SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO
DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
ĐẠT HIỆU QUẢ
Người thực hiện: Mai Thị Oanh
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường TH Xuân Bái –Thọ Xuân
SKKN thuộc lĩnh vực(môn): Toán
THANH
NĂM
2016
PHẦNHÓA
I : MỞ
ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên. Trong các môn dạy ở
cấp Tiểu học thì môn Toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then
chốt trong nội dung chương trình các môn học mà các em học sinh được học. Các
kiến thức kĩ năng của môn toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống,
chúng rất cần cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở tiểu học
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu SGK để nắm được nội dung chương trình trên cơ sở lí luận thực
tiễn nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy giải toán có lời văn.
2
- Từ đó tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh
khi giải toán có lời văn.
- Đưa ra một số biện pháp khắc phục những sai lầm, yếu kém cho học sinh khi
giải toán có lời văn.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng: Học sinh lớp 2B và 4A trường Tiểu học Xuân Bái huyện Thọ Xuân
Tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian: Thực hiện từ tuần 6 đến tuần 17.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện mục đích đề ra của sáng kiến này, tôi đã sử dụng các phương pháp
sau:
1. Phương pháp chính.
- Nghiên cứu lý luận
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm.
- Tổng kết và trao đổi kinh nghiệm
2. Phương pháp bổ trợ:
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
- Phương pháp trò truyện
PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1- CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở
và cái phải tìm. Để từ đó các em suy luận, nêu ra những phán đoán, rút ra những
kết luận, thực hiện những phép tính cần thiết để giải quyết vấn đề đặt ra v.v... Hoạt
động trí tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý chí vượt khó,
đức tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, thói quen tự
kiểm tra kết quả công việc mình làm sau khi đã hoàn tất, sự độc lập suy nghĩ và sự
sáng tạo v.v...
Các bài toán số học ở Tiểu học được phân chia thành các bài toán đơn và khối
các bài toán hợp. Để giải quyết được những bài toán này, giáo viên đã biết kết hợp
các phương pháp dạy học: Phương pháp nêu vấn đề, phương pháp giảng giải - minh
hoạ, phương pháp thực hành - luyện tập… Trong chương trình toán hiện hành, học
sinh được làm quen toán có lời văn ngay từ lớp 1 và các lớp khác của bậc Tiểu học.
Hầu hết ở các bài học dạng bài hình thành kiến thức mới hay luyện tập thực hành
bao giờ cũng có ít nhất là một bài toán giải. Các bài toán giải có lời văn được rải
đều tất cả các khối lớp và được nâng cao dần về mức độ. Từ giải toán đơn (1 phép
tính) ở lớp 1 đến giải toán hợp (2 phép tính trở lên) và các bài toán điển hình ở lớp
2, 3, 4, 5. Toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế. Nội dung bài toán
được ghi bằng lời văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, có liên quan
tới cuộc sống thường xảy ra hằng ngày. Cái khó của bài toán có lời văn là phải lược
bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất của bài toán, hay nói cách khác là
chỉ ra các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa trong bài toán và nêu ra phép
tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số bài toán.
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ dạy và học, nhà trường đã gặp những thuận lợi
và khó khăn như sau:
2.1.Thuận lợi:
- Địa phương:
Địa phương Xuân Bái là một trong những địa phương quan tâm nhiều đến công
tác giáo dục. Trong những năm gần đây đời sống kinh tế văn hoá giáo dục của nhân
dân được phát triển, nhận thức có nhiều chuyển biến tốt, con em đi học đã được
phụ huynh quan tâm hơn. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương luôn quan
giải cho phù hợp
- Thậm chí có những học sinh còn chưa biết đặt lời giải, chưa trình bày một bài
giải sao chính xác, đầy đủ, gọn.
- Lời giải không trùng với yêu cầu của phép tính đặt ra.
Các bài tập tôi đã sử dụng để khảo sát kết quả của học sinh trước thời gian
hướng dẫn giải toán cho các em là:
Lớp 2B: Bài kiểm tra lần 1 (Trước tác động):
Bài 1. Trang 28 -Toán 2: Một đội trồng rừng có 27 nữ và 18 nam. Hỏi đội đó
có bao nhiêu người?
Bài 2. Trang 30 -Toán 2: Vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít
hơn vườn nhà Mai 7 cây cam. Hỏi vườn nhà Hoa có mấy cây cam?
Kết quả giải toán của học sinh lớp 2B:
Năm học
TS Học
Kết quả đạt được
5
sinh
Điểm 9-10
SL
TL
2014-2015
31
14
54,5
5
16
24,4
14
41
6
17,6
Bài kiểm tra lần 1 (Trước tác động):
Bài 1: Có 4 gói bánh, mỗi gói cân nặng 150g. Có 2 gói kẹo, mỗi gói cân nặng
200g. Hỏi có tất cả mấy ki-lô-gam bánh và kẹo?
Bài 2: Một cửa hàng ngày đầu bán được 120m vải, ngày thứ hai bán được bằng
½ số vái bán trong ngày đầu, ngày thứ ba bán gấp đôi ngày đầu. Hỏi trung bình
mỗi ngày cửa hàng bán được bao nhiêu mét vải?
Kết quả giải toán của học sinh lớp 4A:
Kết quả đạt được
Điểm 7- 8
Điểm 5 - 6
SL
26
5
19
7
27
9
35
5
19
Điểm 9 - 10
SL
TL
Điểm dưới 5
SL
TL
3. CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG TRÊN:
Từ thực trạng trên tôi đã tìm hiểu nguyên nhân. Cụ thể là:
* Về phía giáo viên: Một số giáo viên chưa coi trọng việc hướng dẫn tổ chức
luận chặt chẽ và hợp lôgíc; trình bày bài giải hợp lí, sạch sẽ, đẹp mắt và còn bồi
dưỡng năng khiếu cho các em. Để đảm bảo được các chức năng và nhiệm vụ khi
giảng dạy học sinh giải toán có lời văn người giáo viên cần coi trọng các bước khi
hướng dẫn học sinh tham gia vào giải toán có lời văn trong mỗi bài tập từ đó tạo
thói quen cho học sinh trước khi giải một bài toán có lời văn cần phải thực hiện qua
các bước đó.
Thông qua việc hướng dẫn học sinh các bước giải toán có lời văn sẽ giúp học
sinh nắm vững cách giải toán có lời văn.
Mỗi lần tổ chức cho HS lập sơ đồ cách giải cho mỗi bài toán là đã giúp học sinh
củng cố và khắc sâu được vốn kiến kiến thức mà các em đã lĩnh hội.
Sau khi khảo sát chất lượng giải toán đầu năm học, Giáo viên phải nắm bắt
được tình hình học sinh qua kĩ năng giải toán có lời văn đồng thời tìm hiểu những
sai lầm mà các em thường mắc phải khi giải toán có lời văn. Cụ thể, tôi đã chỉ đạo
giáo viên xây dựng các biện pháp như sau:
4.1 Biện pháp thứ nhất: Gợi nhu cầu nhận thức cho học sinh
Nhà tâm lí học Pôlya nói: “… Con người chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu.
Hoạt động nhận thức chỉ có kết quả cao khi chủ thể ham thích, tự giác và tích cực”.
(Pôlya, Tâm lý học, Tập II, Tr 128)
Do đó trong dạy học giải toán cần khéo léo sử dụng các phương pháp thích hợp
có tác dụng khêu gợi và kích thích sự chú ý, tích cực hoá hoạt động tư duy của học
sinh, làm cho học sinh nhận thức được đầy đủ ý nghĩa thực tiễn của giờ đang học.
Đồng thời xây dựng niềm tin vào khả năng cho học sinh, làm cho học sinh cảm
thấy rằng nếu mình tập trung, chịu khó học tập thì sẽ thu lượm được những kết quả
tốt đẹp có ích cho bản thân, vừa lòng thầy cô, cha mẹ. Đặc thù của việc giải toán
đòi hỏi có các đức tính cần cù, chịu khó, tỉ mỉ, nhẫn nại, thẩm mĩ,… nhưng học
sinh tiểu học do tâm lý lứa tuổi thường hay phân tán sự tập trung, chóng chán. Hoạt
động gợi nhu cầu nhận thức, gây hứng thú môn học có thể được sử dụng linh hoạt
trong quá trình giảng dạy. Không nhất thiết, đơn thuần chỉ sử dụng ngay đầu tiết
dạy.
4.2. Biện pháp thứ 2: Cá biệt hoá từng cá nhân
4.4. Biện pháp thứ 4: Xác định cách thức tổ chức dạy học giải toán ở Tiểu
học
Điều quan trọng và chủ yếu của việc dạy học giải toán là giúp cho học sinh tự
mình tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của
bài toán và thiết lập được các phép tính số học tương ứng. Để tiến hành được điều
đó người ta đã xác định được ba mức độ sau đây:
- Mức độ thứ nhất: Bao gồm các hoạt động chuẩn bị cho việc giải bài toán.
- Mức độ thứ hai: Các hoạt động giúp học sinh làm quen với việc giải bài toán.
- Mức độ thứ ba: Bao gồm các hoạt động để hình thành các kĩ năng để giải bài
toán.
a. Hoạt động chuẩn bị cho việc giải bài toán:
- Trong nhiều trường hợp, nhất là ở các lớp đầu bậc Tiểu học, học sinh cần được
rèn luyện các thao tác ở trên lớp từ tập hợp các nhóm đồ vật, các mẫu hình… Ví
dụ: Một bên có 3 mẫu vật, một bên có 5 mẫu vật → ta gộp hai nhóm lại với nhau…
8
- Phần lớn các bài toán đều có chủ đề liên quan đến các đại lượng và mối quan
hệ giữa các đại lượng trong bài toán đó. Vì thế, việc rèn luyện các kĩ năng thao tác
thông qua việc học về phép đo đại lượng là rất cần thiết để chuẩn bị cho việc giải
bài toán. Ngoài ra cần yêu cầu học sinh vận dụng chắc các công thức, quy tắc toán
học.
- Việc giải bài toán hợp thực chất là là giải một hệ thống các bài toán đơn. Do đó
việc học kĩ các bài toán đơn cũng chính là một công việc chuẩn bị có ý nghĩa cho
việc học giải các bài toán hợp.
b. Hoạt động giúp học sinh làm quen với việc giải bài toán (Xác định rõ các
bước giải một bài toán)
Hoạt động này được hình thành theo bốn bước sau đây:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung của bài toán:
Việc tìm hiểu nội dung bài toán (đề toán) thường thông qua việc đọc bài toán dù
- Có thể biết được số cuốn sách trong các bao nhỏ được chưa? (có thể được). Vì
sao? (Vì đã biết được số bao nhỏ và biết số cuốn sách trong mỗi bao nhỏ).
- Trước tiên ta sẽ tìm là gì? (Tìm số cuốn sách có trong các bao nhỏ). Bằng cách
nào? (Lấy 10 nhân với 8).
- Tiếp theo ta tìm cái gì? (Tìm số cuốn sách có trong các bao lớn). Bằng cách
nào? (Lấy tổng số sách (180) trừ đi số sách có trong các bao nhỏ vừa tìm được).
- Sau khi tìm được số sách của các bao lớn thì ta tìm gì nữa? (Tìm số bao lớn).
Bằng cách nào? (Lấy kết quả của phép tính thứ hai đem chia cho 20). Vậy ta đã trả
lời được câu hỏi của bài toán chưa? (Rồi).
Cách 2: Hướng dẫn “Xuất phát từ dữ kiện đến câu hỏi của bài toán”
(Đường lối tổng hợp)
- Từ 8 bao nhỏ, mỗi bao có 10 cuốn sách giáo khoa ta có thể biết được cái gì? (Số
cuốn sách trong các bao nhỏ) Bằng cách nào? (Lấy 10 nhân 8).
- Từ tổng số sách đã cho là 180 cuốn và biết được số sách trong các bao nhỏ ta có
thể biết được cái gì? (Biết được số cuốn sách trong các bao lớn). Bằng cách nào?
(Lấy tổng số sách trừ đi số sách trong các bao nhỏ vừa tìm được).
- Đã biết được mỗi bao lớn đựng 20 cuốn sách và tìm được số sách đụng trong các
bao lơn thì ta có thể biết được gì? (Biết được số bao lớn). Bằng cách nào? (Lấy số
sách có trong các bao lớn chia cho 20). Kết quả này có phải là đáp án của bài toán
chưa? (đó chính là đáp án của bài toán).
Bước 3: Hướng dẫn thực hiện cách giải bài toán:
Hoạt động này bao gồm việc thực hiện các phép tính đã nêu trong kế hoạch giải
bài toán và trình bày bài giải.
Bài giải:
Số cuốn sách có trong các bao nhỏ là:
10 × 8 = 80 (cuốn)
Số cuốn sách có trong các bao lớn là:
180 – 80 = 100 (cuốn)
được là 325164 cây và số cây ăn quả bằng ½ số cây lấy gỗ. Hỏi huyện đó trồng
được tất cả bao nhiêu cây?
Bài toán 3: Một huyện trồng cây lấy gỗ và cây ăn quả. Biết số cây lấy gỗ trồng
được là 325164 cây và số cây ăn quả bằng ½ số cây lấy gỗ. Hỏi trung bình mỗi loại
có bao nhiêu cây?
- Giải bài toán có nhiều cách khác nhau (VD: Bài toán 2, 3)
- Tiếp xúc với các bài toán thiếu đi một số các dữ liệu đã cho (VD: Bài toán 2,
3)
- Giải các bài toán trong đó phải xét tới nhiều khả năng xảy ra để chọn được một
khả năng thỏa mãn với điều kiện của bài toán.
- Biết lập và biến đổi bài toán (Xây dựng bài toán ngược)
4.5. Biện pháp thứ 5: Xác định dạng toán, phân loại kiểu bài để xây dựng
cách giải.
Căn cứ vào nội dung chương trình môn toán, tôi đã chia dạng toán giải có lời
văn thành hai kiểu bài:
Kiểu 1: Bài toán đã cho biết hết các điều kiện, chỉ cần tìm yêu cầu của bài toán.
Ví dụ 1: Có 56 học sinh xếp đều thành 7 hàng. Hỏi mỗi hàng có bao nhiêu học
sinh? (Bài 3 trang 35 (SGK Toán lớp 3).
Điều kiện bài toán : 7 hàng có: 56 học sinh.
Yêu cầu bài toán: 1 hàng có: … học sinh?
Ví dụ 2: Một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài 35m, chiều rộng 20m. Tính
chu vi mảnh đất đó.
Ví dụ 3: Người ta đổ 128610l xăng vào 6 bể. Hỏi mỗi bể đó có bao nhiêu lít
xăng? (Bài 2 trang 77 SGK Toán lớp 4)
Điều kiện bài toán: 6 bể chứa: 128610l xăng.
Yêu cầu bài toán : 1 bể chứa : …
l xăng?
Kiểu 2: Bài toán chưa biết hết các điều kiện bài toán.
Ví dụ: Một mảnh đất hình chữ nhật có tổng độ dài hai cạnh liên tiếp bằng 307m,
chiều dài hơn chiều rộng 97m.
- Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta làm thế nào? (Lấy chiều dài cộng chiều
rộng (cùng đơn vị đo) rồi nhân với 2.)
Quá trình phân tích trên GV lần lượt hướng dẫn học sinh lập sơ đồ ghi vắn
tắt cách giải như sau:
Chu vi =
( chiều dài
+ chiều rộng )
×
2
35m
20m
Sau khi học sinh đã biết cách phân tích bài toán trước lúc giải một bài toán có
lời văn GV yêu cầu mỗi học sinh tự lập sơ đồ cách giải vào giấy nháp rồi giải bài
toán.
Bước 3: Hướng dẫn thực hiện cách giải bài toán:
Hướng dẫn học sinh nhìn sơ đồ để trình bày hoàn chỉnh bài giải: Tìm đủ điều
kiện bài toán rồi mới tìm yêu cầu)
Bài giải:
Chu vi mảnh đất hình chữ nhật đó là:
(35 + 20) × 2 = 110 (m)
12
Đáp số: 110m
Bước 4: Kiểm tra kết quả của bài toán:
Yêu cầu học sinh tự kiểm tra lại kết quả của bài giải xem đã đúng hay chưa.
*Đối với kiểu bài chưa biết hết các điều kiện bài toán.
Ví dụ 1: Một mảnh đất hình chữ nhật có tổng độ dài hai cạnh liên tiếp bằng
307m, chiều dài hơn chiều rộng 97m.
a/Tính chu vi mảnh đất đó?
Diện tích hình chữ nhật
↓
Chu vi hình chữ nhật
↓
Cạnh
=
chiều dài
×
chiều rộng
=
(chiều dài
||
307
+
chiều rộng)
||
(307 - 97) : 2
=
-
tìm gì? Để tính được diện tích thửa ruộng hình thang hình cần phải biết những điều
kiện nào?
Bước 2: Tìm cách giải của bài toán:
Căn cứ vào dạng toán chúng ta vận dụng cách tóm tắt nào?(ngôn ngữ)
Tóm tắt: Đáy lớn : 36m
Đáy bé : kém đáy lớn 3 lần
Chiều cao: bằng trung bình cộng hai đáy
Diện tích : …m2?
*Ta có thể dùng phương pháp phân tích để hướng dẫn học sinh suy luận như sau:
Muốn tìm được diện tích thửa ruộng ta làm như thế nào? (Lấy tổng độ dài hai
đáy nhân với chiều cao rồi chia cho 2).
Muốn tính đáy bé ta làm như thế nào? (đáy lớn : 3).
Muốn tìm chiều cao ta làm như thế nào? (đáy lớn + đáy bé) : 2
Quá trình phân tích trên GV lần lượt hướng dẫn học sinh lập sơ đồ ghi vắn
tắt cách giải như sau:
Diện tích = (Đáy lớn
36m
+
đáy bé)
đáy lớn : 3
×
chiều cao
:
2
Thùng thứ nhất: ¦
Thùng thứ hai ¦
¦
ا
¦ 2l
?l
*Ta có thể dùng phương pháp phân tích để hướng dẫn học sinh suy luận như
sau:
- Bài toán hỏi gì? (Thùng thứ nhất có 16l dầu, thùng thứ hai có ít hơn thùng thứ
nhất 2l dầu)
- Số dầu ở thùng thứ nhất biết chưa? (Biết rồi )
- Số dầu ở thùng thứ hai biết chưa? (Chưa biết).
- Số dầu ở thùng thứ hai nhiều hay ít hơn số dầu ở thùng thứ nhất? (thùng thứ hai ít
hơn thùng thứ nhất). Ít hơn mấy lít? ( 2l dầu)
- Bài toán thuộc dạng nào? (Bài toán về ít hơn)
Muốn tìm số dầu thùng thứ hai ta làm thế nào? (Lấy số thùng thứ nhất trừ đi 2)
Có thể ghi vắn tắt quá trình phân tích trên bằng sơ đồ
Thùng thứ hai = Thùng thứ nhất – 2
15
Bước 3: Hướng dẫn thực hiện cách giải bài toán:
Từ sơ đồ trên ta có thể đi ngược từ dưới lên để trình bày bài giải như sau:
Bài giải:
Số dầu thùng thứ hai có là:
16 – 2 = 14 (l)
Đáp số: 14l dầu
GV nhắc nhở HS cách ghi đơn vị (chỉ dùng kí hiệu)
- Số bưu ảnh của anh biết chưa? (Biết rồi ).
- Số bưu ảnh của em biết chưa? (Chưa biết). Muốn tìm số bưu ảnh của em ta
làm thế nào? (Lấy số bưu ảnh của anh trừ đi 7).
Có thể ghi vắn tắt quá trình phân tích trên bằng sơ đồ:
Tất cả
||
Anh + Em
||
Anh – 7
16
Bước 3: Hướng dẫn thực hiện cách giải bài toán:
Từ sơ đồ trên ta có thể đi ngược từ dưới lên để trình bày bài giải như sau:
Bài giải:
Số bưu ảnh của em là:
15 – 7 = 8 (tấm)
Tất cả số bưu ảnh của hai anh em là:
15 + 8 = 23 (tấm)
Đáp số: 23 tấm bưu ảnh
Bước 4: Kiểm tra kết quả của bài toán:
Yêu cầu học sinh tự kiểm tra lại kết quả của bài giải xem đã đúng hay chưa.
Có thể dùng các hình thức kiểm tra sau:
- Xét tính hợp lí của đáp số.
- Trong trường hợp bài toán có nhiều cách giải mà tất cả các cách giải đều dẫn
tới cùng một đáp số thì đáp số đó là đúng.
- Thử lại đáp số dựa vào các mối quan hệ giữa các số đã cho và các số phải tìm
bằng cách lập bài toán ngược lại bài toán đã giải, coi đáp số tìm được là số đã biết
và một trong những số đã cho là chưa biết. Nếu tìm thấy đáp số của bài toán ngược
này đúng bằng số đã cho coi là chưa biết ấy thì bài toán đã được giải đúng.
Với những biện pháp như trên tôi đã chỉ đạo Giáo viên thực hiện trong nhiều
năm học khi dạy học sinh giải toán có lời văn. Nhưng từ bắt đầu từ tuần 6 của năm
học 2014 - 2015 trở về sau này tôi đã áp dụng chỉ đạo các biện pháp nêu trên trong
quá trình dạy học giải toán có lời văn một cách toàn diện hơn và đã thu được kết
quả đáng khích lệ. So với những năm học trước, nhiều em học sinh đã biết vận
dụng các bước giải toán vào việc giải các bài toán, xác định được dạng bài toán và
nắm được cách giải, biết đặt lời giải và phép tính tương ứng phù hợp, trình bày bài
giả khá rõ ràng đẹp mắt. Kết quả học tập của các em cũng được nâng cao hơn, tự
tin hơn trong giao tiếp.
Các bài tập tôi đã sử dụng để khảo sát kết quả của học sinh sau thời gian hướng
dẫn giải toán cho các em là:
Lớp 2B: Bài kiểm tra lần 2 (Sau tác động):
Bài 1/Tr 88 - Toán 2: Một cửa hàng buổi sáng bán được 48l dầu, buổi chiều bán
được 37l dâu. Hỏi cả hai buổi cửa hàng đó bán được bao nhiêu lít dầu?
Bài 2/Tr 88 - Toán 2: Bình cân nặng 32kg, An nhẹ hơn Bình 6kg. Hỏi An cân
nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
Kết quả giải toán (sau tác động) của học sinh lớp 2B:
Điểm 9-10
SL
TL
Kết quả đạt được
Điểm 7- 8
Điểm 5-6
SL
TL
SL
TL
20
0
0
Năm học
TS Học
sinh
2014-2015
2015-2016
Điểm dưới 5
SL
TL
Lớp 4A: Bài kiểm tra lần 2 ( Sau tác động):
Bài 1. Trang 89 -Toán 4: Một sân bóng đá hình chữ nhật có diện tích là
7140m2, chiều dài 105m.
a) Tìm chiều rộng sân bóng đá;
b) Tính chu vi sân bóng đá.
Bài 2. Trang 93 -Toán 4: Một trường tiểu học có 672 học sinh, số học sinh nữ
nhiều hơn số học sinh nam là 92 em. Hỏi trường tiểu học đó có bao nhiêu học sinh
nữ, bao nhiêu học sinh nam?
b. Kết quả giải toán (sau tác động) của học sinh lớp 4ª
18
27
11
Điểm 9-10
SL
TL
42,3
8
30,7
Điểm dưới 5
SL
TL
0
0
0
0
Qua so sánh kết quả trước tác động và sau tác động của hai lớp 2B và 4A cho
thấy sự chênh lệch rõ rệt về kết quả giải toán có lời văn của học sinh. Kĩ năng giải
và trình bày bài giải của các em đã tiến bộ rõ rệt. Điều đó chứng tỏ biện pháp này
đã có ảnh hưởng rất lớn tới việc giải toán của học sinh.
19
ví dụ: “Trên cành có 8 quả cam. Mẹ đã hái đem biếu bà 2 quả cam. Hỏi trên cành
còn lại mấy quả cam?”.
Khi học sinh đã viết được phép tính đúng theo yêu cầu của bài tập thì giáo viên
cho học sinh nêu kết quả của bài toán thành câu rõ ý.
Ví dụ: “Trên cành còn lại 6 quả cam.”. Làm như vậy nhằm tạo cơ sở để sau này
giúp các em khỏi bỡ ngỡ khi bước vào học “Bài toán có lời văn” và cũng nhờ vậy
mà khi giáo viên hướng dẫn giải toán các em sẽ nhanh chóng biết cách đặt lời giải.
Ban đầu giáo viên có thể hướng dẫn các em đặt lời giải dựa vào câu hỏi của bài
toán, ví dụ: “Hỏi trên cành còn lại mấy quả cam?”; giáo viên hướng dẫn các em bỏ
chữ “Hỏi”, thay chữ “mấy” thành chữ “số”, thay dấu chấm hỏi thành chữ “là” viết
thêm dấu hai chấm ta được lời giải: “Trên cành còn số quả cam là:” hay “Còn lại số
quả cam là:”.
Vậy, giáo viên có thể vận dụng những kinh nghiệm trên để rèn kĩ năng giải toán
có lời văn cho học sinh các khối lớp 1, 2, 3, 4, 5.
PHẦN III: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Mạch kiến thức giải toán có lời văn được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến
thức cơ bản khác của môn toán ở cấp Tiểu học. Học giải toán có lời văn ở cấp tiểu
học học sinh vừa thực hiện nhiệm vụ củng cố kiến thức toán học đã lĩnh hội đồng
thời vận dụng kiến thức ấy vào giải các bài toán gắn liền với tình huống thực tế của
đời sống. Sau khi học, học sinh tự giải được các bài toán có lời văn là một yêu cầu
cơ bản của dạy học môn toán. Do vậy, trong dạy môn toán đòi hỏi người giáo viên
phải có những kinh nghiệm và những thủ thuật hay để giúp học sinh học tốt vể
mạch kiến thức giải toán có lời văn và đó cũng là nhiệm vụ thiết yếu mà mỗi người
giáo viên phải hoàn thành được.
Từ những kinh nghiệm đã chỉ đạo tôi thấy các em giải các bài toán có lời văn
- Tóm tắt đề toán thường làm thay cho học sinh hoặc cho những em khá, giỏi
hoạt động, những em khác ngồi chơi hoặc nghe nên không nhớ được (vì sợ không
kịp thời gian).
- Thường thì giáo viên hỏi, học sinh nêu và giáo viên giải bài toán lên bảng
để hình khái niệm do đó không phát huy được tính tích cực của học sinh, học sinh
thường chỉ ngồi thụ động: nghe và làm theo.
- Thường giáo viên ít cho học sinh trình bày nhiều cách giải khác nhau của
một bài toán vì sợ mất thời gian. Mặt khác, sợ các em yếu kém áp dụng nhằm lẫn
cách này sang cách khác.
Ngoài ra, giáo viên phải phân loại được đối tượng học sinh trong lớp, đặc
biệt quan tâm đến học sinh yếu kém, phải làm cho mọi học sinh trong lớp đạt chuẩn
kiến thức, kĩ năng cơ bản đồng thời chú ý đến đối tượng học sinh khá, giỏi để các
em không thấy nhàm chán vì bài học quá dễ. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn,
giúp đỡ học sinh tự đi tìm kiến thức và lĩnh hội kiến thức đó dưới những phương
pháp tích cực nhất của mình, có như thế giờ học toán mới đem lại hiệu quả như
mong muốn.
Đối với lãnh đạo trường:
- Nên tổ chức cho giáo viên dự nhiều tiết dạy Toán, Chuyên đề môn Toán ở
những buổi tao giảng, sinh hoạt chuyên môn mới đề giáo viên được học tập, trao
đổi kinh nghiệm trong giảng dạy.
Trên đây là một số Biện pháp thực hiện thành công mà tôi đã chỉ đạo giáo
viên thực hiện trong quá trình giảng dạy các dạng giải toán có lời văn. Rất mong
được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, cũng như Lãnh đạo các cấp bổ sung cho
tôi để giúp tôi áp dụng đạt kết quả cao hơn nữa trong những năm học tới.
21
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ