Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
BẢNG LIỆT KÊ CHỮ VIẾT TẮT
CPTM Cổ phần thương mại
DK Dài hạn
DV Dịch vụ
GTGT Giá trị gia tăng
GTVT Giao thông vận tải
KH & KT Khoa học và kỹ thuật
NXB Nhà xuất bản
TC – HC Tổ chức - hành chính
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TP Thành phố
TT Trung tâm
TWĐ Trung Ương Đoàn
TWH Trung Ương hội
QĐU Quyết định uỷ ban
QĐ Quyết định
UBND Uỷ ban nhân dân
VLXD Vật liệu xây dựng
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
LỜI MỞ ĐẦU
Hoà mình vào sự phát triển của nền kinh tế với xu hướng toàn cầu hoá
và tự do hoá thương mại ngày càng tăng trên thế giới và sẽ là những động lực
quan trọng nhất thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ. Cùng với xu
hướng này nước ta đã bắt đầu đổi mới và tham gia vào các hoạt động quốc tế
và khu vực. Tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam có phần muộn màng so
với các nước khác nên cũng có nhiều những thuận lợi và khó khăn nhất định.
Khi gia nhập tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thì sự di chuyển hàng hoá,
phẩm là một vấn đề bức xúc và luôn luôn được các Công ty đặc biệt quan
tâm. Đó là vấn đề lớn đối với sự phát triển của Công ty trong hiện tại và
tương lai.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của công tác tiêu thụ sản
phẩm, thực tiễn của Công ty qua thời gian thực tập tại Công ty với những
kiến thức đã được trang bị trong thời gian học tại trường, em mạnh dạn chọn
đề tài ”Nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ xe máy tại Công ty Phát triển
Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam” để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp cùng một
mong muốn là có được những đóng góp thiết thực cho công tác tiêu thụ sản
phẩm tại Công ty.
Chuyên đề gồm có những phần sau:
Phần I: Những vấn đề về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp.
Phần II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm của Công
ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam.
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
Phần III: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản
phẩm tại Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam.
Với vị trí là một sinh viên của khối kinh tế với kiến thức còn hạn chế,
kinh nghiệm thực tế chưa nhiều, năng lực bản thân còn hạn chế nên bài viết
không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự giúp
đỡ, đóng góp nhiệt tình của các thầy cô giáo, các cô chú trong Công ty và các
bạn để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo TS. Bùi Đức Thọ,
Phòng Kế toán – Tài chính, Phòng Tổ chức, cùng các cán bộ công nhân viên
Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam đã tận tình giúp đỡ em trong
thời gian thực tập để em hoàn thiện chuyên đề này.
cao nhất. Do đó có thể hiểu cạnh tranh là một cơ chế vận hành chủ yếu của cơ
chế thị trường và động lực để phát triển kinh tế.
2. Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản, là năng lực phát triển
của nền kinh tế thị trường. Với tổng thể xã hội thì cạnh tranh là một động lực
tích cực giúp cho xã hội luôn luôn phát triển. Trong khi đó cạnh tranh sẽ đem
lại lợi ích cho một nhóm người và cũng đem lại thiệt hại cho một nhóm người
khác. Cạnh tranh có chức năng vô cùng quan trọng đối với toàn bộ nền kinh
tế quốc dân. Trên thị trường thì cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá. Khi
một loại hàng hoá nào đó được cung cấp nhiều hơn cầu trên thị trường, do đó
sẽ có sự cạnh tranh giữa các người bán hàng hoá với nhau làm cho giá cả
giảm xuống. Các doanh nghiệp muốn tồn tại được phải hạ giá bán sản phẩm,
tức là phải tự cải tiến công nghệ và trang thiết bị kỹ thuật hay phương thức
quản lý của mình để tạo ra sản phẩm với giá thành thấp hơn các đối thủ cạnh
tranh đang tồn tại. Ngược lại khi cung hàng hóa thấp hơn cầu, giá cả hàng
hoá sẽ tăng lên, lợi nhuận của doanh nghiệp cao. Các doanh nghiệp sẽ đầu tư
thêm vốn nâng cao năng lực sản xuất…Tóm lại cạnh tranh là một động lực
rất quan trọng nhất làm để các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất vì
các doanh nghiệp luôn luôn chú ý đến cải tiến công nghệ, trang bị sản xuất
hay phương thức sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh
tranh, vì cạnh tranh sẽ giúp cho các doanh nghiệp có khả năng thì ngày càng
vững mạnh còn các doanh nghiệp nhỏ bé yếu ớt sẽ bị phá sản. Cạnh tranh là
một yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp đang tồn tại được sẽ ngày càng nâng
cao khả năng của mình trên thị trường, là cơ hội tốt để các doanh nghiệp sẵn
sàng cho xu thế hội nhập của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
3. Các biện pháp cạnh tranh
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng. Một trong những quan
điểm đó là: ”Theo tính chất công nghệ của sản xuất: Chất lượng sản phẩm là
tổng hợp những đặc tính bên trong của sản phẩm có thể đo được hoặc so sánh
được, phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng cho
những yêu cầu cho trước trong những điều kiện xác định về kinh tế - xã
hội.”
(4)
Do đó, để sản phẩm cạnh tranh được bằng chất lượng thì doanh
nghiệp không ngừng cải tiến kỹ thuật để sản phẩm đáp ứng, thoả mãn được
nhu cầu của khách hàng.
3.1.2. Đa dạng hoá sản phẩm
Sản phẩm là những cái, những yếu tố được bán ra trên thị trường nhằm
thoả mãn nhu cầu, thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng của khách hàng. Với
nền kinh tế thị trường hiện nay, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng là một
trong những phương thức để các doanh nghiệp cạnh tranh bằng sản phẩm.
Tuy nhiên, nếu như hàng hoá chỉ có chất lượng tốt cũng chưa đủ để cạnh
tranh trên thị trường, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách
hàng. Các doanh nghiệp ngày càng phải có xu hướng mở rộng các mặt hàng
đa dạng hoá sản phẩm. Nếu như hàng hoá có chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã
bao gói đẹp nhưng không bắt nhịp với thời đại thì cũng không thể cạnh tranh
được với các đối thủ cạnh tranh. Hiện nay các doanh nghiệp trên thế giới đầu
tư cho nghiên cứu phát triển sản phẩm mới chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ
cấu chi phí nhằm đầu tư nghiên cứu các công nghệ kỹ thuật mới nâng cao
chất lượng và năng suất lao động, tạo sản phẩm mới, độc đáo, hiện đại, đáp
ứng tốt hơn các yêu cầu của khách hàng, qua đó tạo vị trí vững chắc trên thị
trường.
3.2. Cạnh tranh bằng giá
(4)
( 8, tr 422)
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
“Kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và
phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuất
tới người tiêu dùng. Nói cách khác, đây một là một nhóm các tổ chức và cá
nhân thực hiện các hoạt động làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn sàng để
người tiêu dùng hoặc người sử dụng công nghiệp có thể mua và sử dụng.”
(6)
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng cạnh tranh tương đối
của một doanh nghiệp trong tương quan với các chủ thể kinh doanh khác.
Không có năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và phát
triển trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Năng lực cạnh tranh nâng cao
mức tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào hệ thống kênh phân phối của
doanh nghiệp. Kênh phân phối là cầu lối trung gian giữa nhà sản xuất đến
người tiêu dùng. Nếu như không có kênh phân phối thì nhà sản xuất gần như
không thể thực hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Bởi vì
nhà sản xuất muốn phân phối được nhiều sản phẩm thì cần rất nhiều khâu
trung gian thương mại. Các khâu trung gian nằm giữa người sản xuất và
người tiêu dùng là các thành viên quan trọng trong nhiều kênh phân phối.
Một số loại trung gian thương mại chủ yếu: nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lý
và môi giới, nhà phân phối. Một số mạch, kênh phân phối là:
(6)
(6, tr 320)
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
10
Nhà B.buôn
Nhà bán lẻ
Người TD
Đại lý
(6, tr 325)
(7)
(6, tr 384)
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
điệp đó doanh nghiệp sẽ lựa chọn các phương tiện truyền tin thích hợp thông
qua nhiều phong thái khác nhau.
Có rất nhiều phương tiện quảng cáo khác nhau để gửi thông điệp tới
người nhận tin. Các doanh nghiệp cần lựa chọn các phương tiện quảng cáo
sao cho thu hút được nhiều khách hàng đặc biệt là khách hàng mụch tiêu. Mặt
khác việc lựa chọn phương tiện quảng cáo còn phải chú ý đến sự thích hợp
với hàng hoá, tính đặc thù của thông tin, chi phí cho quảng cáo, hay mức độ
trung thành của khách hàng đối với một số loại phương tiện nhất định…Một
số phương tiện mà các doanh nghiệp thường sử dụng để quảng bá rộng rãi
hình ảnh sản phẩm của mình để lôi cuốn, kích thích người tiêu dùng: Báo,
Tạp chí, ti vi, radio hay quảng cáo qua panô áp phích, computermarketing,
qua catalog v.v..
3.4.2. Tuyên truyền
Tuyên truyền là sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng,không mất
tiền để truyền tin về hàng hoá, dịch vụ, hay chính doanh nghiệp với khách
hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có
thể tuyên truyền cho sản phẩm, tuyên truyền hợp tác, hay tuyên truyền về xử
lý một vụ việc bất lợi cho doanh nghiệp đang bị lan rộng ra ngoài v.v…
Tuyên truyền phải chi tiết hoá đối với sản phẩm của doanh nghiệp để thuyết
phục hướng dẫn, khuyên nhủ, vận động, thuyết minh v.v.. công chúng trên thị
trường.
3.4.3. Xúc tiến bán (khuyến mại)
Xúc tiến bán hàng là sử dụng một nhóm các công cụ cổ động, kích thích
khách hàng nhằm tăng nhanh nhu cầu về sản phẩm tại chỗ một cách tức thì.
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
khách với chi phí kinh doanh nhỏ nhất”
(8)
. Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối
cùng và quan trọng nhất trong khâu lưu thông hàng hoá và là cầu nối trung
gian giữa sản xuất, phân phối, và tiêu dùng.
Các nghiệp vụ sản xuất, kỹ thuật chuẩn bị hàng hoá để xuất bán cho
khách hàng bao gồm: tiếp thị, phân loại, mẫu mã…để chuẩn bị cho hàng hoá
chuyển hàng theo yêu cầu của khách hàng. Các nghiệp vụ kinh tế, tổ chức và
kế hoạch thì đòi hỏi phải tổ chức tốt công tác thị trường nắm bắt nhu cầu về
sản phẩm của người tiêu dùng. Thông qua tiêu thụ sản phẩm mà người mua
chấp nhận thanh toán tiền và nhận hàng thì quá trình thực hiện giá trị hàng
hoá là kết thúc.
2. Nội dung của chủ yếu của tiêu thụ sản phẩm
2.1. Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập, xử lý và phân tích số liệu về
thị trường một cách có hệ thống. Đây là một công việc để xác định khối
lượng, giá bán của sản phẩm khi đem ra tiêu thụ trên thị trường. Khi nghiên
cứu thị trường ta xác định được cả thị trường hiện tại và tương lai của sản
phẩm của doanh nghiệp mình tức là phải hướng tới những thị trường tiềm
năng của sản phẩm. Trong khi nghiên cứu thị trường phải nắm được sự biến
đổi nhu cầu của khách hàng và những biến đổi về thu nhập và giá cả từ đó
Công ty có những chiến lược kinh doanh hợp lý và tiêu thụ đúng đắn phù
hợp. Trong khi nghiên cứu thị trường cần phải nghiên cứu cung cầu về sản
phẩm để hiểu rõ các đối thủ cạnh tranh hiện tại và trong tương lai, nghiên cứu
mạng lưới tiêu thụ để thấy được những ưu điểm và nhược điểm từng kênh
tiêu thụ, có thể lượng hoá được mức độ ảnh hưởng của mỗi một nhân tố đến
(8)
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
15
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
tạo điều kiện bảo quản hàng hoá, thu hút khách hàng và tiêu thụ sản phẩm.
Tổ chức bán hàng là khâu quan trọng nhất trong việc tổ chức tiêu thụ và sau
tiêu thụ vì đó là công việc trực tiếp đến tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Các nhân viên bán hàng là người trực tiếp giới thiệu sản phẩm của doanh
nghiệp với khách hàng vì thế họ phải có đủ các điều kiện như chuyên môn
nghiệp vụ, nghệ thuật bán hàng… Để phát huy hết khả năng của những nhân
viên bán hàng, thì doanh nghiệp có những chính sách đào tạo khối nhân viên,
đãi ngộ thoả đáng với nhiệm vụ của họ. Doanh nghiệp cần tổ chức tốt các
hoạt động dịch vụ sau bán hàng để đảm bảo nhanh, thuận tiện, hiệu qủa để
duy trì, củng cố, mở rộng hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
III. CẠNH TRANH TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1. Bản chất của cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm
Cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm là một loại hình cạnh tranh trong đó doanh
nghiệp cũng phải tìm mọi cách để giành giật những lợi thế để tiêu thụ tối đa
sản phẩm của mình trong điều kiện cho phép. Bởi vì mục đích cuối cùng của
doanh nghiệp là tiêu thụ được sản phẩm. Để thắng nổi sự bao vây của các đối
thủ cạnh tranh doanh nghiệp phải có một vị trí nhất định cũng như chiếm lĩnh
được những phần thị trường nhất định. Môi trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi
bắt buộc các doanh nghiệp phải đưa ra những biện pháp kích thích tiêu thụ
nhiều sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh. Mỗi doanh nghiệp có một thế
mạnh riêng nếu phát hiện ra và biết tận dụng các lợi thế đó thì doanh nghiệp
sẽ cạnh tranh được với các đối thủ của mình. Doanh nghiệp cần phải hiểu rõ
được những điểm mạnh, điểm yếu của mình và của đối thủ cạnh tranh để có
những biện pháp nghiên cứu thị trường một cách sâu sắc cẩn thận cùng với
các biện pháp khác để nâng cao mức tiêu thụ sản phẩm, tạo uy tín cho doanh
nghiệp trên thị trường. Có thể kết luận rằng năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
- Các biện pháp xúc tiến bán hàng là các biện pháp có thể làm tăng
lượng hàng hoá bán ra do tạo được những lợi ích vật chất bổ sung cho người
mua. Các lợi ích vật chất bổ sung như ưu đãi cho khách hàng mua hàng
thường xuyên, thưởng cho các đại lý bán được nhiều hàng có tác dụng rất
mạnh mẽ tác động trực tiếp đến tâm lý và tạo điều kiện tốt trong việc tiêu thụ
sản phẩm. Một số biện pháp khác được dùng kết hợp cùng với quảng cáo
như: tham gia hội chợ triển lãm, tặng quà khuyến mại, chiết khấu cho khách
hàng khi thanh toán…Bên cạnh đó cần phải mở rộng quan hệ với công chúng
bằng các hoạt động: mở rộng các chiến dịch tuyên truyền sản phẩm, tham gia
các hoạt động công ích doanh nghiệp, mở rộng quan hệ với báo, đài…đã và
đang khắc dấu ấn và đi sâu vào tâm trí khách hàng. Doanh nghiệp sẽ được
biết đến không chỉ có sản phẩm tốt mà còn phải là doanh nghiệp có uy tín rất
lớn trên thương trường.
2.3. Biện pháp thuộc về nghệ thuật bán hàng và chăm sóc khách hàng
Điều cuối cùng và quyết định thành công của doanh nghiệp là phải bán
được hàng. Do đó có thể khẳng định rằng một doanh nghiệp tốt là một doanh
nghiệp bán được nhiều hàng. Để bán được nhiều hàng doanh nghiệp cần sử
dụng những biện pháp thuộc về nghệ thuật bán hàng và chăm sóc khách
hàng. Bán hàng là khâu cuối cùng quyết định kết quả của quá trình sản xuất
kinh doanh vì nó ảnh hưởng ngay đến lợi ích của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các nhân viên bán hàng trực tiếp của doanh nghiệp là cầu
nối giữa doanh nghiệp và khách hàng. Đòi hỏi nhân viên của doanh nghiệp
phải linh hoạt, khôn khéo, có trình độ nhận thức, khả năng giao tiếp, sự hiểu
biết về sản phẩm, được huấn luyện các phương pháp và ứng xử với khách
hàng một cách thông minh, lịch sự.
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
18
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
Nghệ thuật bán hàng còn được thể hiện qua việc doanh nghiệp luôn luôn
tạo ra những điều kiện thuận lợi cho khách hàng: đa dạng hóa các hình thức
- Các doanh nghiệp được hình thành và phát triển trên cơ sở của pháp
luật. Môi trường chính trị pháp luật đồng bộ, chặt chẽ là cơ sở vững chắc để
các doanh nghiệp hoạt động ổn định. Với môi trường chính trị pháp luật quy
định thì doanh nghiệp sẽ được hưởng quyền lợi và phải có nghĩa vụ đối với
Nhà nước. Hệ thống pháp luật của Nhà nước có ảnh hưởng sâu sắc đến giá
thành các mặt hàng và người tiêu dùng.
- Các yếu tố về văn hoá như: phong tục tập quán, trình đôi văn hoá,
phong cách sống v.v…có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng.
Các vùng khác nhau thì có mức thu nhập, phong cách sống và nền văn hoá
khác nhau vì thế có ảnh hưởng nhất định đến hành vi mua của dân cư trong
các vùng đó.
- Chúng ta đang sống và làm việc trong thời đại bùng nổ thông tin, trình
độ khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, vì thế việc ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh là rất cần thiết và cấp bách. Các doanh
nghiệp áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong quá trình sản xuất sẽ giúp
cho chất lượng sản phẩm được nâng cao, chi phí giảm, rút ngắn thời gian sản
xuất, giá thành sản phẩm hạ v.v…khả năng cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm
cũng sẽ tăng.
1.2. Môi trường tác nghiệp
1.2.1. Nhà cung cấp
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
20
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
Nhà cung cấp cung cấp các nguyên vật liệu, thiết bị, công nhân, vốn,
công nghệ…Các doanh nghiệp muốn đảm bảo cho sản xuất tiêu thụ của mình
được nhịp nhàng thì các yếu tố đầu vào phải được cung cấp đầy đủ đúng kế
hoạch, tiến độ. Tuy nhiên nhà cung cấp có thể gây một áp lực mạnh trong
hoạt động của doanh nghiệp bằng cách giảm bớt cung cấp trong những điều
kiện cần ưu tiên hay tăng cường cung cấp trong khi doanh nghiệp không có
nhu cầu tăng đầu vào.
tâm đầu tiên là chất lượng của sản phẩm.
2.2. Các nhân tố thuộc nguồn lực của doanh nghiệp
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là số lượng nhân lực, cơ cấu tuổi
nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, cơ cấu cấp bậc nhân lực, cơ cấu tổ chức
của bộ máy, cơ sở vật chất kỹ thuật…có tác động lớn đến hoạt động sản xuất
kinh doanh và năng lực cạnh tranh tiêu thụ của Công ty. Nguồn nhân lực của
Công ty ổn định và vững mạnh thì Công ty càng có khả năng cạnh tranh tiêu
thụ sản phẩm.
2.3. Các nhân tố thuộc về bán hàng, nghiên cứu thị trường và giới
thiệu sản phẩm
Khâu bán hàng là một khâu quyết định đến khả năng tiêu thụ sản phẩm
của Công ty. Công ty cần có nhiều hình thức bán hàng khác nhau và các
phương thức thanh toán để thu hút được nhiều khách hàng. Bên cạnh đó
Công ty cần đa dạng hoá các phương thức thanh toán và nhiều hình thức bán
để người tiêu dùng thuận tiện và dễ dàng khi mua bán với Công ty.
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
22
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
V. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TIÊU THỤ XE MÁY CỦA CÔNG TY PHÁT TRIỂN KINH TẾ KỸ
THUẬT VIỆT NAM
Hiện nay, sự cạnh tranh trên thị trường của các thành phần kinh tế ngày
càng gay gắt, khốc liệt. Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh
nghiệp Việt Nam là một việc làm quan trọng và cần thiết. Cạnh tranh là hiện
tượng phổ biến mang tính quy luật ở hầu khắp các lĩnh vực kinh tế - xã hội,
nó được xem là cơ sở tồn tại là động lực thúc đẩy sự phát triển. Nếu nhiều
doanh nghiệp cùng sản xuất một loại mặt hàng thì sản phẩm của doanh
nghiệp nào có những đặc tính nổi trội hơn so với sản phẩm của doanh nghiệp
khác thì sẽ tiêu thụ được nhiều trên thị trường. Tuy nhiên doanh nghiệp cũng
cần phải có những biện pháp tiêu thụ hợp lý để giành thế chủ động trên
(9)
(18, tr 27)
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
24
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
PHẦN II: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY PHÁT TRIỂN KINH TẾ KỸ THUẬT VIỆT NAM
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY PHÁT TRIỂN KINH TẾ KỸ THUẬT
VIỆT NAM
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ
thuật Việt Nam
Xuất phát từ thực tiễn phong trào học sinh, sinh viên, Ban bí thư Trung
Ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Ban thường vụ Hội học
sinh sinh viên Việt Nam đã lên phương án, điều lệ để thành lập Công ty Phát
triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam vào tháng 07 năm 1990, với mục đích lấy lợi
nhuận trong kinh doanh của Công ty để tăng cường quỹ học bổng của Hội
học sinh sinh viên Việt Nam cấp cho sinh viên, học sinh nghèo vượt khó, các
tài năng trẻ trên toàn quốc, đồng thời tạo việc làm cho sinh viên.
Vào ngày 02 tháng 09 năm 1990, được sự uỷ nhiệm của Ban bí thư
Trung Ương Đoàn, Ban thường vụ Hội học sinh sinh viên Việt Nam quyết
định thành lập Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam số 45/QĐ-
TWH.
Theo chủ trương của Nhà nước, Công ty đã được thành lập lại theo
quyết định số 1398/QĐUB ngày 03/04/1993 do UBND Thành phố Hà Nội
Sinh viên: Lưu Thị Dương Lớp: QLKT 44A
25