
rừng do các tác giả Nguyễn Văn Bích, Đặng Ngọc Anh, Nguyễn Trung Tín, Hà Văn
Hoạch thực hiện; các kết quả điều tra nghiên cứu của Đỗ Mạnh Cương và cộng sự
về Chuồn chuồn (Odonata); các kết quả điều tra nghiên cứu của Viện Sinh thái và
Tài nguyên sinh vật về nhóm bướm ngày, cánh cứng, cánh nửa, bọ que, kiến…
Nhìn chung các nhóm côn trùng gây hại ở một số cây trồng chủ yếu được
nghiên cứu tương đối kỹ về tập tính, sinh thái… ngoài ra là một số nhóm côn trùng
như nhóm bướm ngày, chuồn chuồn, cánh cứng hại gỗ, bọ xít… cũng đã được quan
tâm nghiên cứu về tập tính sinh học và sinh thái của các loài này, còn lại phần lớn
các bộ côn trùng khác mới chỉ dừng ở việc điều tra phát hiện và chưa được quan
tâm nghiên cứu.
1.3.2. Nghiên cứu giá trị của ĐDSH côn trùng ở Việt Nam
Các nghiên cứu về giá trị ĐDSH côn trùng ở Việt Nam còn ít, chủ yếu tập
trung vào việc tìm hiểu thành phần, lợi dụng các loài côn trùng trong việc tiêu diệt
đã chỉ ra rằng ong mắt đỏ Trichogramma spp, bọ xít bắt mồi..là những thiên địch có
18
vai trò quan trọng trong hạn chế sự phát triển của sâu xanh Helicoverpa armigera,
Anomis flava…hại bông
Ngoài ra còn có các nghiên cứu về vai trò của thiên địch trong hạn chế sự
phát triển của sâu hại đậu tương, rau họ hoa thập tự, đậu ăn quả, cây ăn quả có
múi…
Nguyễn Thế Nhã trong cuốn “Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích” đã đề
cập đến vai trò, ý nghĩa của ĐDSH côn trùng trong thực phẩm, dược liệu, nguyên
liệu, giải trí, làm cảnh, phòng trừ sâu hại… Tác giả cũng đã trình bày về đặc tính
sinh vật học, sinh thái học, cách sử dụng, gây nuôi một số loài đại diện trong các
nhóm trên, đặc biệt là các loài côn trùng sử dụng trong phòng trừ sâu hại và thực
phẩm.
Đỗ Tất Lợi trong cuốn “Từ Điển cây thuốc Việt Nam” đã trình bày cách chế
biến, sử dụng loài dế cơm và ong đen trong điều trị bệnh.
1.3.3. Nghiên cứu các nguyên nhân gây suy giảm ĐDSH côn trùng
Côn trùng cùng với các nhóm sinh vật khác: chim, thú, bò sát, ếch nhái, thực
vật....cùng tồn tại trong một hệ sinh thái và có liên quan mật thiết với nhau. Việc
nghiên cứu các nguyên nhân gây suy giảm ĐDSH trong các hệ sinh thái đã được
thực hiện nhiều và đó cũng là cơ sở để đánh giá các nguyên nhân gây suy giảm
ĐDSH côn trùng. Kết quả của Chương trình bảo tồn ĐDSH Trung Trường Sơn đã
chỉ ra 3 nhóm nguy cơ đe dọa và thách thức tài nguyên ĐDSH đó là:
Sự suy giảm nguồn tài nguyên nhanh chóng;
Thể chế, chính sách và thực thi pháp luật còn phức tạp với nhiệm vụ chưa rõ
ràng, chồng chéo của các cơ quan quản lý;
Thiếu sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên; [6]
Trong “Đề xuất Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn tại Việt Nam 2003
Nhận xét chung: Các nghiên cứu về ĐDSH đã được thực hiện ở một số
VQG, KBTTN...tuy nhiên chủ yếu mới dừng lại ở việc điều tra, phát hiện thành
phần loài. Các nghiên cứu về đặc điểm phân bố, giá trị ĐDSH côn trùng và các giải
pháp bảo tồn còn ít được chú ý. Tại KBTTN Pù Huống, chưa có một nghiên cứu
nào về côn trùng.
20
Chương 2
MỤC TIÊU, GIỚI HẠN
NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu
Đánh giá được mức độ phong phú và đa dạng tài nguyên côn trùng tại
KBTTN Pù Huống về thành phần, phân bố, sinh thái và ý nghĩa của chúng;
Đưa ra được các biện pháp khoa học để quản lý, bảo tồn và phát triển tài
nguyên côn trùng trong Khu bảo tồn;
Cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ các nghiên cứu tiếp theo tại Khu Bảo tồn;
2.2. Giới hạn nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành điều tra, nghiên cứu côn trùng tại
KBTTN Pù Huống trong thời gian từ tháng 06 năm 2008 đến tháng 06 năm 2010.
Tiến hành 4 đợt điều tra thực địa như sau:
Năm 2008 điều tra 2 đợt:
Đợt 1: Từ ngày 01/07/2008 đến ngày 15/08/2008
Đợt 2: Từ ngày 15/11/2008 đến ngày 25/12/2008
Năm 2009 điều tra 1 đợt từ ngày 03/02/2009 đến ngày 30/02/2009
Năm 2010 điều tra 1 đợt: từ ngày 01/06/2010 đến ngày 15/06/2010
Địa điểm nghiên cứu: Do điều kiện về thời gian cũng như nhân lực, không
thể điều tra hết được các khu vực trong KBTTN Pù Huống nên chúng tôi đã chọn 5
khu vực nghiên cứu đại diện cho hầu hết các sinh cảnh, trạng thái rừng trong Khu
4. Tìm hiểu vai trò, nguồn lợi từ côn trùng cũng như những tác động của tự
nhiên và con người tới nguồn tài nguyên này;
5. Xác định hiện trạng các loài côn trùng quý hiếm, có giá trị kinh tế, các loài
có ích, có hại và các loài côn trùng có khả năng chỉ thị về sự biến động môi trường
rừng tự nhiên;
6. Đề xuất một số biện pháp khoa học để bảo tồn, phát triển bền vững tính đa
dạng khu hệ côn trùng KBTTN Pù Huống, đặc biệt là các loài côn trùng có ích, có
giá trị kinh tế, khoa học, có giá trị bảo tồn nguồn gen;
22
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu thập, đánh giá thông tin và kế thừa tài liệu đã có
- Trước khi điều tra thực địa và phục vụ đánh giá kết quả thu được, chúng tôi
cần thu thập các thông tin: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nhất là tình hình khí
hậu, đất đai, tình hình sản xuất kinh doanh, quy hoạch sử dụng đất, thu nhập của
người dân; hiện trạng tài nguyên rừng; những tác động tới tài nguyên rừng, tài
nguyên côn trùng; kinh nghiệm sử dụng côn trùng trong việc chế biến thức ăn, thực
phẩm, làm thuốc tại địa phương... Để thu thập được các thông tin này chúng tôi sử
dụng phương pháp PRA (Porticipatory Rural Apraisal _ Đánh giá nông thôn có sự
tham gia) và phương pháp RRA (Rapid Rural Apraisal) - Đánh giá nhanh nông
thôn) để tiếp cận, khuyến khích, lôi cuốn người dân cùng tham gia chia sẻ, thảo
luận. Sau đó phân tích, tổng hợp kiến thức của họ để lập kế hoạch và thực hịên.
Các công cụ PRA được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là: vẽ
sơ đồ phác họa, khảo sát tuyến, thảo luận nhóm nông dân.
Công cụ RRA được sử dụng: Phỏng vấn, quan sát và khảo sát hiện trường.
Phương pháp phỏng vấn: Để thu được kết quả tốt, khi tiến hành phỏng vấn
phải luôn luôn tạo ra mối quan hệ tự nhiên, cởi mở thân thiện với người được phỏng
vấn; không cứng nhắc chỉ dựa vào nội dung chuẩn bị sẵn mà tùy theo tình hình thực
khu vực; Danh lục các loài thực, động vật tại KBTTN Pù Huống, Diễn biến sử dụng
đất qua một số năm...Các tài liệu này do KBTTN Pù Huống cung cấp.
2.4.2. Điều tra thực địa
2.4.2.1. Thiết lập các tuyến khảo sát và các điểm điều tra
Qua nghiên cứu tài liệu, cùng với sơ thám điều kiện địa hình, đất đai và thảm
thực vật, chúng tôi xác định được 5 dạng sinh cảnh chủ yếu tại KBTTN Pù Huống
sau:
- Rừng thứ sinh xa suối: Bao gồm rừng bị khai thác đang phục hồi gồm nhiều
sinh cảnh, trạng thái rừng cách xa sông suối: IIIA3, IIIA2, IIIA1, IIB, IIA dạng sinh
cảnh này gặp ở hầu hết các khu vực nghiên cứu.
- Rừng thứ sinh ven sông, suối: Bao gồm rừng bị khai thác đang phục hồi, có
nhiều sinh cảnh, trạng thái rừng (IIIA3, IIIA2, IIIA1, IIB, IIA) ở xung quanh khu
24
vực sông suối, sinh cảnh ẩm ướt. Sinh cảnh này gặp nhiều ở khu vực: suối Nậm Cô,
suối Huổi Nây, Suối Bò, suối Bản Tang.
- Sinh cảnh khu dân cư, đất trồng nông nghiệp: Bao gồm các bản ở vũng lõi
và vùng đệm, gồm nương rẫy, ruộng vườn xung quanh KBTTN, gặp chủ yếu ở khu
vực Khe Khài (bao gồm cả Khe Khài và bản Na Kho)
- Sinh cảnh rừng hỗn giao gỗ, tre nứa: Gặp ở khu vực suối Nậm Cô và khu
vực Suối Bò. Đặc điểm của sinh cảnh này là rừng cây gỗ nhỏ mọc xen kẽ với rừng
tre nứa
- Sinh cảnh rừng giang nứa thuần loài: Gặp ở khu vực suối bản Tang và khu
vực Suối Bò.
Ngoài 5 dạng sinh cảnh chính ở trên, chúng tôi còn tiến hành điều tra trên 2
dạng sinh cảnh nữa là:
+ Đất trống đồi núi trọc có cây bụi - Ký hiệu: Ib
+ Đất trống đồi núi trọc có cây bụi xen cây gỗ (các cây gỗ tái sinh có độ tàn