Nghiên cứu nồng độ Lipoprotein-Associated Phospholipase A2 và kiểu hình của Lipoprotein tỷ trọng thấp ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp (FULL TEXT) - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


TRẦN THÀNH VINH

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ
LIPOPROTEIN-ASSOCIATED PHOSPHOLIPASE A2 VÀ
KIỂU HÌNH CỦA LIPOPROTEIN TỶ TRỌNG THẤP
Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN THÀNH VINH

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ
LIPOPROTEIN-ASSOCIATED PHOSPHOLIPASE A2 VÀ
KIỂU HÌNH CỦA LIPOPROTEIN TỶ TRỌNG THẤP
Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP


Hội chứng mạch vành cấp ........................................................................... 12

1.3.

Các chỉ dấu mới giúp tiên lượng nguy cơ BĐMV ....................................... 13

1.4.

Lipoprotein phospholipase A2 ..................................................................... 24

1.5.

Kiểu hình LDL ............................................................................................ 29

1.6.

Tình hình nghiên cứu Lp-LPA2 và kiểu hình LDL ....................................... 36

CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 41

2.1.

Đối tượng nghiên cứu.................................................................................. 41

2.2.

Phương pháp nghiên cứu ........................................................................43

2.3.


Liên quan hoạt độ Lp-PLA2 và kiểu hình LDL với HCMVC và YTNC ....... 63

3.4.

Vai trò hoạt độ Lp-PLA2 và kiểu hình LDL trong tiên đoán nguy cơ........... 74


CHƢƠNG 4: BÀN LUẬN ................................................................................... 92

4.1.

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu .................................................................. 92

4.2.

Đặc điểm của hoạt độ Lp-PLA2 và kiểu hình LDL ...................................... 96

4.3.

Liên quan hoạt độ Lp-PLA2 và kiểu hình LDL với HVMVC và YTNC ...... 98

4.4.

Vai trò hoạt độ Lp-PLA2 và kiểu hình LDL trong tiên đoán nguy cơ......... 111

KẾT LUẬN ........................................................................................................ 125
KIẾN NGHỊ ....................................................................................................... 126
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


:

Cộng sự

DTDĐC

:

Diện tích dưới đường cong

ĐMV

:

Động mạch vành

ĐTĐ

:

Đái tháo đường

ĐTNKOĐ

:

Đau thắt ngực không ổn định.

HCMVC

THA

:

Tăng huyết áp

TMCT

:

Thiếu máu cơ tim.

VE

:

Vòng eo.

VH

:

Vòng hông

XVĐM

:

Xơ vữa động mạch


Kết quả độ tái lập .............................................................................. 49

Bảng

2.4.

Phân loại Killip ................................................................................. 53

Bảng 3.5.

Tần suất các YTNC ở đối tượng HCMVC ................................. 59

Bảng 3.6.

So sánh hoạt độ Lp-PLA2 giữa các nhóm nghiên cứu................. 63

Bảng 3.7.

Hoạt độ Lp-PLA2 theo thể lâm sàng .......................................... 64

Bảng 3.8.

Hoạt độ Lp-PLA2 theo Killip ở đối tượng NMCT ...................... 64

Bảng 3.9.

Liên hệ giữa nồng độ Lp-PLA2 với các YTNC .......................... 65

Bảng 3.10.


Bảng 3.18.

So sánh tần suất một năm trong tiên đoán các sự cố BĐMV ...... 71

Bảng 3.19.

Sự cố BĐMV trong hai năm theo tam phân vị Lp-PLA2 ......... .. 71

Bảng 3.20.

So sánh tần suất các sự cố theo Lp-PLA2 thời điểm hai năm ..... 72

Bảng 3.21.

Hồi quy Cox đa biến theo Lp-PLA2 các sự cố trong hai năm ..... 73

Bảng 3.22.

Đường cong ROC: Lp-PLA2 tiên đoán các sự cố hai năm ......... 74

Bảng 3.23.

Điểm cắt tối ưu của Lp-PLA2 trong tiên đoán các sự cố tại
thời điểm hai năm ...................................................................... 74

Bảng 3.24.

Số tử vong trong năm đầu theo tam phân vị Lp-PLA2................ 75

Bảng 3.25.

Số liệu tử vong chung trong năm đầu theo kiểu hình LDL ......... 81

Bảng 3.33.

So sánh tần suất tử vong chung năm đầu theo kiểu hình LDL .... 82

Bảng 3.34.

Hồi quy Cox đa biến: kiểu hình LDL tử vong một năm ............. 82

Bảng 3.35

Các mô hình hồi quy Cox: kiểu hình LDL tử vong một năm ..... 83

Bảng 3.36.

Tử vong chung trong hai năm theo kiểu hình LDL .................... 83

Bảng 3.37.

So sánh tần suất sống sót trong hai năm theo kiểu hình LDL ..... 84

Bảng 3.38.

Sự cố một và hai năm theo nhóm phối hợp Lp-PLA2 và LDL .. 85

Bảng 3.39.

So sánh tần suất các sự cố BĐMV sau một năm ................................ 86


3.45.

So sánh tần suất sống sót cộng dồn sau hai năm ................................ 91

Bảng

4.46.

Tỷ lệ rối loạn lipid ở đối tượng BĐMV các nghiên cứu ..................... 95

Bảng

4.47.

Tỷ lệ các thể lâm sàng trong các nghiên cứu.................... .................. 96

Bảng

4.48.

Tính độc lập của hoạt độ Lp-PLA2 trong tiên đoán ........................ 116


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1.

Phân bố giới tính giữa hai nhóm nghiên cứu ................................... 59

Biểu đồ 3.2.


Biểu đồ 3.10.

Tần suất sống sót theo hoạt độ Lp-PLA2 trong hai năm………… .. 76

Biểu đồ 3.11.

Tần suất các sự cố theo kiểu hình LDL trong năm đầu................. . 77

Biểu đồ 3.12.

Tần suất các sự cố trong hai năm theo kiểu hình LDL…………... . 80

Biểu đồ 3.13.

Tần suất sống sót trong năm đầu theo kiểu hình LDL.................... . 81

Biểu đồ 3.14.

Tần suất sống sót trong hai năm theo kiểu hình LDL..................... . 84

Biểu đồ 3.15.

Tần suất cộng dồn các sự cố BĐMV trong một năm…………… ... 85

Biểu đồ 3.16.

Tần suất các sự cố BĐMV sau hai năm theo dõi............................ . 87

Biểu đồ 3.17.


Các kiểu phân tích Apo (a) ............................................................. 22

Hình 1.7.

Phân tử Lp-PLA2 ............................................................................ 24

Hình 1.8.

Vai trò của Lp-PLA2 trong hình thành xơ vữa động mạch .............. 25

Hình 1.9.

Quá trình gây xơ vữa của LDL ....................................................... 32

Hình 1.10.

Thành phần có gốc methyl trong LDL ............................................. 33

Hình 2.11.

Bộ thuốc thử Lp-PLA2 của hãng Diadexus và máy Advia 1800 ...... 47

Hình 2.12.

Bộ thuốc thử và hệ thống điện di LipoPrint .................................... 50

Hình 2.13.

Kết quả điện di dưới nhóm LDL..................................................... 52


triển mảng xơ vữa. Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các
yếu tố nguy cơ mới bên cạnh các yếu tố nguy cơ truyền thống giúp đánh giá quá trình
viêm thành mạch nhằm tăng khả năng tiên lượng nguy cơ của BĐMV, trong đó các yếu
tố nguy cơ mạnh có thể điều chỉnh được luôn được chú trọng. Thực tế cho thấy việc
kiểm soát tốt yếu tố nguy cơ, điều trị dự phòng đúng mức đã mang lại những kết quả
đáng khích lệ là tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch đã giảm đáng kể trong hơn một thập
niên qua ở các nước có nền y học tiên tiến [121], [212]. Do đó việc xác định vai trò và
kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ đang là mối quan tâm hàng đầu nhằm hạn chế tần suất
mắc bệnh trong chiến lược phòng ngừa nguyên phát và thứ phát BĐMV.
Lipoprotein-associated phospholipase A2 (Lp-PLA2) là enzym chủ yếu do đại
thực bào và monocyte tiết ra có vai trò thủy phân liên kết ester trong phân tử
phospholipid oxid hóa của low density lipoprotein (LDL) để sinh ra acid béo oxid hóa
và lyso-phosphatidylcholine. Cả hai sản phẩm của quá trình thủy phân này là các chất
gây viêm mạch và lysophosphatidylcholine còn có tác dụng gây rối loạn nội mô thành
mạch [49], [126]. Do đó, Lp-PLA2 có vai trò trực tiếp gây viêm thành mạch và rối loạn
nội mô. Khảo sát mô học còn cho thấy Lp-PLA2 tập trung rất nhiều ở sang thương xơ
vữa, đặc biệt có nồng độ rất cao trong các sang thương xơ vữa dọa vỡ. Mặt khác, LpPLA2 được xem là chỉ dấu của các sự cố BĐMV có nhiều ưu điểm hơn các yếu tố viêm
khác trong vai trò tiên lượng nguy cơ của bệnh này như chuyên biệt cho thành mạch, có
dao động sinh học ít và không phụ thuộc khối lượng mỡ cơ thể. Đã có nhiều nghiên cứu


2

trên thế giới cho thấy tăng Lp-PLA2 liên quan với tăng tần suất mắc BĐMV độc lập với
các yếu tố nguy cơ truyền thống và các chỉ dấu viêm khác như interleukin 6 (IL6),
fibrinogen và CRP được đo với kỹ thuật có độ nhạy cao (high sensitive C reactive
lipoprotein: hs-CRP), khảo sát Lp-PLA2 giúp tái phân tầng nguy cơ của BĐMV đặc biệt
ở nhóm có nguy cơ vừa và cao [41], [67], [111], [120]. Bên cạnh đó, việc điều trị làm
giảm nồng độ Lp-PLA2 với hy vọng giúp giảm nguy cơ các sự cố mạch vành ở đối
tượng có và chưa có BĐMV, có ý nghĩa trong phòng ngừa nguyên phát và thứ phát

kỹ thuật phân tích dưới nhóm LDL được ứng dụng rộng rãi trên lâm sàng hiện nay là kỹ
thuật điện di trên thạch có chênh lệch nồng độ (gradient gel).
Tại Việt Nam việc nghiên cứu các yếu tố nguy cơ của BĐMV đã được thực hiện,
như nghiên cứu rối loạn lipid, lipoprotein ở BĐMV [1], nghiên cứu hs-CRP trong hội
chứng mạch vành cấp (HCMVC) [6], [7], [9], [16]; nghiên cứu homocystein [13] và gần
đây myeloperoxydase cũng đã được nghiên cứu [17]... Các nghiên cứu nói chung chưa
nhiều, chưa có nghiên cứu nào về Lp-PLA2 và/hoặc kiểu hình LDL trên đối tượng
BĐMV tại Việt Nam, chúng tôi chọn đề tài:
“Nghiên cứu nồng độ lipoprotein-associated phospholipase A2 và kiểu hình
lipoprotein tỷ trọng thấp ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp người Việt Nam”.
Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu sau:
-

Trên bệnh nhân HCMVC, hoạt độ Lp-PLA2 có giá trị thế nào?. Mối liên
hệ hoạt độ Lp-PLA2 với các yếu tố nguy cơ BĐMV và hoạt độ đó có ý
nghĩa tiên lượng được biến cố chính cho bệnh nhân hay không?.

-

Ở bệnh nhân HCMVC, tỷ lệ kiểu hình LDL ra sao? Mối liên hệ kiểu hình
LDL với các yếu tố nguy cơ BĐMV, kiểu hình LDL nào ảnh hưởng đến
các biến cố chính?.

-

Mối liên quan hoạt độ Lp-PLA2 và kiểu hình LDL trong vai trò tiên lượng
biến cố ở BĐMV?.


4

vong và trong đó 7,4 triệu là do BĐMV. Một vấn đề đáng quan tâm là ba phần tư trường
hợp tử vong là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Tại Châu Âu, hằng năm có
đến 600 ngàn bệnh nhân tử vong do BĐMV và ước tính tỷ lệ mới mắc BĐMV trong dân
số từ 3,5% đến 4,1%. Tại Châu Á, các nước đang phát triển cũng chịu hậu quả nặng của
BĐMV. Ấn Độ có tỷ lệ BĐMV tăng từ 3,5% năm 1960 lên 9,5% vào năm 1990 [152].
Khoảng 50% gánh nặng bệnh tim mạch của thế giới xảy ra ở Châu Á Thái Bình Dương
(trích báo cáo của Phạm Nguyễn Vinh tại hội nghị khoa học tim mạch phía nam lần IXtháng 11/2009). Ở Việt Nam, tỷ lệ BĐMV không ngừng gia tăng cùng với quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Sự ảnh hưởng nếp sống phương Tây, sự thay đổi thói quen
trong ăn uống, trong sinh hoạt làm gia tăng tỷ lệ BĐMV. Bệnh động mạch vành không
những gây tử vong hàng đầu trong tất cả các nguyên nhân gây tử vong mà còn gây ra
tình trạng thương tật – mất sức lao động của những thành viên trong cộng đồng. Chi phí


6

điều trị và chăm sóc cho bệnh nhân BĐMV không hề nhỏ. Hoa Kỳ ước tính chi phí
hàng năm cho bệnh tim mạch và đột quỵ là hơn 316,6 tỷ đôla [121], so với bệnh lý ung
thư chỉ 88,7 tỷ mỗi năm. Do đó việc xác định các yếu tố nguy cơ (YTNC) nhằm can
thiệp sớm để hạn chế tối đa nguy cơ mắc bệnh là rất quan trọng đang được thế giới quan
tâm.
1.1.2. Nguyên nhân bệnh động mạch vành
Nhiều nguyên nhân bệnh lý tác động lên ĐMV gây thiếu máu cục bộ cơ tim,
trong đó 90% là do xơ vữa ĐMV với mảng xơ vữa làm bít hẹp lòng ĐMV, 10% còn
lại là do một số bệnh lý hiếm gặp không gây xơ vữa ĐMV như do viêm ĐMV, do
thuyên tắc ĐMV, dị dạng ĐMV, do bóc tách động mạch chủ, do bệnh van động mạch
chủ, do chấn thương ngực hay do co thắt mạch vành [140].
Xơ vữa động mạch vành xảy ra rất sớm, bắt đầu từ năm 20 tuổi. Bệnh thường
xuất hiện ở những động mạch có kích thước trung bình như ĐMV, động mạch cảnh,
động mạch thân nền, động mạch cột sống, động mạch chi dưới và ở những động mạch
lớn hơn như động mạch chủ, động mạch chậu và động mạch thận. Thành phần chính

mạch. Vỡ mảng xơ vữa cộng với tình trạng huyết khối đi kèm là nguyên nhân
thường gặp nhất của HCMVC.
 Mảng xơ vữa gây biến chứng: Sang thương tiến triển gây ra tắc mạch và/hoặc
xuất huyết trong mảng xơ vữa.
 Vỡ mảng xơ vữa và huyết khối trong lòng động mạch vành: Các mảng xơ vữa dễ
bị tổn thương thường bị vỡ. Hậu quả xấu nhất của hiện tượng này là tắc nghẽn
mạch vành do huyết khối. Hầu hết những mảng xơ vữa bị bít lại bởi một huyết
khối nhỏ và chỉ thỉnh thoảng là có tạo huyết khối lớn bên trong lòng mạch.


8

Thông thường bản thân mảng xơ vữa và sự tiến triển nhanh chóng của chúng
cũng không gây triệu chứng. Tuy nhiên sự xuất huyết vào bên trong lòng mạch (vỡ
mảng xơ vữa) tạo thành huyết khối và/hoặc có sự co mạch gây tắc nghẽn dòng máu một
cách đột ngột dẫn đến HCMVC [2].
1.1.4. Các chỉ số giúp tiên lƣợng nguy cơ
Thực tế cho thấy có nhiều yếu tố nguy cơ của BĐMV, mỗi yếu tố có tính sinh
bệnh học khác nhau và góp phần vào quá trình bệnh sinh ở những mức độ khác nhau, do
đó để đánh giá tổng quát các yếu tố này trên người bệnh cụ thể đòi hỏi phải phối hợp
các yếu tố nguy cơ bằng các công thức, đó là các chỉ số nguy cơ BĐMV. Có nhiều chỉ
số đánh giá nguy cơ trong chiến lược phòng ngừa nguyên phát BĐMV: Điển hình nhất
là chỉ số Framingham (được NCEP ATP III khuyên dùng) dựa trên nghiên cứu cùng
tên, giúp phân nhóm nguy cơ thành các suất độ 10 năm là thấp, trung bình và cao.
Trong đó nhóm nguy cơ thấp và trung bình chiếm đến 75% dân số và rất tiếc là đến
60% sự cố mạch vành xảy ra trong nhóm đối tượng này. Điều này cho thấy dùng một
chỉ số này chưa đủ mà phải phối hợp thêm các thông số khác. Chỉ số Reynolds giúp tiên
lượng nguy cơ ở nữ, bao gồm các thông số như Framingham, định lượng hs-CRP và
tiền căn gia đình có BĐMV. Thực tế cho thấy ở nữ giới không có thay đổi nhiều khi
thêm hai thông số mới này vào chỉ số Framingham, nên cũng không có lợi thêm trong

trước được rằng đau thắt ngực sẽ xuất hiện chỉ khi họ gắng sức vượt qua một ngưỡng
nào đó và họ cố gắng tránh để nó xảy ra. Đau ngực biến mất trong vòng một đến hai
phút sau khi dừng gắng sức hoặc sau khi ngậm thuốc nitrate (dạng tác dụng nhanh) dưới


10

lưỡi. Ở những bệnh nhân này, ngưỡng đau ngực cố định đã gợi ý rằng tình trạng thiếu
máu cơ tim cục bộ được gây ra do tăng nhu cầu oxy quá mức khi sang thương hẹp động
mạch vành cố định (đau ngực do gắng sức với ngưỡng cố định).
1.1.5.2. Thiếu máu cơ tim yên lặng (thiếu máu cơ tim mà không đau ngực)
Thiếu máu cơ tim cục bộ không gây đau chỉ có thể được chẩn đoán bằng các kỹ
thuật phát hiện TMCT và phụ thuộc hoàn toàn vào độ nhạy và độ đặc hiệu của chúng.
Ghi ECG liên tục cho thấy rằng 70% các cơn TMCT thoáng qua không gây đau ngực
hoặc bất kỳ triệu chứng nào khác.
Có nhiều lý do NMCT không gây đau ngực: hệ thống gác cửa (gating sytem) ở
tủy sống và có khả năng là ở mức đồi thị (thalamic level) cùng với sự giải mã các tính
hiệu ở vùng vỏ não (cortical decoding) của các kích thích hướng lên có thể có vai trò
chính trong việc tiếp nhận cảm giác đau.
Nếu TMCT mà không có triệu chứng đau ngực thì bệnh nhân có thể có những
biểu hiện khác trên lâm sàng như hở van hai lá, rối loạn nhịp tim, suy tim.
1.1.5.3. Hội chứng X
Những bệnh nhân trong bệnh cảnh ―đau ngực hỗn hợp‖ mạn tính, có ST thiếu
máu chênh xuống và/hoặc khiếm khuyết tưới máu trong lúc làm nghiệm pháp gắng sức,
nhưng lại có hình ảnh chụp động mạch vành bình thường, được xếp là hội chứng X.
1.1.5.4. Đau thắt ngực biến thái
Những bệnh cảnh lâm sàng sau đây gợi ý đau thắt ngực biến thái:


Đau thường xảy ra lúc nghỉ, không có nguyên nhân rõ ràng, thường xảy ra về

nạp được. Ở những bệnh nhân mới đau ngực lần đầu hoặc những bệnh nhân đã biết
BĐMV rồi thì bệnh cảnh trên gợi ý có sự suy giảm tưới máu cơ tim tái phát, thoáng qua
bởi sự hiện diện của cục huyết khối và co thắt mạch.
1.1.5.6. Nhồi máu cơ tim cấp
Vài bệnh nhân NMCT cấp chỉ có một cơn đau ngực kéo dài và không ngắt
quãng khiến họ phải đến bệnh viện. Có nhóm bệnh nhân khác có bệnh cảnh điển hình
của ĐTNKOĐ và cơn đau sau cùng thì đau liên tục, kéo dài làm cho bệnh nhân phải đến
bệnh viện. Có những bệnh nhân lại có những cơn đau ngực tách biệt và sau đó mới có
cơn đau ngực sau cùng là NMCT.
Trong suốt 6 giờ đầu của NMCT, động mạch vành liên quan đến vùng nhồi
máu tự tái tưới máu một cách tự nhiên, thoáng qua, không liên tục trong khoảng 70%
bệnh nhân. Tình trạng tái tưới máu tự nhiên dường như thường xảy ra hơn ở bệnh nhân
NMCT cấp mà có đau thắt ngực trước đó. Sự suy giảm chức năng cơ tim toàn thể phụ
thuộc vào độ lan rộng của hoại tử cơ tim
Rung thất tiên phát và độc lập với vùng nhồi máu nhưng lại bị ảnh hưởng mạnh
mẽ của tình trạng trương lực giao cảm cao.


12

1.2. HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP
1.2.1. Định nghĩa
Trong phổ BĐMV ―hội chứng mạch vành cấp‖ là thuật ngữ chỉ một nhóm bệnh lý
có chung hiện tượng giảm đột ngột lưu lượng máu có trong động mạch vành dẫn đến
thiếu máu cục bộ cơ tim cấp tính. Nhóm này gồm ba thể bệnh: Cơn đau thắt ngực không
ổn định, nhồi máu cơ tim không ST chênh lên (NMCTKSTC), và nhồi máu cơ tim có
ST chênh lên (NMCTCSTC). Ba thể bệnh này có tỷ lệ tử vong cao, có những biểu hiện
ban đầu và cách xử trí trong giai đoạn sớm tương tự nhau.
1.2.2. Hiện tƣợng tắc nghẽn mạch vành
Khi có hiện tượng tắc nghẽn hoàn toàn động mạch vành do huyết khối, quá trình

Bệnh động mạch vành là vấn đề thời sự và là vấn đề xã hội, nhiều nghiên cứu đã
tập trung vào các yếu tố nguy cơ nhằm xác định cũng như kế hoạch kiểm soát chúng
một cách hữu hiệu, một số nghiên cứu gần đây như nghiên cứu của tác giả Trương
Quang Bình (2001) [1] về các rối loạn lipid ở 272 đối tượng BĐMV, tác giả nhận định
kiểu rối loạn lipid ở người Việt Nam khác các nước Âu Mỹ (Việt Nam nhiều nhất là
tăng triglyceride trong khi ở châu Âu, Mỹ gặp nhiều nhất là tăng cholesterol). Nghiên
cứu của tác giả Nguyễn Lê Mai (2004) [10], Nguyễn Hữu Khoa Nguyên (2005) [13]
khảo sát yếu tố homocystein ở bệnh nhân BĐMV, các tác giả nhận thấy nồng độ
homocystein tăng rất cao ở đối tượng BĐMV so với nhóm chứng. Tác giả Dương
Nguyễn Hồng Trang (2003) [16] định lượng hs-CRP (high sensitivity C reactive
protein) ở đối tượng BĐMV và gần đây tác giả Lương Thị Kim Liên (2008) [9] đã xác
định vai trò tiên lượng của hs-CRP đối với các biến cố BĐMV ở đối tượng có HCMVC.
Tác giả Lê Xuân Trường và Nguyễn Thanh Trầm [17] nghiên cứu nồng độ
myeloperoxidase và hs-CRP ở đối tượng BĐMV (2015). Nhìn chung mỗi tác giả nghiên
cứu chỉ một yếu tố chính bên cạnh các yếu tố truyền thống như tuổi, giới, hút thuốc,
bệnh đái tháo đường.…. Chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu về Lp-PLA2 và phân
tích kiểu hình LDL.
1.3. CÁC CHỈ DẤU MỚI GIÚP TIÊN LƢỢNG NGUY CƠ BĐMV
1.3.1. MPO (Myeloperoxidase) [18], [27]
Là enzym (mã: EC 1.11.1.7) có trong nhân tế bào bạch cầu đa nhân trung tính và
monocyte, xúc tác phản ứng tạo acid hypochlorous (HOCl). MPO là một protein tạp
chứa hem, có 2 protomer, tổng trọng lượng của MPO là 150 kD. Gen mã hóa MPO có


14

kích thước 11kb trên nhánh dài của nhiễm sắc thể 17, vị trí 17q23.1, gồm 12 exon và
11 intron.
1.3.1.1. Sinh bệnh học
Quá trình viêm và stress oxid hóa đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học

cắt để lại các đoạn 112 acid amin đầu tính từ đầu N tận. sCD40L là thành viên thứ 5
trong đại gia đình TNF ligand thuộc nhóm cytokine, bản chất là protein có 149 acid
amin được mã hóa bởi gen CD40LG tại vị trí Xq26 trên nhiễm sắc thể giới tính X.
sCD40L có cấu trúc 3 domain đồng nhất có liên quan đến sự chuyển lớp của các
globulin miễn dịch.
1.3.2.1. Sinh bệnh học
Người ta xác định được ba chức năng của sCD40L phóng thích từ tiểu cầu
tham gia vào quá trình hình thành mảng xơ vữa bao gồm: Phản ứng viêm, huyết khối
và hẹp lòng mạch [23].
1.3.2.2. Kỹ thuật định lượng
Chưa thấy xét nghiệm định lượng yếu tố này trên các hệ thống máy xét nghiệm
tự động, xét nghiệm phổ biến hiện nay là ứng dụng kỹ thuật ELISA.
1.3.2.3. Ứng dụng lâm sàng
Nồng độ sCD40L không thay đổi theo giới, tăng ở đối tượng béo phì, tăng
cholesterol máu, đái tháo đường [77], [91].
Ở bệnh nhân HCMVC, sCD40L giúp xác định nhóm đối tượng có nguy cơ cao
của nhồi máu và tử vong trong sáu tháng [91]. Ở bệnh nhân có tăng nồng độ sCD40L
được điều trị với abciximab, nguy cơ trong 72 giờ giảm xuống bằng với đối tượng có
nguy cơ thấp, lợi ích này thấy ở cả hai nhóm đối tượng bệnh tăng và không tăng
troponin và điều trị abcixamab không có lợi khi dùng trên đối tượng có tăng troponin I
nhưng có nồng độ sCD40L thấp [61], [179], [203].
1.3.3. Hs-CRP (High sensitive C- reactive protein)
CRP được phát hiện đầu tiên bởi Tillet và Frances vào năm 1930, là chỉ dấu của
giai đoạn cấp trong quá trình viêm nhiễm được gan sản xuất dưới sự khích hoạt của các
cytokine. Bản chất là protein thuộc họ pentraxin, dạng cầu có 5 bán đơn vị xếp đối xứng
xung quanh lổ trung tâm. Gen tổng hợp CRP nằm trên nhiễm sắc thể thứ 1 (1q21-q23).
1.3.3.1. Chức năng sinh học


16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status