Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 xác định tốt phần từ loại - Pdf 44

MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1
1. Lý do chọn đề tài
2
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Đối tượng nghiên cứu
2
4. Phương pháp nghiên cứu
2
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
2
I. Cơ sở lí luận của vấn đề.
2
II. Thực trạng.
3
III. Các giải pháp thực hiện:
4
1. Căn cứ vào cấu tạo của từ (từ đơn, từ phức), hướng dẫn học sinh
4
cách xác định ranh giới từ trước khi xác định từ loại.
2. Dạy cho học sinh nắm vững các khái niệm theo hướng tích cực
6
hóa hoạt động học tập của học sinh.
3. Xác định danh từ, động từ, tính từ thông qua khả năng kết hợp
9
của từ.
4. Hướng dẫn học sinh phân biệt động từ chỉ hoạt động, động từ chỉ

loại, cách dùng từ, đặt câu có ý nghĩa, vận dụng trong viết chính tả, làm bài tập
tiếng Việt. Không những thế, những kiến thức về từ loại sẽ giúp học sinh phát
triển được vốn từ, kĩ năng nhận diện, sử dụng thành thạo khi viết văn. Tuy
nhiên, trong thực tế, những kiến thức về từ loại rất phong phú, đa dạng và học
sinh còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận diện, phân loại từ loại, vận
dụng từ loại vào dùng từ, đặt câu,…Nếu không nắm vững những kiến thức cơ
bản làm nền tảng thì học sinh dễ bị nhầm lẫn, mắc phải những lỗi sai cơ bản.
Bên cạnh đó, nếu không được củng cố kiến thức ngay sau khi học thì học sinh sẽ
gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển ngôn ngữ viết của mình.
Vì thế, đối với giáo viên, dạy từ loại cho học sinh là một nhiệm vụ rất quan
trọng đang được nhiều giáo viên quan tâm đến. Việc giáo viên nắm vững kiến thức
và truyền đạt một cách dễ hiểu, kích thích niềm đam mê, luyện kĩ năng nhanh nhẹn,
phát triển sự sáng tạo cho học sinh là một việc rất cần thiết đòi hỏi mỗi giáo viên
phải quan tâm và trăn trở.
Là một giáo viên nhiều năm giảng dạy lớp 4, tôi nhận thấy học sinh vẫn
còn bị nhầm lẫn khi xác định từ loại đặc biệt sai nhiều ở các nhóm nhỏ của từng
nhóm từ loại.
Làm thế nào để giúp học sinh có kĩ năng xác định tốt phần từ loại? Vấn đề
này làm tôi băn khoăn, suy nghĩ và trăn trở trong nhiều năm giảng dạy, nó là
động lực khiến tôi luôn tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu. Và qua nghiên cứu, áp dụng
từ các năm học: 2012 – 2013; 2013- 2014; 2014- 2015 bước đầu đã có kết quả
khả quan. Tôi muốn chia sẻ với các bạn đồng nghiệp một số kinh nghiệm dạy
học sinh lớp 4 học tốt phần từ loại qua đề tài: “Giúp học sinh lớp 4 xác định tốt
phần từ loại.”
Với đề tài này tôi chỉ đi sâu nghiên cứu một góc nhỏ của từ loại (danh từ,
động từ, tính từ) mong rằng nhận được sự góp ý chân thành của các cấp quản lí và
các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn chỉnh và áp dụng trong giảng dạy.

2


vững, chúng ta thấy: Kiến thức từ loại được cung cấp ngay từ các tuần đầu năm
học. Việc học sinh nắm vững các từ loại các em sẽ biết sử dụng từ tiếng Việt
đúng, tạo cơ sở để học sinh nắm chắc về câu, kiểu câu kể (Mẫu câu: Ai làm gì?
Ai thế nào? Ai là gì?). Các câu này đều xác định vị ngữ dựa vào ý nghĩa của từ
loại. Vì vậy, nếu học sinh không nắm chắc từ loại thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ
đến việc xác định ba mẫu câu kể trên. Hơn nữa, việc nắm chắc từ loại học sinh
sẽ viết văn có hình ảnh, đúng ngữ pháp. Đó cũng chính là mục đích cơ bản của
giáo viên khi dạy tiếng Việt cho học sinh là các em hiểu và biết rõ mình đang
nói (viết) cái gì. Khi đó, các em sẽ có những từ ngữ, câu văn đúng với ý mình
muốn diễn đạt. Vì vậy, dạy cho học sinh nắm vững từ loại trong phân môn luyện
từ và câu ở lớp 4 là rất quan trọng.

3


II. Thực trạng dạy - học phần từ loại trước khi áp dụng sáng kiến:
Qua thực trạng dạy – học và trao đổi với đồng nghiệp, tôi nhận thấy việc
xác định từ loại của học sinh vẫn còn có những tồn tại như sau:
- Nhiều em chưa xác định được danh từ, động từ hay tính từ.
- HS còn xác định sai các từ loại có trong đoạn văn, đoạn thơ cho trước.
- Xác định từ loại còn nhầm lẫn giữa động từ hoặc tính từ, danh từ (một
số trường hợp khó phân biệt).
Tôi đã tiến hành khảo sát HS các lớp khác của GV trong khối, với các bài
tập sau:
Bài tập 1: Cho các từ sau: lơ thơ, ruộng nương, nhà cửa, đi đứng, mênh
mông, vuông vắn, đu đưa, khôn khéo, mẹ, khỏe khoắn, hiền, sao sáng, sung
sướng, inh ỏi.
- Xếp các từ trên vào 3 nhóm: danh từ, động từ, tính từ.
Bài tập 2: Cho hai câu thơ sau:
"Gió nâng tiếng hát chói chang

III. Các giải pháp thực hiện:
1. Căn cứ vào cấu tạo của từ (từ đơn, từ phức), hướng dẫn học sinh
cách xác định ranh giới từ trước khi xác định từ loại.
Đối với học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 4 việc phân cách ranh
giới từ cần tạo thành thói quen để giúp học sinh hiểu rõ nghĩa của từ và vận
dụng tốt. Thực tế, học sinh khi xác định từ loại trong các từ cho trước thì ít bị
sai, nhưng khi xác định từ loại có trong một đoạn văn, đoạn thơ lại xác định sai
nhiều. Do không biết cách xác định ranh giới từ nên các em nhầm lẫn xác định
cả cụm từ hoặc tiếng. Cá biệt vẫn có HS vẫn xác định được từ, song khi xếp vào
từng nhóm từ loại lại thiếu từ (bỏ sót).
*. Tôi đã hướng dẫn HS cách phân cách ranh giời từ trong đoạn văn, đoạn
thơ như sau:
- Học sinh tự đọc câu văn (hoặc đoạn văn, đoạn thơ) nhiều lần.
- Học sinh dùng dấu gạch xéo (/) phân cách ranh giới các từ.
*. Riêng bước xác định phân cách từ lần nữa tôi lưu ý các em phải căn cứ
vào khái niệm từ đơn, từ phức để không bị nhầm lẫn: Từ bao giờ cũng có nghĩa.
Từ gồm một tiếng gọi là từ đơn, từ gồm hai hay nhiều tiếng gọi là từ phức.
*. Khi xác định ranh giới từ, nếu từ nào các em còn phân vân, chưa biết
đó là 1 từ ghép hay 2 từ đơn, thì có thể vận dụng các cách sau:
Dựa vào tính hoàn chỉnh về cấu tạo và về nghĩa của từ, ta có thể xác định
được 1 tổ hợp nào đó là 1 từ phức hay 2 từ đơn bằng cách xem xét tổ hợp ấy về
2 mặt: kết cấu và nghĩa.
Cách 1: Dùng thao tác chêm, xen: Nếu trong một tổ hợp quan hệ giữa
các tiếng lỏng lẻo, dễ tách rời, có thể chêm, xen 1 tiếng khác từ bên ngoài vào
mà nghĩa của tổ hợp đó không thay đổi thì đó là 2 từ đơn. Nếu nghĩa của tổ hợp
đó thay đổi thì đó là 1 từ phức.
Ví dụ : Từ “quần áo” trong câu: Em có nhiều quần áo đẹp.
Ta dùng cách chêm xen từ như sau: Em có nhiều quần và áo đẹp.
Sau khi chêm xen từ “và” vào giữa “quần áo”, về cơ bản nghĩa của từ không
thay đổi. Cả hai cách nói trên đều có nghĩa là em có quần và có áo đẹp.

cần đọc đến câu nào, từ nào thì xác định luôn nó thuộc nhóm từ loại nào và ghi
vào nhóm đó.
Bài tập vận dụng :
Bài tập 1: Tìm từ đơn, từ phức trong đoạn văn sau:
Chim Sẻ và Chim Chích là đôi bạn thân, nhưng tính tình khác nhau.
Chích xởi lởi, hay giúp bạn. Còn Sẻ thì đôi khi bụng dạ hẹp hòi. Một hôm, Sẻ
được bà ngoại gửi cho một hộp hạt kê. Sẻ không muốn chia cho Chích cùng ăn.
Thế là hằng ngày Sẻ ở trong tổ ăn hạt kê một mình.
- Dựa vào kiến thức đã học về cấu tạo từ, tôi hướng dẫn để các em cách
xác định ranh giới từ như sau:
Chim Sẻ /và/ Chim Chích/ là /đôi bạn /thân/, nhưng/ tính tình/ khác /nhau/.
Chích/ xởi lởi/, hay /giúp /bạn/. Còn /Sẻ/ thì/ đôi khi/ bụng dạ/ hẹp hòi/. Một
hôm/, Sẻ/ được/ bà ngoại/ gửi/ cho/ một/ hộp/ hạt kê/. Sẻ/ không/ muốn/ chia/ cho/
Chích/ cùng/ ăn/. Thế là/ hằng ngày/ Sẻ/ ở/ trong tổ/ ăn/ hạt kê/ một/ mình/.
- Dựa vào ranh giới từ đã được xác định, học sinh tôi dễ dàng tìm được từ
đơn, từ phức có trong đoạn văn :
Học sinh có thể trình bày bài làm như sau :
Từ đơn
Và, là, thân, nhưng, Chích, hay, giúp,
bạn, còn, thì, Sẻ, được, gửi, cho, một
hộp, không, muốn, chia, cho, cùng,
ăn, ở, trong, tổ, một, mình.

Từ phức
Chim Sẻ, Chim Chích, đôi bạn , tính
tình, xởi lởi, đôi khi, bụng dạ, hẹp
hòi, một hôm, bà ngoại, hạt kê, thế
là, hằng ngày.

Với cách làm như trên, tôi cung cấp thêm hệ thống các bài tập cùng dạng

- Cho học sinh được thực hành và làm việc tự các em sẽ là người rút ra
khái niệm (dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh)
- Hướng dẫn học sinh làm bài theo hệ thống để học sinh luyện tập thực
hành các kiến thức đã học nhưng cần chú ý tới tất cả các đối tượng học sinh.
2.1. Về danh từ:
Trong thực tế dạy - học, học sinh thường xác định đúng các danh từ riêng
vì nó có dấu hiệu chính tả rõ ràng: Danh từ riêng là những từ chỉ tên riêng của
một sự vật. Danh từ riêng luôn luôn được viết hoa. Chính vì thế, khi dạy về danh
từ, tôi đã chú ý hướng dẫn học sinh cách xác định danh từ chung.
Ví dụ: Khi dạy bài Danh từ (Tiếng Viêt 4 – Tập 1 – trang 52, 53)
Chương trình sách giáo khoa đã nêu khái niệm danh từ như sau: Danh từ
là từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị).
Tuy nhiên thực hiện theo chuẩn kiến thức và kĩ năng, học sinh chỉ cần chỉ
ra: Danh từ là từ chỉ vật: chỉ người, vật, hiện tượng. Phần Luyện tập, học sinh
không phải làm.
Như vậy, nội dung kiến thức đã được giảm nhẹ hơn so với trước đó. Căn
cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng, tôi đã dành thời gian làm chắc khái niệm về

7


danh từ và tổ chức cho mọi HS được nêu ví dụ, chú ý đến việc rèn luyện các kỹ
năng xác định danh từ.
Như đã phân tích, trong chương trình Luyện từ và câu lớp 2 và lớp 3, các em
đã được học về các từ chỉ sự vật là những từ chỉ người, chỉ vật. Chính vì thế, các
em sẽ thực hiện được yêu cầu về “tìm từ chỉ người, chỉ vật” có trong đoạn thơ.
Trước khi hình thành khái niệm về danh từ, tôi tổ chức cho các em tìm và
nêu thêm các từ dùng để gọi tên người và tên các bộ phận của thể người; từ dùng
để gọi tên các đồ vật và các bộ phận của đồ vật; gọi tên cây cối, các bộ phận của
cây cối; gọi tên con vật,…

Với cách tiến hành trên, HS sẽ nối tiếp nhau nêu ví dụ về từng nhóm động
từ. Điều đó sẽ giúp HS được trải nghiệm và nhận ra rằng động từ rất gần gũi và
tồn tại quanh ta.

8


2.3. Tính từ:
Khi cung cấp kiến thức về tính từ, cần giúp các em phân biệt rõ hai nhóm
tính từ: Tính từ chỉ đặc điểm và tính từ chỉ tính chất của sự vật, của hoạt động,
của trạng thái.
Khi dạy bài Tính từ (Tiếng Việt 4 – Tập 1 – Trang 110, 111, 112). Ở bài
này, nội dung ghi nhớ là: Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất
của sự vật, của hoạt động, của trạng thái,…
Dựa vào ghi nhớ trên, tôi cụ thể hóa phương pháp dạy học thích hợp nhằm
giúp học sinh hiểu được ý nghĩa của cụm từ “tính chất của sự vật, hoạt động,
trạng thái,…”
Trong bài tập 2 phần Nhận xét: Sau khi HS hoàn thành bài tập, để giúp
học sinh hiểu và chủ động rút ra khái niệm về tính từ, tôi nhấn mạnh:
Các từ dùng để miêu tả tính tình, tư chất của cậu bé Lu –i, màu sắc của sự
vật, hình dáng, kích thước và các đặc điểm khác của sự vật gọi là tính từ.
Từ đó, qua gợi ý HS sẽ phát hiện và nêu được: Tính từ là những từ dùng
để miêu tả tính tình, tư chất của con người, màu sắc, hình dáng, kích thước và
đặc điểm của sự vật (Hay: Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất
của sự vật)
Còn với bài tập 3: Trong cụm từ đi lại vẫn nhanh nhẹn, từ nhanh nhẹn
bổ sung ý nghĩa cho từ nào?
Tôi gợi ý để HS rút ra các ý kiến sau:
- Từ nhanh nhẹn gợi tả dáng đi hoạt bát, nhanh trong bước đi.
- Từ nhanh nhẹn bổ sung ý nghĩa cho từ đi lại.

dụng vào thực hành, luyện tập rất tốt mà hiệu quả.
3. Hướng dẫn học sinh cách xác định danh từ, động từ, tính từ thông
qua khả năng kết hợp của từ.
Danh từ, động từ, tính từ gắn liền với cấu trúc của câu văn. Nắm vững 3
nhóm từ loại trên, học sinh sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi xác định các thành
phần trong câu. Các nhóm từ loại còn là nền tảng để các em học tốt các mẫu câu
kể. Trong thực tế, nhiều khi cùng một từ nhưng trong trường hợp này là danh từ,
nhưng trong trường hợp kia lại là động từ hoặc tính từ. Chính vì vậy, học sinh
rất khó xác định từ loại, các em dễ bị nhầm lẫn giữa danh từ, động từ, tính từ
trong những trường hợp đặc biệt. Nội dung chương trình về từ loại ở lớp 4 chỉ
dành khoảng thời gian nhất định, mỗi nhóm từ loại gồm 2 tiết là rất ít để học
sinh được rèn luyện kĩ năng. Hơn nữa, nội dung dạy học này lại không có trong
chương trình SGK, học sinh không được cung cấp nếu chỉ học những kiến thức
trong SGK. Trong khi đó, đề kiểm tra giữa Học kì I, năm học 2011- 2012 của Sở
Giáo dục và đào tạo Tỉnh Thanh Hóa có bài tập sau:
*. Gạch dưới động từ trong đoạn văn sau:
Có thể cần phải xem lại giấc mơ đó của Lin-da, nhưng bé vẫn còn đủ thời
gian để lựa chọn. Khi nào thì chúng ta sẽ ngừng ước mơ và loại bỏ đi trong tim
những ước mơ về tương lai? Thật đáng sợ khi chúng ta không còn biết ước mơ nữa!
- Ta thấy đoạn văn có các động từ là: “có thể, xem lại, vẫn còn, để, lựa
chọn, sẽ, ngừng, ước mơ, loại bỏ đi, biết, ước mơ”.
- Tuy nhiên, trong số đó có 2 động từ “ước mơ” lặp lại mà lại có tới 3 từ “ước
mơ” – như tôi đã gạch chân.
- Khi trình bày bài làm HS cần chỉ ra được “ước mơ” nào là động từ?
Trong 3 từ đó thì “ước mơ” trong “Khi nào chúng ta sẽ ngừng ước mơ”
và "Thật đáng sợ khi chúng ta không còn biết ước mơ” là động từ; còn “ ước
mơ” trong “... loại bỏ đi trong tim những ước mơ” lại là danh từ.
Kết quả bài làm của HS lớp tôi như sau: 27/ 30 em tìm đúng các động từ
và phân biệt rõ được động từ trong 3 từ“ước mơ” nêu trên vì các em đã được
học về cách xác định danh từ, động từ, tính từ thông qua khả năng kết hợp của

Ví dụ 1: Những từ được in nghiêng trong các câu sau là danh từ, động từ hay tính từ?
1. Bạn Hoa rất vui khi được cô giáo khen.
2. Bạn Hoa đang vui cùng bạn bè.
3. Những mong muốn của trẻ em đều rất ngộ nghĩnh.
4.Trẻ em cả thế giới đang mong muốn được sống trong hòa bình.
Dựa vào căn cứ trên, HS sẽ dễ dàng nêu được: từ “vui” trong câu 1 là tính
từ, từ “vui” trong câu 2 là động từ. Từ “mong muốn” trong câu 3 là danh từ, từ
“ mong muốn” trong câu 4 là động từ.
Ví dụ 2: Thêm từ vào trước động từ, tính từ để tạo thành danh từ :
Động từ (tính từ)
Danh từ
hi sinh
sự hi sinh
đấu tranh
cuộc đấu tranh
nhớ
nỗi nhớ
vui
niềm vui
rét
cái rét
Bài tập vận dụng:
Bài 1: Xác định từ loại của những từ thắng lợi dưới đây :
a) Những thắng lợi của chúng ta rất to lớn.
b) Chúng ta đang thắng lợi lớn.
c) Chúng ta hoàn thành rất thắng lợi kế hoạch năm học.
Bài 2: Xác định từ loại của những từ được gạch chân dưới đây :

11


Ngoài còn một số động từ mà học sinh rất khó xác định, tôi đã khái quát
cho học sinh biết đó là:
+ Động từ chỉ hành động vật lí: gãy, nổ, giãn, co, nở,...
+ Động từ chỉ hành động tâm lí: nghĩ, cảm thấy, lo,...
+ Động từ chỉ hành động chuyển hướng: ra, vào, lên, xuống, ngược, xuôi,...
+ Động từ chỉ hành của cơ thể: co, cuối, nhắm, mở, nheo, ưỡn,..
+ Động từ chỉ hành động kết nối: buộc, chặt, treo, pha, trộn, hòa,...
+ Động từ chỉ hành động trao, nhận: tặng, biếu, cho, lấy,...
4.2. Động từ chỉ trạng thái:
- Trạng thái là tình trạng của một vật hoặc một con người, tồn tại trong
một thời gian nào đó.
- Động từ chỉ trạng thái cũng là tình trạng đã, đang và sẽ diễn ra của các
vật vô tri, vô giác như: cây cối, cảnh vật, đồ vật,..

12


- Xét về mặt từ loại, từ chỉ trạng thái có thể là động từ, có thể là tính từ
hoặc mang đặc điểm của cả động từ và tính từ (từ trung gian). Song theo như
định hướng trong nội dung chương trình SGK, ở cấp tiểu học, thống nhất chỉ
xếp chúng vào nhóm động từ để HS dễ phân biệt.
- Các từ sau đây cũng được gọi là động từ chỉ trạng thái (trạng thái tâm
lí): yêu, ghét , kính trọng, chán, hiểu,…Các từ này mang đặc điểm của cả động
từ và tính từ, có tính chất trung gian giữa động từ và tính từ, nên ta xếp các từ
trên vào nhóm động từ.
- Một số từ sau đây cũng được gọi động từ chỉ trạng thái : mặc, nằm,
ngồi, ngủ, thức, nghỉ ngơi, suy nghĩ, đi, đứng, lăn, lê, vui, buồn, hồi hộp, băn
khoăn, lo lắng,…Các từ này có đặc điểm sau :
+ Nó vừa được gọi động từ chỉ hành động khi nó chỉ hành động đang diễn
ra. Cũng có khi nó được gọi động từ chỉ trạng thái khi nó xuất hiện trong trường


13


nào? Khi vị ngữ đều là động từ, điều đó giúp tôi có đủ tự tin hơn khi dạy về
nhóm từ loại này cho học sinh.
5. Tổ chức trò chơi học tập cho học sinh.
Trò chơi học tập là hình thức học mà chơi, chơi mà học. Tổ chức trò chơi
học tập sẽ góp phần trong việc giúp học sinh khắc sâu kiến thức. Đặc biệt là đối
với những em học sinh chưa ham học. Vì vậy, tôi đã tổ chức cho học sinh các trò
chơi học tập phù hợp với từng bài học như sau:
- Ví dụ 1: Sau khi học sinh học xong bài Danh từ, tôi tổ chức cho học sinh
chơi trò chơi “Ai nhanh - Ai đúng”. Trò chơi được thực hiện như sau:
- Tôi chuẩn bị 3 bông hoa bằng giấy bìa, nhị hoa viết sẵn “Danh từ chỉ
người hoặc Danh từ chỉ vật; Danh từ chỉ hiện tượng”, mỗi bông hoa có từ năm
cánh trở lên. Chọn ba nhóm học sinh tham gia chơi. Mỗi nhóm gồm năm HS.
Trước khi chơi, các nhóm trưởng sẽ được bốc thăm nhị hoa có sẵn đề chọn tên
chủ đề về danh từ. Trong 2 phút, lần lượt từng học sinh trong nhóm lên viết danh
từ vào các cánh hoa theo chủ đề đã bốc thăm và gắn vào nhị hoa tương ững của
nhóm mình. Kết thúc trò chơi, nhóm nào tìm được danh từ chính xác, nhiều hơn
và nhanh hơn sẽ thắng cuộc. Sau đây là ví dụ về các bông hoa của trò chơi:


giáo

bố
mẹ

nh
à

ế


ho
a
lan
mưa
sấm

bão
DT chỉ
hiện
tượng

lụt
gió

mưa
đá


14


Ví dụ 2: Sau khi học sinh học xong bài Động từ, tôi tổ chức cho học sinh
chơi trò chơi “Xem kịch câm”. Trò chơi được thực hiện như sau:
- Hình thức: Tôi chia lớp thành hai nhóm A và B. Mỗi nhóm gồm 5 HS.
Thời gian dành cho cả hai nhóm là 3 phút.
- Cách chơi: Lần lượt HS của từng nhóm A sẽ làm động tác tương ứng
với một việc làm. Sau khi bạn làm động tác, nhóm B sẽ nêu tên của việc làm

Đề bài:
Câu 1: Tìm các danh từ có trong đoạn thơ sau:
Khắp người đau buốt nóng ran
Mẹ ơi! cô bác xóm làng đến thăm
Người cho trứng, người cho cam
Và anh y sĩ đã mang thuốc vào.
Câu 2: Tìm danh từ, động từ, tính từ có trong đoạn văn sau:

15


Nhiều người vẫn nghĩ loài cây bao báp kì diệu chỉ có ở Châu Phi. Nhưng
thực ra tại châu lục đen chỉ có duy nhất một loài bao báp. Còn trên đảo Ma – đa –
ga – xca ở Ấn Độ Dương có tới tận bảy loài. Một loài trong số đó còn được trồng
thành đồn điền, vì từ hạt của nó có thể chế được loại bơ rất ngon và bổ dưỡng.
Câu 3: Trong từng cặp từ được gạch chân dưới đây, từ nào là động từ chỉ
hoạt động, từ nào là động từ chỉ trạng thái?
a) Tôi treo bức tranh lên tường. / Bức trenh treo trên tường.
b) Bạn Hằng đang buộc tóc.
/ Con trâu buộc bên gốc cây.
Câu 4: Xác đinh từ loại của các từ sau: nhà cửa, đi đứng, mênh mông,
vuông vắn, đu đưa, im lặng, sự im lặng, vui sướng, niềm vui sướng, giàu đẹp,
sự giàu đẹp, yêu thương, lòng yêu nước.
Kết quả:
Sĩ số
Điểm
Năm học Lớp
Điểm khá Điểm TB
Điểm yếu
HS

bản nhất, đầy đủ nhất; cần chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong việc sử dụng đổi
mới các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học giúp HS nắm vững kiến thức
theo chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học, phát huy tính tính cực của HS.
Sau thời gian vận dụng những giải pháp nêu trên, HS của tôi đã có thêm
niềm đam mê khi học Luyện từ và câu và đặc biệt là thích tìm hiểu về các nhóm
từ loại, có kĩ năng xác định từ loại. Mỗi khi tham gia học tập, tìm hiểu những
kiến thức về từ loại, không khí lớp học trở nên sinh động và hấp dẫn hơn. Tôi đã
được Ban giám hiệu nhà trường, đồng nghiệp ủng hộ, đồng thuận. Những giải
pháp trên cũng đã và đang được áp dụng trong giảng dạy tại trường, góp phần
tích cực vào việc dạy – học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4.
2. Kiến nghị:
2.1. Đối với Ban giám hiệu, nhà trường:
- Duy trì và đổi việc tổ chức các chuyên đề “Nâng cao chất lượng giảng
dạy môn Tiếng Việt” nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói

16


chung và Phân Môn Luyện từ và câu nói riêng, tạo mọi điều kiện để giáo viên
được học tập và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
2.2. Đối với Giáo viên:
Để giúp cho học sinh lớp 4 xác định tốt các từ loại trong dạy phân môn
Luyện từ và câu, mỗi GV cần:
1. Tích cực tự học, tự bồi dưỡng về nghiệp vụ, nắm vững kiến thức về từ
loại. Làm chủ được nội dung kiến thức khi lên lớp.
2. Chú ý đến việc dạy học sinh phân biệt từ theo cấu tạo trước khi xác
định từ loại.
3. Trong các tiết dạy cần chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh,
phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập.
4. Thường xuyên giúp học sinh vận dụng kiến thức về từ loại vào học tập


19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status