CÁC NHÂN tố rủi RO ẢNH HƯỞNG đến GIÁ CHỨNG KHOÁN - Pdf 44

Phân tích các yếu tố tác động đến:
6. thị trường Chứng khoán tổng hợp(Hợp đồng hoán đổi; Các chứng khoán
cơ bản được sử dụng để hình thành chứng khoán tổng hợp;Chứng khoán lựa
chọn và giao sau tổng hợp)
Các nhóm đưa ra các yếu tố tác động đến các thị trường (gồm các yếu tố cơ
bản: lãi suất, lạm phát, tình hình kinh tế,tâm lý, thời tiết…) qua đó đưa ra
các ý kiến xem trong thời điểm hiện nay nên đầu tư vào thị trường hay
không? đầu tư vào loại hàng hóa nào trong thị trường? nếu là nhà đầu tư và
có đủ vốn (tự đưa số vốn) thì sẽ đầu tư trong thị trường này thế nào

Bài làm
Đinh Thiện Hiếu
I.

CÁC NHÂN TỐ RỦI RO ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CHỨNG

KHOÁN
1.

Rủi ro về kinh tế:

Sự phát triển của nền kinh tế thường được đánh giá thông qua tốc độ tăng trưởng GDP, sự
biến động về lạm phát, lãi suất hay tỷ giá hối đoái,... Các yếu tố rủi ro mang tính hệ thống
này tác động đến mọi chủ thể tham gia vào nền kinh tế, đặc biệt gây ảnh hưởng không
nhỏ đến hoạt động của TTCK cũng như tình hình kinh doanh của các tổ chức tài chính,
quỹ đầu tư và công ty chứng khoán.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế ổn định và tăng trưởng làm gia
tăng nhu cầu đầu tư của xã hội và có thể sẽ làm gia tăng giá chứng khoán
trên thị trường. Ngược lại, trong nền kinh tế bất ổn định hoặc chậm phát
triển thì giá chứng khoán có thể giảm do nhu cầu đầu tư thấp và rủi ro khi

Hoạt động của các chủ thể trên TTCK Việt Nam, trong đó có Công ty Cổ phần Chứng
khoán Chợ Lớn chịu sự chi phối trực tiếp bởi Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán, Luật
đầu tư, Luật thuế Thu nhập cá nhân, và các luật có liên quan. Tồn tại những rủi ro do các
văn bản luật hoặc hướng dẫn chưa rõ ràng hoặc không đồng bộ hoặc sự thay đổi luật.
3.

Rủi ro ngành


Ngành chứng khoán là ngành mới đối với Việt Nam, các hoạt động của ngành này còn
chịu ảnh hưởng nhiều bởi sự non trẻ, kinh nghiệm quản lý, sự tác động bởi các ngành
trong nền kinh tế nói chung. Là cầu nối về vốn giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư, sự phát
triển của các doanh nghiệp và sự quan tâm của các nhà đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối
với ngành chứng khoán.
4.

Rủi ro cạnh tranh

Cạnh tranh là quy luật tất yếu trong cơ chế thị trường. Nguy cơ rủi ro cạnh tranh trong sự
phát triển ngày càng mạnh mẽ của TTCK Việt Nam và trong lộ trình mở cửa theo cam kết
WTO đặt các công ty chứng khoán luôn trong một áp lực lớn. CLSC cũng không nằm
ngoài áp lực này.
Tính đến tháng 5/2009, TTCK Việt Nam đã có tổng cộng khoảng 350 công ty cổ phần và
công ty quản lý quỹ niêm yết trên Sở GDCK TP.HCM và TTGDCK Hà Nội. Tuy nhiên,
thị trường hiện có đến 105 công ty chứng khoán đã được cấp phép và đã đi vào hoạt động
khoảng gần 100 công ty. Do vậy, cuộc cạnh tranh giành thị phần đang diễn ra khá gay
gắt. Trong đó:
- Cuộc chiến giảm phí môi giới, giảm phí tư vấn để lôi kéo khách hàng có ảnh hưởng
không nhỏ đến doanh thu của các công ty chứng khoán, đặc biệt là các công ty mới gia
nhập ngành.

Các rủi ro khác bao gồm cháy nổ, ngập nước, động đất, trộm cắp có thể gây mất mát, hư
hỏng tài sản hoặc hệ thống giao dịch hay văn phòng công ty và làm gián đoạn các giao
dịch.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu
- Sự tiến triển của nền kinh tế quốc dân, tình hình kinh tế khu vực và thế giới: Thông
thường, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển (và có xu hướng giảm
khi nền kinh tế yếu đi). Bởi khi đó, khả năng về kinh doanh có triển vọng tốt đẹp, nguồn
lực tài chính tăng lên, nhu cầu cho đầu tư lớn hơn nhiều so với nhu cầu tích luỹ và như
vậy, nhiều người sẽ đầu tư vào cổ phiếu.
- Lạm phát: Lạm phát tăng thường là dấu hiệu cho thấy, sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ
không bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả năng thu lợi nhuận của DN bị hạ thấp khiến giá
cổ phiếu giảm. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu sẽ tăng giá và
ngược lại.
- Tình hình biến động của lãi suất: Lãi suất tăng làm tăng chi phí vay đối với DN. Chi phí
này được chuyển cho các cổ đông vì nó sẽ hạ thấp lợi nhuận mà DN dùng để thanh toán
cổ tức. Cùng lúc đó, cổ tức hiện có từ cổ phiếu thường sẽ tỏ ra không mấy cạnh tranh đối
với nhà đầu tư tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt hơn ở bất


cứ nơi nào có lãi suất cao. Hơn nữa, lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển vọng phát triển
của DN vì nó khuyến khích DN giữ lại tiền nhàn rỗi, hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó mở
rộng sản xuất, kinh doanh. Chính vì vậy, lãi suất tăng sẽ dẫn đến giá cổ phiếu giảm.
Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho DN vì chi phí vay giảm và giá cổ phiếu
thường tăng lên.
Tuy nhiên, sự dao động của lãi suất không phải luôn được tiếp theo bởi sự phản ứng
tương đương và trái ngược của giá cổ phiếu. Chỉ khi nào lãi suất phản ánh xu hướng chủ
đạo trong lạm phát, nó mới trở thành thước đo hiệu quả sự dao động của TTCK. Lãi suất
có xu hướng giảm khi lạm phát giảm và lạm phát giảm khiến giá cổ phiếu tăng cao hơn.
Ngược lại, lạm phát tăng cùng với lãi suất, giá cổ phiếu sẽ giảm. Nhưng nếu lạm phát

Nhiệm vụ của Hiếu: phân tích các yếu tố ảnh hưởng các chứng khoán cơ bản
được sử dụng để hình thành chứng khoán tổng hợp
Chứng khoán tổng hợp gồm có cổ phiếu, trái phiểu không chịu rủi ro, các
chứng khoán được quyền chuộc lại và các chứng khoán tự chọn trả
1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu
Giá của cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, cả những yếu tố vĩ mô và vi mô. Do
đó, khi đầu tư cổ phiếu, nhà đầu tư cần quan tâm tìm hiểu và phân tích tác động của các
yếu tố tới cổ phiếu mình đang đầu tư, để đưa ra các quyết định đầu tư thích hợp. Sau đây
là một số yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu mà nhà đầu tư cần biết.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu:
- Sự tiến triển của nền kinh tế quốc dân, tình hình kinh tế khu vực và thế giới: Thông
thường, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển (và có xu hướng giảm
khi nền kinh tế yếu đi). Bởi khi đó, khả năng về kinh doanh có triển vọng tốt đẹp, nguồn
lực tài chính tăng lên, nhu cầu cho đầu tư lớn hơn nhiều so với nhu cầu tích luỹ và như
vậy, nhiều người sẽ đầu tư vào cổ phiếu.
- Lạm phát: Lạm phát tăng thường là dấu hiệu cho thấy, sự tăng trưởng của nền kinh tế
sẽ không bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả năng thu lợi nhuận của DN bị hạ thấp khiến
giá cổ phiếu giảm. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu sẽ tăng giá và
ngược lại.
- Tình hình biến động của lãi suất: Lãi suất tăng làm tăng chi phí vay đối với DN. Chi
phí này được chuyển cho các cổ đông vì nó sẽ hạ thấp lợi nhuận mà DN dùng để thanh
toán cổ tức. Cùng lúc đó, cổ tức hiện có từ cổ phiếu thường sẽ tỏ ra không mấy cạnh
tranh đối với nhà đầu tư tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt
hơn ở bất cứ nơi nào có lãi suất cao. Hơn nữa, lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển vọng
phát triển của DN vì nó khuyến khích DN giữ lại tiền nhàn rỗi, hơn là liều lĩnh dùng số
tiền đó mở rộng sản xuất, kinh doanh. Chính vì vậy, lãi suất tăng sẽ dẫn đến giá cổ phiếu
giảm. Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho DN vì chi phí vay giảm và giá cổ phiếu
thường tăng lên.
Tuy nhiên, sự dao động của lãi suất không phải luôn được tiếp theo bởi sự phản ứng
tương đương và trái ngược của giá cổ phiếu. Chỉ khi nào lãi suất phản ánh xu hướng chủ

- Lãi suất tăng - giá cổ phiếu ổn định hoặc tăng: xảy ra khi giá hàng hóa bán ra của các công ty
có thể tăng, dẫn đến thu nhập của công ty tăng lên cùng với lạm phát do chi phí đầu vào tăng.
Do vậy, giá cổ phiếu trong trường hợp này có thể giữ ổn định vì lãi suất chiết khấu tăng và dòng
thu nhập tăng bù đắp được cho nhau.
- Lãi suất tăng - giá cổ phiếu giảm: xảy ra khi các dòng thu nhập tương lai của công ty tăng
không nhiều hoặc thậm chí giảm, vì trước đó công ty phải huy động vốn với lãi suất cao, đến khi
hàng hóa được sản xuất và bán ra thì lại gặp phải sự cạnh tranh gay gắt, trong khi sức mua lại
có hạn, thu nhập của công ty giảm sút, công ty không có khả năng tăng giá hàng hóa để bù lại
mức lạm phát. Khi lãi suất giảm thì cũng có thể xảy ra các khả năng tương tự.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu thường là quan hệ ngược
chiều, nhất là trong giai đoạn ngắn hạn, nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng.
Nếu chỉ xét trong mối tương quan giữa thị trường cổ phiếu và trái phiếu thì trên thực tế, thông
thường quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là mối quan hệ ngược chiều. Điều này có thể lý giải
như sau: khi dự đoán lãi suất thị trường tăng, tức là giá trái phiếu sẽ giảm, thì người đầu tư có xu
hướng chuyển từ cổ phiếu sang mua trái phiếu và làm cho giá cổ phiếu giảm.

- Chính sách thuế của Nhà nước đối với thu nhập từ chứng khoán: Nếu khoản thuế đánh
vào thu nhập từ chứng khoán cao (hoặc tăng lên) sẽ làm cho số người đầu tư giảm xuống,
từ đó làm cho giá chứng khoán giảm.


- Những biến động về chính trị, xã hội, quân sự: Đây là những yếu tố phi kinh tế
nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá cổ phiếu trên thị trường. Nếu những yếu tố này
có khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình hình kinh doanh của DN thì giá cổ phiếu của DN
sẽ tăng lên.
- Những yếu tố nội tại gắn liền với nhà phát hành biến động: yếu tố về kỹ thuật sản
xuất: trang thiết bị máy móc, công nghệ, tiềm năng nghiên cứu phát triển...; yếu tố về thị
trường tiêu thụ: khả năng về cạnh tranh và mở rộng thị trường...; yếu tố về con người:
chất lượng ban lãnh đạo, trình độ nghề nghiệp của công nhân; tình trạng tài chính của
DN...

với nhà đầu tư tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt hơn ở bất
cứ nơi nào có lãi suất cao. Hơn nữa, lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển vọng phát triển
của DN vì nó khuyến khích DN giữ lại tiền nhàn rỗi, hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó mở
rộng sản xuất, kinh doanh. Chính vì vậy, lãi suất tăng sẽ dẫn đến giá cổ phiếu giảm.
Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho DN vì chi phí vay giảm và giá cổ phiếu
thường tăng lên.
Tuy nhiên, sự dao động của lãi suất không phải luôn được tiếp theo bởi sự phản ứng
tương đương và trái ngược của giá cổ phiếu. Chỉ khi nào lãi suất phản ánh xu hướng chủ
đạo trong lạm phát, nó mới trở thành thước đo hiệu quả sự dao động của TTCK. Lãi suất
có xu hướng giảm khi lạm phát giảm và lạm phát giảm khiến giá cổ phiếu tăng cao hơn.
Ngược lại, lạm phát tăng cùng với lãi suất, giá cổ phiếu sẽ giảm. Nhưng nếu lạm phát
không phải là một vấn đề nghiêm trọng và lãi suất tăng, đầu tư vào TTCK thường mang
lại nhiều lãi. Bởi vì trong trường hợp này, lãi suất tăng là do nền kinh tế tăng trưởng.
- Chính sách thuế của Nhà nước đối với thu nhập từ chứng khoán: Nếu khoản thuế đánh
vào thu nhập từ chứng khoán cao (hoặc tăng lên) sẽ làm cho số người đầu tư giảm xuống,
từ đó làm cho giá chứng khoán giảm.
- Những biến động về chính trị, xã hội, quân sự: Đây là những yếu tố phi kinh tế nhưng
cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá cổ phiếu trên thị trường. Nếu những yếu tố này có
khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình hình kinh doanh của DN thì giá cổ phiếu của DN sẽ
tăng lên.
- Những yếu tố nội tại gắn liền với nhà phát hành biến động: yếu tố về kỹ thuật sản xuất:
trang thiết bị máy móc, công nghệ, tiềm năng nghiên cứu phát triển...; yếu tố về thị
trường tiêu thụ: khả năng về cạnh tranh và mở rộng thị trường...; yếu tố về con người:
chất lượng ban lãnh đạo, trình độ nghề nghiệp của công nhân; tình trạng tài chính của
DN...
- Tâm lý nhà đầu tư: Theo thuyết lòng tin về giá cổ phiếu, yếu tố căn bản trong biến động
của giá cổ phiếu là sự tăng hay giảm lòng tin của nhà đầu tư đối với tương lai của giá cổ
phiếu, của lợi nhuận DN và của lợi tức cổ phần. Vào bất cứ thời điểm nào, trên thị trường
cũng xuất hiện 2 nhóm người: nhóm người lạc quan và nhóm người bi quan. Khi số tiền
do người lạc quan đầu tư chiếm nhiều hơn, thị trường sẽ tăng giá và khi số tiền bán ra của

gian đáo hạn bình quân, nếu D (Duration) càng lớn thì rủi ro lãi suất của trái
phiếu càng lớn. Biểu hiện cụ thể như sau
Thời gian đáo hạn càng dài thì ảnh hưởng của lãi suất càng lớn
Lãi suất cuống phiếu ( lãi suất danh lợi) càng thấp thì ảnh hưởng của lãi
suất càng lớn
- Ít tác động đến trái phiếu là lãi suất thả nổi
3. Rủi ro về lạm phát
- Lạm phát làm xói mòn sức mua của đồng tiền, gây tác động lên lãi suất
chiết khấu kỳ vọng. Lạm phát tăng làm giá trái phiếu xu hướng giảm
- Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
- Vì mọi người đều kỳ vọng lãi suất danh nghĩa có xu hướng biến động tỷ
giá lạm phát
- Tác động tương tự như lãi suất thị trường
4. Rủi ro thanh khoản
- Lả rủi ro không bán lại được chứng khoán, hoặc bán lại với chi phí cao
- Liên quan đến mức độ hoạt động của thị trường trái phiếu thứ cấp
- Tác động đến nhà đầu tư tổ chức mạnh hơn đến nhà đầu tư cá nhân
( vốn có xu hướng nắm giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn)
5. Rủi ro về tỷ giá hối đoái
- Nhà đầu tư dùng đồng tiền này để đầu tư vào phái phiếu phát hành bằng
đồng tiền khác
- Rủi ro hối đoái xảy ra khi tỷ giá hối đoái giữa hai thời điểm đầu tư và rút
vốn là khác nhau, làm giảm giá trị của vốn đầu tư ban đầu


-

-

Về mặt lý thuyết, tỷ giá sẽ vận động theo hướng bù chênh lệch lãi suất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status