BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ĐỖ VĂN ÁNH
ĐÁNH GIÁ LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH SƠN LA
VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU TRONG QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG
TẠI BẢN LẰN, XÃ MƯỜNG DO, HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS VŨ NHÂM
HÀ NỘI, 2011
Cơ cấu thu nhập giữa các nhóm hộ được thể hiện rõ ở biểu đồ cơ cấu, tỷ trọng thu nhập tại hình 4.10 sau.
1. Nhóm hộ Khá:
Thu nhËp kh¸c
15%
Thu nhËp LN
30%
Thu nhËp
NN
36%
Thu nhËp
CN
17%
Hình 4.10. Biểu đồ cơ cấu, tỷ trọng thu nhập của các nhóm hộ gia đình
3
Từ bảng 4.6, ta có biểu đồ cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình như sau:
20%
4%
12%
Lúa nương, ruộng 1 vụ
Nương rẫy
Khai th TNR
4%
Chăn nuôi
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành nghiên cứu đề tài tôi đã được
PGS.TS Vũ Nhâm, các thầy cô giáo, Giáo sư, Tiến sỹ; Thạc sỹ khoa học Lâm
nghiệp Trường Đại hoạc Lâm nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ để đề tài tiến
hành thuận lợi. Sự thành công của đề tài không thể tách rời sự giúp đỡ và hợp
tác có hiệu quả của chính quyền và nhân dân các thôn, bản, xã tham gia Dự án
Chương trình thí điểm Lâm nghiệp Cộng đồng huyện Mai Sơn và huyện Phù
Yên của tỉnh Sơn La nơi đề tài tiến hành điều tra, khảo sát và thu thập số liệu
hiện trường trong thời gian qua.
Nhân dịp này tôi xin bảy tỏ sự biết ơn tới: PGS, TS Vũ Nhâm - Người
thầy trực tiếp, hướng dẫn chỉ bảo những kiến thức chuyên môn thiết thực và
chỉ dẫn khoa học quý báu. Xin trân thành cảm ơn sự quan tâm Ban giám hiệu
Trường Đại Học Lâm nghiệp, Khoa đào tạo sau Đại Học; Chi cục Lâm
nghiệp, Chi cục Kiểm lâm, Trung tâm Lâm nghiệp Tây Bắc, Ban quản lý rừng
Phòng hộ cơ sở tỉnh; Các phòng, ban của UBND huyện Mai Sơn, Phù Yên.
- Lãnh đạo UBND xã Nà Ớt, xã Phiêng Cằm huyện Mai Sơn; xã Mường
Do, xã Mường Lang huyện Phù Yên; Ban quản lý bản và người dân của bản đã
giúp đỡ trong việc điều tra nghiên cứu thực tế để hoàn thành luận văn.
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn do điều kiện hạn chế về
thời gian, nhân lực, tài chính. Mặt khác đây cùng là lĩnh vực nghiên cứu mới
ở một tỉnh, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn
bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 6 tháng 9 năm 2011
Tác giả
Đỗ Văn Ánh
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................29
2.2.2. Giới hạn nghiên cứu ...............................................................................29
iii
2.3. Nội dung nghiên cứu......................................................................................30
2.3.1 . Hiện trạng quản lý rừng cộng đồng tỉnh Sơn La ...................................30
2.3.2. Phân loại các mô hình quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh Sơn La ............30
2.3.3. Tác động của chính sách đến quản lý rừng cộng đồng ..........................30
2.3.4. Kinh nghiệm địa phương trong quản lý rừng cộng đồng .......................30
2.3.5. Các giải pháp phát triển hình thức rừng cộng đồng ...............................30
2.3.6. Các hoạt động quản lý rừng cộng đồng tại bản Lằn, xã Mường Do,
huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La .............................................................................30
2.4. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................30
2.4.1 Phương pháp kế thừa ...............................................................................31
2.4.2. Phương pháp, công cụ thu thập số liệu hiện trường ...............................31
2.4.3. Phương pháp lập Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, xây dựng Quy ước
và Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng....................................................36
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU .........................................................................................................37
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tê-xã hội tỉnh Sơn La. ............................................37
3.1.1. Vị trí địa lý, gianh giới ...........................................................................37
3.1.2. Điều kiện tự nhiên ..................................................................................37
3.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội .......................................................................39
3.2. Một số thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Phù Yên
...............................................................................................................................42
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................48
4.1. Hiện trạng quản lý rừng cộng đồng tỉnh Sơn La ...........................................48
4.1.1. Tiến trình hình thành và phát triển chính sách lâm nghiệp cộng đồng ở
Tài nguyên rừng cộng đồng
CPR
Tài nguyên sử hữu công cộng
CPRM
Quản lý tài nguyên sở hữu công cộng
CBFM
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng
CFM
Quản lý rừng cộng đồng
CIFOR
Tổ chức nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế
CĐ
Cộng đồng
ETSP
Dự án " phổ cập lâm nghiệp vùng cao"
NN&PTNT
- NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
PCCCR
- PCCCR: Phòng cháy chữa cháy rừng.
PGS,TS
- PGS, TS: Phó Giáo sư, Tiến sỹ.
DVMT
- DVMT: Dịch vụ môi trường.
BV&PTR
Bảo vệ và phát triển rừng
vi
CHXHCN
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
CP
Chính phủ
Sản xuất
PRA
Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân
UBND
Uỷ ban nhân dân
M/ha
Trữ lượng / ha
G
Tổng tiết diện ngang
D1.3
Đường kính gốc 1.3 m
N/ha
Số cây / ha
vii
Mối quan tâm của các bên liên quan đến công tác quản lý rừng
57
4.3
Nguyện vọng tham gia quản lý bảo vệ rừng cộng đồng của
58
34
cộng đồng dân cư thôn
4.4
Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng
59
4.5
Tiêu chí phân loại các hình thức QLR cộng đồng
63
4.6
Hiệu quả các hình thức quản lý rừng cộng đồng tỉnh Sơn La
91
4.13 Sản phẩm khai thác lô 5/Đồi Bo 1
93
4.14 Tổng hợp các chỉ tiêu khai thác năm 2009
93
4.15 Bố trí khai thác lâm sản ngoài gỗ hàng năm
95
4.16 Kế hoạch nuôi dưỡng rừng
97
4.17 Kế hoạch Bảo vệ rừng
98
viii
DANH MỤC HÌNH
Tên hình
TT
86
4.2
Xây dựng quy ước BVR
102
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quản lý rừng cộng đồng hiện đang tồn tại như một xu thế mang tính khách
quan và ngày càng có vị trí quan trọng trong quản lý tài nguyên rừng. Ở Việt Nam,
rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn và văn hoá của các
cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng. Thực tế ở nhiều địa phương đã cho thấy có rất
nhiều cộng đồng thôn, bản hiện đang quản lý bảo vệ rừng hiệu quả mà không đòi
hỏi nhiều về đầu tư kinh phí của Nhà nước. Rừng cộng đồng thường được quản lý
tốt ở những cộng đồng có truyền thống quản lý rừng lâu đời, có hương ước nội bộ và
có sự tham gia tích cực của các thành viên cộng đồng.
Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi (2004) đã được Quốc hội khoá XI kỳ
họp thứ 6 thông qua trong đó qui định cộng đồng dân cư thôn bản là một trong
những đối tượng được Nhà nước giao rừng để quản lý, bảo vệ và phát triển nhằm
giúp người dân sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng được hưởng lợi thành quả của
họ từ trong công tác bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng thôn bản.
Để có cơ sở giúp cho việc quản rừng cộng đồng được chặt chẽ, có hiệu quả
điều cần thiết là phải cụ thể hoá Luật bảo vệ và phát triển rừng mà trong đó có việc
xây dựng lại các văn bản hướng dẫn thực hiện quản lý rừng cộng đồng.
Trong phần Mở đầu cuốn sách “Quản lý tài nguyên rừng công cộng” do Tổ
phát triển mạnh về dân số, vấn đề di dân tự do, khai phá đất rừng trồng cây công
nghiệp đã làm suy giảm cả về số lượng và chất lượng tài nguyên rừng. Chính điều
đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, các tác dụng có lợi khác của
tài nguyên rừng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, cách đối xử của người
dân với tài nguyên rừng.
Thực tế cho thấy ở nhiều nơi trên thế giới, các khu rừng cộng đồng được
quản lý tương đối tốt với nhiều hình thức và hệ thống quản lý khác nhau. Ở Việt
Nam, rừng của cộng đồng là rừng của thôn/hoặc dòng tộc, dòng họ đã được quản lý
theo truyền thống trước đây (quản lý theo các luật tục truyền thống), rừng trồng của
các hợp tác xã, rừng tự nhiên đã đuợc giao cho các hợp tác xã trước đây mà sau khi
chuyển đổi hoặc giải thể, hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý.
Những diện tích rừng này có thể Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất hoặc đã công nhận quyền sử dụng đất của cộng đồng, song trên thực tế,
3
mặc nhiên cộng đồng đang tự tổ chức quản lý sử dụng và hưởng lợi từ những khu
rừng đó. Như vậy, thực chất “quản lý rừng cộng đồng” là cộng đồng dân cư thôn
quản lý rừng thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng,
được hình thành do các cộng đồng tự công nhận, hoặc thông qua chính sách giao
đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn. Các cộng đồng địa phương (thôn bản,
nhóm hộ, ..vv..) có quyền sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên rừng được công
nhận trên thực tế hoặc về mặt pháp lý. Những cộng đồng này chịu trách nhiệm quản
lý các nguồn tài nguyên rừng (trong khuôn khổ luật định). Trọng tâm không chỉ là
gỗ mà còn là các sản phẩm ngoài gỗ. Lợi ích thu được thuộc về người dân địa
phương và được sử dụng cho phát triển nông thôn. Cách quản lý rừng ở đây ít tính
chất khoa học hơn mà được hình thành trên cơ sở kiến thức bản địa của người dân
địa phương.
Ở mỗi địa phương, do những đặc thù về tài nguyên rừng khác nhau, thành
Theo Đinh Ngọc Lan (2000), QLR cộng đồng là sự hội tụ đầy đủ các phương
tiện xã hội kỹ thuật và kiến thức bản địa. Đây là hệ sinh thái nhân văn nằm trong
mối tương tác giữa hệ xã hội - cộng đồng và hệ tự nhiên, hệ sinh thái rừng. Vì vậy
quản lý rừng cộng đồng phải được xem xét trên cơ sở lý thuyết hệ thống về cộng
đồng, bản địa, sở hữu và quyền hưởng dụng tài nguyên rừng.
Theo tác giả Nguyễn Bá Ngãi (2004), cộng đồng quản lý rừng là một thực
tiễn dù được thể chế hoá hoặc không thừa nhận thì nó vẫn tồn tại. Do đó việc thừa
nhận cộng đồng là là một chủ thể có pháp nhân luôn có lợi cho công tác QLR,
khuyến khích và phát triển hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với đặc điểm
kinh tế xã hội và thị trường của từng vùng, đó là QLR cộng đồng đáp ứng nhu cầu
sinh kế và tiếp cận sản xuất hàng hoá.
Có rất nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, rừng cộng đồng có vai trò
rất quan trọng đối với đời sống của người dân miền núi, đặc biệt là dân nghèo và
bảo vệ môi trường sinh thái (Messerschmitt et al. (1996), Đinh Ngọc Lan (2002), Lê
Thị Diên (2003).
Kết quả nghiên cứu quản lý rừng cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số
vùng núi phía Bắc Việt Nam cho thấy QLR cộng đồng là một phương thức quản lý
rừng có hiệu quả, góp phần đáng kể vào bảo vệ và phát triển rừng, tăng thu nhập,
5
xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nghiên cứu của Trần Đức Viên (1999) trong vấn đề giảm nghèo và rừng ở Việt
Nam cho thấy những dân tộc thiểu số nghèo hơn thích quản lý rừng cộng đồng hơn,
chủ yếu muốn đảm bảo an toàn lương thực, trong khi đó người Kinh và người Thái
muốn giao cho hộ gia đình. Tác giả Tessien (2002) trong tác phẩm "Giảm nghèo và
rừng ở Việt Nam" cũng có nhận xét tương tự.
Chính sách giao đất rừng ở tỉnh Đắc Lắc là một trong những ví dụ thể hiện
sự tiến bộ nhất ở Việt Nam trong việc chuyển hướng sang lâm nghiệp cộng đồng.
Trong một số năm gần đây để khẳng định hơn tính sở hữu và làm chủ trong
quản lý tài nguyên rừng, khái niệm quản lý rừng cộng đồng đã được phân định rõ
hơn “Quản lý rừng cộng đồng là bao gồm tất cả các hoạt động, tổ chức thu hút cộng
đồng tham gia quản lý rừng và được chia sẻ lợi ích từ nguồn tài nguyên”.
Tuy mỗi tác giả, mỗi nước có quan điểm, có cách hiểu về các phạm trù khái
niệm khác nhau phù hợp với điều kiện của từng nước, song nó lại là cơ sở và kinh
nghiệm tốt để Việt Nam học hỏi và tham khảo đưa ra những cơ sở lý luận đúng cho
thực tiễn quản lý rừng ở Việt Nam.
d) Phân biệt về quản lý rừng tập thể, quản lý rừng cộng đồng và quản lý rừng
thôn bản.
Khi nghiên cứu về quản lý rừng công cộng thuộc 3 vùng : Châu Á, Châu
Phi và Châu Mỹ Latinh trên phương diện toàn cầu phát hiện có một số lẫn lộn trong
quan niệm giữa sở hữu “tập thể”, “cộng đồng ” và “thôn bản”. Các hình thức “cộng
đồng” và “thôn bản” về mặt quản lý đều là những hình thức “tập thể” nhưng giữa
chúng có những khác biệt rõ và quan trọng. Một cộng đồng được định nghĩa như
là “những người sống tại chổ trong một tổng thể” (Từ điển Oxford) hoặc là “một
nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung” (Từ điển
Webster). Ý tứ về tính chất tổng thể hoặc cùng nhau gắn bó là gốc ngữ nghĩa trong
thuật ngữ cộng đồng. Nó giúp ta trả lời ai là người nằm trong một hệ quản lý tập thể
đặc biệt. Trong khi từ “cộng đồng” ẩn dụ một nhóm người “tổng thể” sống tại một
vị trí hoặc cùng với nhau theo cách nào đó, thì từ “thôn xã” có nghĩa là giữa những
nhóm khác nhau trong một cộng đồng. Nói tới cộng đồng là nói tới toàn bộ thôn bản
thường có ranh giới trong không gian, còn thôn xã lại ẩn dụ những thành viên có
hạn chế, những việc phân bổ lợi ích hoặc hưởng thụ cho các bộ phận của cộng đồng
tách rời nhau về mặt xã hội. Sự phân biệt giữa cộng đồng và thôn bản khá quan
trọng khi tiến hành nghiên cứu những ai có quyền tham gia hưởng thụ tài nguyên
rừng, và sản phẩm được phân bố như thế nào. Các chế độ quản lý rừng cộng đồng
được đề cập đến ở đây dựa trên giả thiết sẽ có một sự phân bổ công bằng về tài
nguyên rừng được giao giữa các thành viên trong toàn bộ nhóm. Còn việc quản lý
tộc, dòng họ...
Quản lý theo thôn, xã do những
nhóm riêng rẽ, chỉ là một số
hoặc một bộ phận của một cộng
đồng
Các nhóm chính trị, kinh tế
hoặc tôn giáo, môn phái...
9
1.2.2. Quản lý rừng cộng đồng ở một số nước.
1) Ấn Độ : Năm 1951, Ấn Độ tiến hành quốc hữu hoá các tài nguyên rừng và
thực hiện luật cải cách ruộng đất. Vào đầu những năm 70, chính phủ ban hành nhiều
chính sách nhằm khuyến khích phát triển trên đất không lâm nghiệp. Do các chương
trình LNXH không mang lại kết quả như mong đợi, từ năm 1988, chính phủ ban
hành chính sách mới về lâm nghiệp cộng quản lý trên đất lâm nghiệp. Mục tiêu cơ
bản là lôi kéo và khuyến khích người dân và cộng đồng của họ tham gia vào quá
trình quản lý tài nguyên rừng trên đất lâm nghiệp của Nhà nước. Người dân và các
cộng đồng của họ được hưởng các sản phẩm phụ và một phần sản phẩm gỗ tuỳ theo
điều kiện của các bang.
Chương trình Lâm nghiệp xã hội (LNXH) được thực hiện trên đất của làng
bản và tư nhân. Mục tiêu của chương trình nhằm giảm sức ép đối với các khu rừng
công nghiệp do chính phủ quản lý. Chính phủ huy động nông dân, trường học và
các tổ chức xã hội tham gia vào trồng rừng gỗ nhiên liệu.
Chương trình rừng cộng quản (JSM) do chính phủ và cộng đồng cùng quản
lý các khu rừng trên đất lâm nghiệp của nhà nước. Nhân dân được sử dụng các sản
phẩm phụ từ rừng, 25% giá trị sản phẩm gỗ được giữ lại cho cộng đồng. Tuy nhiên
của người dân, những người đóng vai trò phục hồi rừng, bảo vệ và nhận từ rừng những
lợi ích cho chính mình. Đây chính là thực thể của lâm nghiệp cộng đồng.”
Năm 1989, Lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã đề ra chính sách phát triển
Lâm nghiệp cộng đồng. Trong đó chủ yếu giành quyền hạn nhiều hơn cho các địa
phương trong quản lý tài nguyên rừng. Tăng cường hệ thống khuyến lâm để hỗ trợ
cộng đồng tự quản lý rừng. Dưới sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong đó có Tổ
chức hợp tác phát triển Thụy Sỹ (SDC), Thái Lan đã hình thành Trung tâm đào tạo
Lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) thuộc trường Đại học Kasesat, sau tách ra
thành Trung tâm đào tạo Lâm nghiệp cộng đồng vùng. Trung tâm này đã tổ chức
được nhiều khóa học ngắn hạn với các chủ đề đào tạo có liên quan đến phát triển
lâm nghiệp cộng đồng cho tất cả các hội viên trong nước cũng như nước ngoài.
Điều đáng quan tâm đối với Lâm nghiệp cộng đồng ở Thái Lan là ở một vài
nơi đã tự xây dựng vùng Lâm nghiệp cộng đồng bằng việc trồng cây trước khi có
quyền sử dụng đất. Họ tin rằng việc trồng cây trên đất canh tác của họ cũng như các
khu đất của cộng đồng, của nhà nước họ sẽ có lý do đòi hỏi mạnh mẽ hơn về vấn đề
11
đất đai dành cho phát triển Lâm nghiệp cộng đồng. Đây cũng là cách giải quyết
những khó khăn cho bất kỳ những ai muốn lấy đất đai để trồng cây hàng hóa như
trồng Bạch đàn thuần loài và nhiều cây kinh doanh khác.
4) Ở Indonesia: Ngay từ năm 1967, Chính phủ Indonesia đã ban hành các sắc
lệnh về phát triển kinh tế, xã hội của các cộng đồng; xây dựng các chương trình
phát triển nông thôn, bản và định canh định cư cho các vùng có liên quan đến khu
vực lâm nghiệp. Năm 1995 Indonesia tiến hành xây dựng Chương trình phát triển
lâm nghiệp cộng đồng. Đến năm 1996 Bộ Lâm nghiệp Indonesia xây dựng dự án
giao 10.000 ha rừng cho các cộng đồng quản lý.
5) Ở Nê-pan năm 1978, chính phủ Nê-pan đã giao cho người dân địa phương
quản lý rừng để thực hiện chính sách phát triển lâm nghiệp cộng đồng. Từ năm
- Ấn phẩm “Giới thiệu về Lâm nghiệp cộng đồng” đã trình bày rõ khái niệm
về Lâm nghiệp cộng đồng – Đó không chỉ việc trồng cây của cộng đồng dân cư mà
còn bao gồm cả việc sử dụng và quản lý rừng tự nhiên và cung cấp các sản phẩm
lâm nghiệp từ các nguồn khác nhau… Ngoài ra tài liệu này còn đề cập đến các lĩnh
vực khác có liên quan đến Lâm nghiệp cộng đồng như: Tìm hiểu cách sử dụng rừng
của dân; mục đich chính của Lâm nghiệp cộng đồng là tạo ra lợi nhuận cho dân địa
phương và xác định những nhân tố ảnh hưởng đến phát huy thế mạnh của Lâm
nghiệp cộng đồng….
- Ấn phẩm “Xây dựng chế độ cho Lâm nghiệp cộng đồng” đã xác định rõ tầm
quan trọng của việc xây dựng thể chế cho tất cả những hoạt động có liên quan đến
Lâm nghiệp cộng đồng để hỗ trợ người dân trong việc quản lý rừng bền vững.
Trong ấn phẩm này cũng đã giới thiệu các tài liệu có liên quan đến quản lý cây và
rừng; liên quan đến các hoạt động của Lâm nghiệp cộng đồng; các hình thức
khuyến khích việc thực hiện thể chế; hướng dẫn tiến hành phân tích thể chế; đánh
giá sự gắn kết của lâm nghiệp cộng đồng; những đặc trưng của lâm nghiệp cộng
đồng và những qui định có hiệu lực trong các dự án Lâm nghiệp cộng đồng.
- Ấn phẩm “Phụ nữ trong Lâm nghiệp cộng đồng” đã khẳng định rằng: “Nếu
chương trình về Lâm nghiệp cộng đồng muốn thành công, chúng phải được xây
dựng sao cho thích ứng với những nhu cầu của phụ nữ…”; vì vậy cần phải “… hiểu
được phụ nữ; định ra những câu hỏi phù hợp với phụ nữ; thực hiện mọi hoạt động
đều có sự tham gia của phụ nữ”.
13
Tóm lại, Lâm nghiệp cộng đồng đã được nhiều nước trên thể giới chú trọng
nghiên cứu phát triển nhất là đối với các nước đang phát triển vì đã thu được nhiều
kết quả khả quan trong quản lý rừng bền vững. Hiện nay các nước này vẫn đang
tiếp tục tổng kết kinh nghiệm từ các mô hình xây dựng rừng cộng đồng để rút ra
những kết luận làm cơ sở đề xuất xây dựng và điều chỉnh các chính sách hỗ trợ,