Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
BẢNG LIỆT KÊ CHỮ VIẾT TẮT
CPTM Cổ phần thương mại
DK Dài hạn
DV Dịch vụ
GTGT Giá trị gia tăng
GTVT Giao thông vận tải
KH & KT Khoa học và kỹ thuật
NXB Nhà xuất bản
TC – HC Tổ chức - hành chính
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TP Thành phố
TT Trung tâm
TWĐ Trung Ương Đoàn
TWH Trung Ương hội
QĐU Quyết định uỷ ban
QĐ Quyết định
UBND Uỷ ban nhân dân
VLXD Vật liệu xây dựng
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
LỜI MỞ ĐẦU
Hoà mình vào sự phát triển của nền kinh tế với xu hướng toàn cầu hoá
và tự do hoá thương mại ngày càng tăng trên thế giới và sẽ là những động lực
quan trọng nhất thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ. Cùng với xu
hướng này nước ta đã bắt đầu đổi mới và tham gia vào các hoạt động quốc tế
và khu vực. Tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam có phần muộn màng so
với các nước khác nên cũng có nhiều những thuận lợi và khó khăn nhất định.
Khi gia nhập tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thì sự di chuyển hàng hoá,
dịch vụ, tài chính, và các yếu tố khác qua biên giới ngày càng gia tăng. Điều
tương lai.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của công tác tiêu thụ sản
phẩm, thực tiễn của Công ty qua thời gian thực tập tại Công ty với những
kiến thức đã được trang bị trong thời gian học tại trường, em mạnh dạn chọn
đề tài ”Nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ xe máy tại Công ty Phát triển
Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam” để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp cùng một
mong muốn là có được những đóng góp thiết thực cho công tác tiêu thụ sản
phẩm tại Công ty.
Chuyên đề gồm có những phần sau:
Phần I: Những vấn đề về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp.
3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
Phần II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm của Công
ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam.
Phần III: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản
phẩm tại Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam.
Với vị trí là một sinh viên của khối kinh tế với kiến thức còn hạn chế,
kinh nghiệm thực tế chưa nhiều, năng lực bản thân còn hạn chế nên bài viết
không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự giúp
đỡ, đóng góp nhiệt tình của các thầy cô giáo, các cô chú trong Công ty và các
bạn để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo TS. Bùi Đức Thọ,
Phòng Kế toán – Tài chính, Phòng Tổ chức, cùng các cán bộ công nhân viên
Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam đã tận tình giúp đỡ em trong
thời gian thực tập để em hoàn thiện chuyên đề này.
4
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
tích cực giúp cho xã hội luôn luôn phát triển. Trong khi đó cạnh tranh sẽ đem
lại lợi ích cho một nhóm người và cũng đem lại thiệt hại cho một nhóm người
khác. Cạnh tranh có chức năng vô cùng quan trọng đối với toàn bộ nền kinh
tế quốc dân. Trên thị trường thì cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá. Khi
một loại hàng hoá nào đó được cung cấp nhiều hơn cầu trên thị trường, do đó
sẽ có sự cạnh tranh giữa các người bán hàng hoá với nhau làm cho giá cả
giảm xuống. Các doanh nghiệp muốn tồn tại được phải hạ giá bán sản phẩm,
tức là phải tự cải tiến công nghệ và trang thiết bị kỹ thuật hay phương thức
quản lý của mình để tạo ra sản phẩm với giá thành thấp hơn các đối thủ cạnh
tranh đang tồn tại. Ngược lại khi cung hàng hóa thấp hơn cầu, giá cả hàng
hoá sẽ tăng lên, lợi nhuận của doanh nghiệp cao. Các doanh nghiệp sẽ đầu tư
thêm vốn nâng cao năng lực sản xuất…Tóm lại cạnh tranh là một động lực
rất quan trọng nhất làm để các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất vì
các doanh nghiệp luôn luôn chú ý đến cải tiến công nghệ, trang bị sản xuất
hay phương thức sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh
tranh, vì cạnh tranh sẽ giúp cho các doanh nghiệp có khả năng thì ngày càng
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
vững mạnh còn các doanh nghiệp nhỏ bé yếu ớt sẽ bị phá sản. Cạnh tranh là
một yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp đang tồn tại được sẽ ngày càng nâng
cao khả năng của mình trên thị trường, là cơ hội tốt để các doanh nghiệp sẵn
sàng cho xu thế hội nhập của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3. Các biện pháp cạnh tranh
3.1. Cạnh tranh bằng sản phẩm
Theo quan điểm của Marketing thì “Sản phẩm là tất cả những cái, những
yếu tố có thể thoả mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị
trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng.”
(3)
Hiện nay, biện pháp cạnh tranh bằng sản phẩm được các doanh nghiệp quan
Do đó, để sản phẩm cạnh tranh được bằng chất lượng thì doanh
nghiệp không ngừng cải tiến kỹ thuật để sản phẩm đáp ứng, thoả mãn được
nhu cầu của khách hàng.
3.1.2. Đa dạng hoá sản phẩm
Sản phẩm là những cái, những yếu tố được bán ra trên thị trường nhằm
thoả mãn nhu cầu, thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng của khách hàng. Với
nền kinh tế thị trường hiện nay, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng là một
trong những phương thức để các doanh nghiệp cạnh tranh bằng sản phẩm.
Tuy nhiên, nếu như hàng hoá chỉ có chất lượng tốt cũng chưa đủ để cạnh
tranh trên thị trường, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách
hàng. Các doanh nghiệp ngày càng phải có xu hướng mở rộng các mặt hàng
đa dạng hoá sản phẩm. Nếu như hàng hoá có chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã
bao gói đẹp nhưng không bắt nhịp với thời đại thì cũng không thể cạnh tranh
được với các đối thủ cạnh tranh. Hiện nay các doanh nghiệp trên thế giới đầu
tư cho nghiên cứu phát triển sản phẩm mới chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ
cấu chi phí nhằm đầu tư nghiên cứu các công nghệ kỹ thuật mới nâng cao
(4)
( 8, tr 422)
8
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
chất lượng và năng suất lao động, tạo sản phẩm mới, độc đáo, hiện đại, đáp
ứng tốt hơn các yêu cầu của khách hàng, qua đó tạo vị trí vững chắc trên thị
trường.
3.2. Cạnh tranh bằng giá
“Giá cả là một phạm trù kinh tế tổng hợp, tồn tại một cách khách quan
cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hoá. Đồng thời, giá cả
cũng là tín hiệu phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa người bán và người mua;
giữa nhà sản xuất với thị trường và xã hội.”
(5)
Giá cả là một chỉ số rất quan
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng cạnh tranh tương đối
của một doanh nghiệp trong tương quan với các chủ thể kinh doanh khác.
Không có năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và phát
triển trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Năng lực cạnh tranh nâng cao
mức tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào hệ thống kênh phân phối của
doanh nghiệp. Kênh phân phối là cầu lối trung gian giữa nhà sản xuất đến
người tiêu dùng. Nếu như không có kênh phân phối thì nhà sản xuất gần như
không thể thực hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Bởi vì
nhà sản xuất muốn phân phối được nhiều sản phẩm thì cần rất nhiều khâu
trung gian thương mại. Các khâu trung gian nằm giữa người sản xuất và
người tiêu dùng là các thành viên quan trọng trong nhiều kênh phân phối.
Một số loại trung gian thương mại chủ yếu: nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lý
và môi giới, nhà phân phối. Một số mạch, kênh phân phối là:
(6)
(6, tr 320)
10
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
Sơ đồ: Các kênh phân phối cho sản phẩm tiêu dùng cá nhân
(6)
3.4. Cạnh tranh bằng sức khuyếch trương
3.4.1. Quảng cáo
“Quảng cáo là công cụ truyền thông được sử dụng khá phổ biến đặc biệt
là trong thị trường hàng tiêu dùng cá nhân.”
(7)
Mỗi doanh nghiệp có những
loại hàng hoá, do đó đối tượng khách hàng khác nhau cho nên hoạt động
quảng cáo phải khác nhau để phù hợp cho những đối tượng nhận tin khác
nhau. Để hoạt động quảng cáo đem lại hiệu quả cao thì các doanh nghiệp cần
xác định được mục tiêu, ngân sách, nội dung, phương tiện, chương trình dành
khác việc lựa chọn phương tiện quảng cáo còn phải chú ý đến sự thích hợp
với hàng hoá, tính đặc thù của thông tin, chi phí cho quảng cáo, hay mức độ
trung thành của khách hàng đối với một số loại phương tiện nhất định…Một
số phương tiện mà các doanh nghiệp thường sử dụng để quảng bá rộng rãi
hình ảnh sản phẩm của mình để lôi cuốn, kích thích người tiêu dùng: Báo,
Tạp chí, ti vi, radio hay quảng cáo qua panô áp phích, computermarketing,
qua catalog v.v..
3.4.2. Tuyên truyền
Tuyên truyền là sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng,không mất
tiền để truyền tin về hàng hoá, dịch vụ, hay chính doanh nghiệp với khách
hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có
thể tuyên truyền cho sản phẩm, tuyên truyền hợp tác, hay tuyên truyền về xử
lý một vụ việc bất lợi cho doanh nghiệp đang bị lan rộng ra ngoài v.v…
Tuyên truyền phải chi tiết hoá đối với sản phẩm của doanh nghiệp để thuyết
phục hướng dẫn, khuyên nhủ, vận động, thuyết minh v.v.. công chúng trên thị
trường.
12
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
3.4.3. Xúc tiến bán (khuyến mại)
Xúc tiến bán hàng là sử dụng một nhóm các công cụ cổ động, kích thích
khách hàng nhằm tăng nhanh nhu cầu về sản phẩm tại chỗ một cách tức thì.
Xúc tiến bán hàng (khuyến mại) là đem lại lợi ích vật chất bổ sung cho người
mua để phục vụ mục đích tăng doanh số cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
lựa chọn nhiều phương tiện xúc tiến bán: nhóm công cụ tạo nên lợi ích kinh
tế trực tiếp để thúc đẩy người tiêu dùng và nhóm công cụ thúc đẩy hoạt động
của các trung gian trong kênh phân phối. Các doanh nghiệp muốn thực hiện
tốt hoạt động xúc tiến bán thì phải có chương trình phù hợp với điều kiện và
hoàn cảnh của doanh nghiệp.
3.4.4. Bán hàng cá nhân
Bán hàng cá nhân không giống như quảng cáo, tuyên truyền, xúc tiến
chấp nhận thanh toán tiền và nhận hàng thì quá trình thực hiện giá trị hàng
hoá là kết thúc.
2. Nội dung của chủ yếu của tiêu thụ sản phẩm
2.1. Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập, xử lý và phân tích số liệu về
thị trường một cách có hệ thống. Đây là một công việc để xác định khối
lượng, giá bán của sản phẩm khi đem ra tiêu thụ trên thị trường. Khi nghiên
cứu thị trường ta xác định được cả thị trường hiện tại và tương lai của sản
phẩm của doanh nghiệp mình tức là phải hướng tới những thị trường tiềm
năng của sản phẩm. Trong khi nghiên cứu thị trường phải nắm được sự biến
đổi nhu cầu của khách hàng và những biến đổi về thu nhập và giá cả từ đó
(8)
(4, tr207)
14
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
Công ty có những chiến lược kinh doanh hợp lý và tiêu thụ đúng đắn phù
hợp. Trong khi nghiên cứu thị trường cần phải nghiên cứu cung cầu về sản
phẩm để hiểu rõ các đối thủ cạnh tranh hiện tại và trong tương lai, nghiên cứu
mạng lưới tiêu thụ để thấy được những ưu điểm và nhược điểm từng kênh
tiêu thụ, có thể lượng hoá được mức độ ảnh hưởng của mỗi một nhân tố đến
kết quả tiêu thụ và phân tích được công tác bán hàng của doanh nghiệp và các
đối thủ cạnh tranh.
2.2. Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
Sau khi nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp cần tiến hành lập kế hoạch
cho khâu tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp cần lập lên kế hoạch bán hàng, kế
hoạch chi phí kinh doanh cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm, kế hoạch quảng
cáo. Các bước của khâu kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là: chuẩn bị tiêu thụ, thực
hiện tiêu thụ, kiểm tra quá trình chuẩn bị và thực hiện tiêu thụ sản phẩm.
2.3. Các hoạt động truyền thông
Các hoạt động truyền thông bao gồm: quảng cáo, khuyến khích bán
Cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm là một loại hình cạnh tranh trong đó doanh
nghiệp cũng phải tìm mọi cách để giành giật những lợi thế để tiêu thụ tối đa
sản phẩm của mình trong điều kiện cho phép. Bởi vì mục đích cuối cùng của
doanh nghiệp là tiêu thụ được sản phẩm. Để thắng nổi sự bao vây của các đối
thủ cạnh tranh doanh nghiệp phải có một vị trí nhất định cũng như chiếm lĩnh
được những phần thị trường nhất định. Môi trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi
bắt buộc các doanh nghiệp phải đưa ra những biện pháp kích thích tiêu thụ
nhiều sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh. Mỗi doanh nghiệp có một thế
16
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
mạnh riêng nếu phát hiện ra và biết tận dụng các lợi thế đó thì doanh nghiệp
sẽ cạnh tranh được với các đối thủ của mình. Doanh nghiệp cần phải hiểu rõ
được những điểm mạnh, điểm yếu của mình và của đối thủ cạnh tranh để có
những biện pháp nghiên cứu thị trường một cách sâu sắc cẩn thận cùng với
các biện pháp khác để nâng cao mức tiêu thụ sản phẩm, tạo uy tín cho doanh
nghiệp trên thị trường. Có thể kết luận rằng năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp tạo ra những lợi thế so
với các đối thủ cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm nhằm đáp ứng các
yêu cầu thị trường.
2. Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ
2.1. Các biện pháp thuộc về sửa đổi hàng hoá
Sửa đổi hàng hoá sẽ tạo nên sự khác lạ so với hàng hoá cũ nhằm tiêu thụ
được nhiều sản phẩm hơn. Các biện pháp sửa đổi như đóng gói lại, sửa màu
hàng hoá, đa dạng hoá về khối lượng, giá bán, tên hay mùi vị...Đây là hình
thức cạnh tranh chủ yếu của các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp lựa chọn
được trình độ sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường, nhạy bén trong
cách thay đổi sửa đổi hàng hoá thì doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnh
tranh tiêu thụ sản phẩm.
2.2. Các biện pháp hỗ trợ và xúc tiến bán hàng
dụng những biện pháp thuộc về nghệ thuật bán hàng và chăm sóc khách
hàng. Bán hàng là khâu cuối cùng quyết định kết quả của quá trình sản xuất
kinh doanh vì nó ảnh hưởng ngay đến lợi ích của doanh nghiệp.
18
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
Bên cạnh đó, các nhân viên bán hàng trực tiếp của doanh nghiệp là cầu
nối giữa doanh nghiệp và khách hàng. Đòi hỏi nhân viên của doanh nghiệp
phải linh hoạt, khôn khéo, có trình độ nhận thức, khả năng giao tiếp, sự hiểu
biết về sản phẩm, được huấn luyện các phương pháp và ứng xử với khách
hàng một cách thông minh, lịch sự.
Nghệ thuật bán hàng còn được thể hiện qua việc doanh nghiệp luôn luôn
tạo ra những điều kiện thuận lợi cho khách hàng: đa dạng hóa các hình thức
bán, mở cửa trước giờ, kéo dài thời gian…
Dịch vụ chăm sóc khách hàng đóng vai trò không nhỏ để nâng cao năng
lực cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp đặc biệt là trong thời kỳ
hiện nay. Những mặt hàng khác nhau có những dịch vụ chăm sóc không
giống nhau. Một nghệ thuật bán hàng và chăm sóc khách hàng tốt là không
nên để mất lòng một khách hàng nào.
IV. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP
1. Nhân tố ngoài doanh nghiệp
1.1. Môi trường vĩ mô
- Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng rất quan trọng đến khả năng cạnh
tranh tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp. Các yếu tố (khí hậu, đất đai,
nước, tài nguyên thiên nhiên…) là điều kiện quan trọng, một yếu tố không
nhỏ và có ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi thì quá trình sản xuất, vận
chuyển, phân phối, tiêu thụ sản phẩm sẽ thuận lợi, doanh nghiệp sẽ không
phải bỏ nhiều chi phí cho quá trình vận chuyển. Ngược lại, nếu môi trường tự
nhiên không thuận lợi có tác động xấu đến quá trình sản xuất và kinh doanh
cũng sẽ tăng.
1.2. Môi trường tác nghiệp
1.2.1. Nhà cung cấp
Nhà cung cấp cung cấp các nguyên vật liệu, thiết bị, công nhân, vốn,
công nghệ…Các doanh nghiệp muốn đảm bảo cho sản xuất tiêu thụ của mình
được nhịp nhàng thì các yếu tố đầu vào phải được cung cấp đầy đủ đúng kế
hoạch, tiến độ. Tuy nhiên nhà cung cấp có thể gây một áp lực mạnh trong
hoạt động của doanh nghiệp bằng cách giảm bớt cung cấp trong những điều
kiện cần ưu tiên hay tăng cường cung cấp trong khi doanh nghiệp không có
nhu cầu tăng đầu vào.
1.2.2. Nhà phân phối
Nhà phân phối là một bộ phận quan trọng giải quyết vấn đề sản phẩm
được đưa như thế nào đến người tiêu dùng, là những trung gian thực hiện các
chức năng phân phối trên thị trường công nghiệp. Năng lực cạnh tranh tiêu
thụ sản phẩm của các doanh nghiệp được nâng cao phụ thuộc rất nhiều vào
khả năng tiêu thụ sản phẩm của nhà phân phối. Vì thế các doanh nghiệp cần
phải chú ý đến nhiều đến các nhà phân phối.
1.2.3. Người tiêu dùng
Người tiêu dùng (khách hàng) là một phần của doanh nghiệp là nhân tố
quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Những người tiêu dùng đã tạo nên
một thị trường rất lớn cho các doanh nghiệp. Thị trường người tiêu dùng bao
gồm các cá nhân, các hộ gia đình, các nhóm người hiện có và đang còn tiềm
21
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
ẩn. Nếu như doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu, mong muốn của
khách hàng có nghĩa là doanh nghiệp đã bị thất bại trên thị trường cạnh tranh.
1.2.4. Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là một cản trở rất lớn mà bất kỳ một doanh nghiệp
muốn tồn tại thì phải tự vượt qua. Thị trường mà có nhiều đối thủ cạnh tranh
thì nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm của Công ty ngày là rất
càng gay gắt, khốc liệt. Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh
nghiệp Việt Nam là một việc làm quan trọng và cần thiết. Cạnh tranh là hiện
tượng phổ biến mang tính quy luật ở hầu khắp các lĩnh vực kinh tế - xã hội,
nó được xem là cơ sở tồn tại là động lực thúc đẩy sự phát triển. Nếu nhiều
doanh nghiệp cùng sản xuất một loại mặt hàng thì sản phẩm của doanh
nghiệp nào có những đặc tính nổi trội hơn so với sản phẩm của doanh nghiệp
khác thì sẽ tiêu thụ được nhiều trên thị trường. Tuy nhiên doanh nghiệp cũng
cần phải có những biện pháp tiêu thụ hợp lý để giành thế chủ động trên
thương trường thì mức tiêu thụ sẽ tăng.
Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam mới được thành lập hơn
10 năm và đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên là một Công ty
mới thành lập nên kinh nghiệm mà Công ty có được còn hạn chế. Sản phẩm
xe máy của Công ty đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Với điều kiện xe
23
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KHQL
máy đang là phương tiện giao thông phổ biến ở nước ta. Thị trường xe máy
Việt Nam ước tính trên 500.000 xe/năm. Các dự báo cho rằng nhu cầu nội địa
trên 1.600.000 xe vào năm 2006. “Thị trường nội địa rộng lớn với mức bình
quân 7,1 người/xe (năm 2003) và sẽ bão hoà khi tới mức 5 - 6 người/xe vào
các năm 2008 và tính riêng khu vực nông thôn thời điểm bão hoà sẽ vào năm
2011 – 2012. Khu vực thị trường này sẽ là nơi tiêu thụ các loại xe giá thấp 7-
10 triệu đồng/xe, phù hợp với trình độ sản xuất hiện tại của các doanh nghiệp
trong nước.”
(9)
Hiện nay xe máy của Công ty đang tiêu thụ chậm trên thị
trường. Một cơ hội rất lớn đang mở ra cho các doanh nghiệp sản xuất xe máy
trong nước nói chung và Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam nói
riêng. Để khẳng định được vị trí của mình trên thị trường cạnh tranh thì đòi
hỏi Công ty cần phải có những cải tiến mọi mặt để nâng cao được chất lượng
của sản phẩm để tồn tại và phát triển trong thời gian tới. Công ty đang gặp