MỤC LỤC
C¸c ®Ò môc
Trang
1. Mở đầu
- Lí do chọn đề tài.
1
- Mục đích nghiên cứu.
2
- Đối tượng nghiên cứu.
2
- Phương pháp nghiên cứu.
3
2. Nội dung sáng kiến
2.1. Cơ sở lí luận.
3-4
2. 2. Thực trạng nghiên cứu:
- Thực trạng vấn đề.
4-5
- Kết quả của thực trạng.
trò vô cùng quan trọng và vấn đề quan trọng nhất của phân môn Tập làm văn là
giúp học sinh có những kĩ năng viết thành thạo các thể loại văn học. Cố thủ
tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Dạy làm văn chủ yếu là dạy cho học sinh
diễn tả cài gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành, sáng tỏ
chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói” ( Dạy văn là một quá trình rèn
luyện toàn diện , Nghiên cứu giáo dục, số 28,11/1973) .
Trong quá trình giảng dạy môn ngữ văn và cụ thể là nghiên cứu thể loại văn
biểu cảm ở học kì I lớp 7. Có thể nói biểu cảm là một nhu cầu thiết yếu trong
cuộc sống hàng ngày của mỗi con người và học văn biểu cảm không chỉ giúp
học sinh có thêm những kiến thức khoa học quan trọng mà văn biểu cảm còn
như dòng suối ngọt lành bồi đắp những tình cảm đẹp cho tâm hồn các em, là cơ
hội quan trọng để giáo viên xích lại gần học sinh của mình thông qua những tình
cảm, cảm xúc của các em về bố mẹ, ông bà, thầy cô, bạn bè. Để đạt được điều
đó học sinh phải biết cách để thể hiện tình cảm, cảm xúc của bản thân mình.
Nhưng trong thực tế giảng dạy, đa số các em học sinh chưa biết cách bộc lộ cảm
xúc của mình để “khơi gợi lòng đồng cảm nơi người đọc” ( Văn 7 – tập 1). Khi
viết văn biểu cảm, các em còn lẫn lộn, chưa phân biệt rõ ràng, rạch ròi giữa văn
biểu cảm với các thể loại văn khác đặc biệt là các em còn nhầm lẫn giữa văn
biểu cảm với tự sự và miêu tả. Chính vì thế, điểm các bài kiểm tra và điểm trung
bình môn văn của các em còn thấp. Mặt khác các tài liệu viết về vấn đề này có
nhưng mới chỉ là lí thuyết suông, mang tính chung chung về thể loại. Trong tổ
chuyên môn nhà trường cũng chưa có được kinh nghiệm và biện pháp hữu hiệu
nào để khắc phục được vấn đề. Thực tế đó qủa là đáng lo ngại, thực trạng vấn đề
2
này phải giải quyết ra sao? Vì sao học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc làm
văn biểu cảm? Cần phải làm gì để nâng cao chất lượng dạy và học văn biểu cảm
cho học sinh THCS? Đó là những vấn đề tôi trăn trở, day dứt và là lý do để tôi
3
đồng thời phải có phương pháp nghiên cứu một cách khoa học. Để đảm bảo vấn
đề đặt ra trong đề tài có tính thực tiễn, tính khả thi đòi hỏi người nghiên cứu
nghiên cứu kỹ lưỡng các vấn đề, phải có nhiều phương pháp nghiên cứu mới
đem lại hiệu quả thiết thực. Và để thực hiện thành công sáng kiến kinh nghiệm
này tôi đã sử dụng các phương pháp như :
- Phương pháp quan sát khoa học.
- Phương pháp điều tra, thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá.
- Phương pháp so sánh đối chứng, xử lý số liệu.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lí luận.
Trong nhà trường nói chung, trong trường THCS nói riêng, Ngữ văn là môn
học trang bị cho học sinh những tri thức để đánh giá đúng các vấn đề văn học
(bao gồm: tác phẩm, tác giả, các quá trình văn học … ) có nghĩa là góp phần tạo
cho học sinh khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học trong việc tiếp
nhận cũng như khả năng biết đánh giá đúng đắn, khoa học các hiện tượng cuộc
sống xã hội.
Song song với nhiệm vụ trên là quá trình giúp học sinh hình thành và phát
triển khả năng sản sinh văn bản mới ( nói và viết).
Làm văn là phân môn hướng tới nhiệm vụ thứ hai này. Nó giúp học sinh hình
thành những kĩ năng cần thiết để làm được bài văn. Người học sinh từ tiểu học
đến trung học (kể cả vào đại học) đã và sẽ được làm văn theo ba dạng sau đây:
Dạng sáng tác văn học như: miêu tả, tường thuật, kể chuyện( tự sự) , biểu
cảm… và một số thể thơ quen thuộc như : thơ 5 chữ, thơ tứ tuyệt, thơ lục bát …
Dạng bài nghị luận với hai nội dung chủ yếu là nghị luận xã hội và nghị luận
văn học ( trong chương trình ở THCS là ở lớp 7, 8, 9).
Dạng văn hành chính công vụ như: đơn từ, biên bản, thông báo, báo cáo, hợp
những giờ học thoáng qua và dạy văn biểu cảm cũng theo khuôn mẫu như các
thể loại văn khác trong khi đó thế giới tình cảm, cảm xúc của con người lại vô
cùng phong phú, không có khuôn mẫu. Đồng thời trong quá trình dạy học văn
biểu cảm giáo viên chưa thật quan tâm tới tình cảm, cảm xúc của các em nhiều.
Về phía học sinh: Nhiều em chưa nắm vững những đặc trưng và bản chất
cơ bản của văn biểu cảm. Chính vì lẽ đó khi làm bài tập các em còn lúng túng
trong việc nhận diện thể loại văn biểu cảm, còn lẫn lộn giữa văn tự sự, miêu tả
và biểu cảm hoặc chưa biết cách để bày tỏ tình cảm, cảm xúc của bản thân hay
có cảm xúc nhưng chỉ là cảm xúc vay mượn và việc viết bài của các em chỉ
mang tính nghĩa vụ chứ các em không xem mỗi giờ học văn biểu cảm là một cơ
hội để các em được chia xẻ tình cảm, cảm xúc của bản thân và một lần để thấy
mình gắn bó hơn với cuộc sống xung quanh, với những người xung quanh mình.
5
Khi các em làm bài viết Tập làm văn số 2 tôi ra đề “Loài hoa em yêu” có thể nói
đây là một dạng bài tập cơ bản của văn biểu cảm nhưng kết quả bài làm của các
em làm tôi thấy thất vọng. Gần như các em thiên về việc tả loài hoa đó hơn là
bày tỏ cảm xúc của mình về loài hoa đó. Hoặc khi các em làm bài viết Tập làm
văn số 3: “Biểu cảm về người thân” các em viết: “Bố tôi làm công nhân,
thường ngày bố đi từ sáng đến tối mới về. Có những khi bố về là chúng tôi đã
đi ngủ nên chúng tôi ít khi trò chuyện với bố. Nhưng tôi sợ nhất là những lần
bố kiểm tra bài vở của tôi.Thể nào hôm đó tôi cũng được một trận nhớ đời”.
Liệu khi đọc đoạn văn trên, các đồng nghiệp của tôi có cho rằng đó là một đoạn
văn biểu cảm? Toàn bài viết của em học sinh đó đều là những lời văn, đoạn văn
tương tự như thế. Cũng với đề văn như trên, một học sinh khác viết về ông nội:
“Quê nội tôi ở xa nên thỉnh thoảng tôi mới về thăm ông. Ông tôi ở nhà không
phải làm gì chỉ việc chăm sóc mấy cây cảnh.Tôi không hiểu sao ông có thể
cắt là tỉa cành cho các cây hàng giờ mà không thấy chán”.
SL
%
SL
%
0
0
10
16,7
30
50
15
25
5
8,3
Từ thực trạng trên tôi thiết nghĩ cần phải có những biện pháp để nâng cao
chất lượng bài viết văn biểu cảm của các em.
còn nghe âm vang mãi giọng hát của người con gái lúc nãy. Một giọng hát dân
ca, ngân nga bát ngát như cánh cò trên đồng lúa miền Nam chạy tới chân trời,
có lúc rụt rè, e thẹn như khóe mắt người yêu mới gặp, có lúc tinh nghịch duyên
dáng như những đôi chân nhỏ thoăn gánh lúa chạy trên những con đường làng
trộn lẫn bóng tre và bóng nắng...Có lẽ không phải là một người con gái đã hát
trên đài. Đó chính là quê hương ta đang lên tiếng hát. Tiếng ngân nga dội lên từ
lòng đất, ở trong đó một góc vườn có đôi cây sầu đông và một giàn bầu đong
đưa quả nặng, một ngày đã xa mẹ ta đã chôn nhúm rau của ta thưở mới lọt
lòng. Đó là tiếng ngân nga của mặt đất, của dòng sông, của những xóm làng và
những cánh đồng sau một ngày lao động và chiến đấu."(Sgk Ngữ Văn 7 tập
một).
Khi các em đã đọc và quan sát hai đoạn văn tôi đưa ra các câu hỏi: Hai
đoạn văn trên biểu đạt nội dung gì? Em có nhận xét gì về những tình cảm thể
hiện ở trong hai đoạn văn trên? Và để thể hiện những tình cảm ấy hai đoạn văn
7
đã dùng phương thức biểu đạt gì? Trả lời cho các câu hỏi trên là các em đã xác
định được nội dung của đoạn văn biểu cảm là thể hiện tình cảm, cảm xúc với
bạn bè, với quê hương và đây là những tình cảm đẹp mang tính nhân văn trong
cuộc sống, cách thể hiện tình cảm có thể thể hiện trực tiếp bằng lời kêu, lời than
hoặc dùng phương thức tự sự và miêu tả để thể hiện tình cảm.Sau đó, tôi trình
chiếu hai đoạn văn một đoạn văn tự sự và một đoạn văn miêu tả cho các em đọc
và quan sát:
Đoạn văn miêu tả:
"Thảo là bạn thân của tôi. Bạn có dáng người dong dỏng cao, có mái tóc
dài và đẹp lúc nào cũng được tết gọn gàng sau lưng. Nhưng nổi bật nhất là
khuôn mặt bầu bĩnh, đôi mắt tròn đen láy ánh lên sự thông minh, nhanh nhẹn."
Đoạn văn tự sự:
Văn biểu cảm là văn trữ tình, là bộc lộ tình cảm, cảm xúc chủ quan của con
người. Nhưng thể hiện tình cảm như thế nào để khêu gợi lòng đồng cảm nơi
người đọc người nghe mới là điều quan trọng.Thông thường có hai cách để thể
hiện tình cảm, cảm xúc trong văn biểu cảm đó là biểu cảm trực tiếp và biểu cảm
gián tiếp. Biểu cảm trực tiếp là cách gọi tên rõ tình cảm, cảm xúc của mình bằng
từ ngữ, câu chữ chứ không thông qua một hình thức nào khác. Đây là một cách
phổ biến và gần với học sinh hơn cả nhưng nếu thể hiện không khéo thì tình cảm
các em thể hiện dễ rơi vào giả tạo, gượng ép. Vì vậy tôi hướng dẫn các em một
số cách để thể hiện trực tiếp tình cảm của bản thân: dùng những động từ chỉ cảm
xúc để diễn tả những cung bậc trong trạng thái tình cảm của con người, dùng từ
có tính biểu cảm đặc biệt là những từ láy, dùng các từ hay các câu cảm thán hoặc
dùng những câu hỏi tu từ. Bên cạnh việc hướng dẫn các em cách thể hiện tình
cảm trực tiếp tôi cũng giới thiệu và hướng dẫn cách thể hiện gián tiếp để có thể
một số học sinh khá giỏi vận dụng vào bài viết của mình.
Giải pháp 2: Hướng dẫn cách làm một bài văn biểu cảm.
Để học sinh có những kĩ năng cơ bản để thực hành bài viết văn biểu cảm
việc hướng dẫn chi tiết và tỉ mỉ cách làm bài văn biểu cảm là một việc làm vô
cùng quan trọng.Tôi hướng dẫn học sinh tỉ mỉ theo từng bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý.
- Tìm hiểu đề:
Có thể nói bước quan trọng đầu tiên của việc viết một bài văn biểu cảm là
bước tìm hiểu đề và tìm ý. Ở bước thứ nhất này, trước khi cho học sinh tìm hiểu
một đề bài cụ thể tôi cho các em làm quen và tiếp xúc với các dạng đề văn biểu
cảm bằng cách trình chiếu cho các em đọc và quan sát những đề văn này:
Ví dụ:
- Cảm nghĩ về dòng sông (cánh đồng, vườn cây, đêm trăng ...) quê hương.
9
xúc của người viết chứ không có khuôn khổ sẵn nên rất khó tìm một hệ thống ý
chung cho cả lớp.Vì vậy muốn tìm ý cho bài viết văn biểu cảm giáo viên phải
10
hướng dẫn học sinh quan sát, hình dung cụ thể đối tượng biểu cảm ( cảnh vật,
vật, sự việc, con người...) trong không gian, thời gian, trong từng hoàn cảnh cụ
thể. Phải biết lắng nghe những cung bậc cảm xúc của bản thân khi giao hoà cùng
đối tượng để từ đó bày tỏ những cảm xúc, ý nghĩ của chính bản thân mình. Giáo
viên hướng dẫn học sinh cách đặt câu hỏi và trả lời chính những câu hỏi mà
mình đặt ra.Thường có các dạng câu hỏi như sau:
- Tình cảm, cảm xúc, ấn tượng, suy nghĩ sâu sắc nhất của em về đối tượng
là gì?
- Những đặc điểm, tính chất gì của đối tượng tác động nhiều nhất tới cảm
xúc, suy nghĩ của em?
- Đối tượng làm em nghĩ dến, liên tưởng đến những gì? Em có kỉ niệm gấn
bó sâu săc gì với đối tượng? Đối tượng có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống
của em?
Ví dụ với đề bài trên tôi hướng dẫn các em tìm ý bằng hệ thống câu hỏi:
- Em có hay thấy nụ cười của mẹ không? Khi nào mẹ em hay nở nụ cười?
Khi mẹ cười em cảm thấy thế nào? Vắng nụ cười của mẹ em cảm thấy như thế
nào? Vậy làm sao để lúc nào nụ cười cũng thường trực trên môi mẹ?
Với hệ thống câu hỏi trên mỗi học sinh sẽ có những định hướng cảm xúc
cho riêng mình về nụ cười của mẹ và định hướng những nội dung cơ bản cho bài
viết của mình.
Bước 2: Lập dàn ý.
Bài văn biểu cảm cũng có kết cấu ba phần (mở bài, thân bài, kết bài ) như
các kiểu văn bản khác. Mở bài nhằm giới thiệu đối tượng và cảm xúc chính về
đối tượng. Phần thân bài là sự phát triển các cảm xúc chính đã nêu ra ở phần mở
xuyên tôi yêu cầu các em phải thực hiện trước mỗi đề văn.
Bước 3: Viết bài.
Viết bài là bước quan trọng nhất, bài viết của các em sẽ thể hiện việc các
em xác định đề, tìm ý có phù hợp với yêu cầu của đề bài hay không, các em đã
biết lựa chọn những phương thức phù hợp để bày tỏ tình cảm của mình hay
chưa, các em đã biết liên kết các phần các đoạn của văn bản thành một thể thống
nhất hay chưa.Và để các em có được những kĩ năng cần thiết để hoàn thành một
bài văn biểu cảm việc hướng dẫn của giáo viên có vai trò rất quan trọng. Ở bước
này tôi hướng dẫn các em viết từng đoạn văn trước hết là phần mở bài.Sau khi
các em viết sau phần mở bài tôi yêu cầu các em lần lượt đọc phần mở bài của
mình, các học sinh khác lắng nghe và đưa ra ý kiến nhận xét, tôi tổng hợp ý
kiến, đánh giá và cho điểm. Sau đó tôi trình chiếu một mở bài đã chuẩn bị sẵn
cho các em quan sát và so sánh với bài làm của mình. Khi các em đã thành thạo
với việc viết mở bài tôi chọn một vài ý trong phần thân bài và yêu cầu các em
12
viết thành đoạn văn và tôi thực hiện các thao tác tương tự như đối với phần mở
bài.Việc luyện viết các đoạn văn sẽ là một tiền đề rất quan trọng cho việc viết
thành bài hoàn chỉnh vì thực chất của việc viết bài văn là liên kết các đoạn văn
cùng chủ đề thành một thể thống nhất về hình thức và nội dung.
Việc tiếp theo tôi yêu cầu các em viết thành những bài viết hoàn chỉnh theo
bố cục ba phần mở bài, thân bài và kết bài.
Bước 4: Sửa bài.
Bước cuối cùng của việc viết bài văn biểu cảm là sửa bài, đây cũng là một
trong những bước quan trọng không thể thiếu của việc hoàn chỉnh một bài văn
biểu cảm nhưng đa số học sinh khi làm bài không biết cách phân phối thời gian
hợp lí nên viết xong là nộp bài, thậm chí hết thời gian nhưng vẫn chưa làm xong
bài hay có những em làm khi viết xong là cảm thấy mình đã hoàn thành nhiệm
biểu cảm, cách bày tỏ tình cảm, cảm xúc của bản thân, các bước làm bài văn
biểu cảm tôi bắt đầu luyện viết văn biểu cảm cho các em.
Trước hết, tôi để cho các em tự chọn đề tài cho mình.Vì khi các tự chọn đề
tài các em sẽ chọn những gì mà mình cảm thấy phù hợp nhất với tình cảm của
bản thân và vì vậy tình cảm mà các em thể hiện sẽ là những tình cảm chân thành
của bản thân các em. Đến khi học sinh đã có những kĩ năng cơ bản để bộc lộ
tình cảm, cảm xúc của bản thân mình tôi bắt đầu giao việc cho các em.Và khi
giao đề bài tôi thường chọn những đề tài quen thuộc trong cuộc sống hàng
ngày của các em để các em bày tỏ tình cảm, cảm xúc như ông bà, bố mẹ, bạn bè,
quê hương, gia đình...Và từ việc cung cấp những đề tài chung cho cả lớp ( có
tính định hướng chung ) tôi đi vào việc cá thể hóa đề bài (quá trình hướng dẫn
mỗi học sinh đi từ đề tài chung cho cả lớp đến việc xác định đề bài riêng, đề bài
cụ thể phù hợp với vốn sống, với tình cảm, cảm xúc riêng của mỗi học
sinh ).Khi các em đã có những kĩ năng thành thạo để viết bài văn biểu cảm tôi
cung cấp cho các em những đề bài mang tính nâng cao hơn ( Như biểu cảm về
tuổi thơ, biểu cảm về tình bạn...) để các em thỏa sức vận dụng các kĩ năng đã
được hình thành và đây cũng chính là quá trình các em tự khám phá thế giới tình
cảm vốn vô cùng phong phú của bản thân mình.Và việc luyện viết văn biểu cảm
được tiến hành liên tục thường xuyên trên lớp học và các bài tập về nhà của học
sinh.
Bước 3: Chấm, chữa bài thật kĩ cho học sinh:
Việc chấm, chữa bài cho học sinh có thể nói là một việc làm không thể
thiếu của quá trình dạy môn ngữ văn. Nhưng rất nhiều giáo viên xem việc chấm
và chữa bài của học sinh chỉ là thông báo số điểm học sinh đạt được và những
lỗi các em mắc phải trong bài làm chứ không phải việc chấm chữa bài là một lần
các em được tập dượt, rút kinh nghiệm cho các bài tập sau.Vì vậy, nhiều khi việc
14
nhiều trước mỗi giờ trả bài và mỗi giờ trả bài thực sự trở thành một giờ học có
hiệu quả đối với học sinh.
15
2. 4. Hiệu quả trong việc triển khai SKKN.
Nhận xét, đánh giá về các biện pháp thực hiện.
Qua một năm rút kinh nghiệm và thay đổi, áp dụng những giải pháp nêu
trên tôi nhận thấy chất lượng dạy và học văn biểu cảm ở môn văn khối 7 ở
trường THCS Dân tộc Nội Trú năm học 2014- 2015 được nâng cao rõ rệt. Ở
phương diện là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tôi thấy mình vững
vàng hơn trong chuyên môn, tự tin say mê hơn với sự nghiệp trồng người. Đối
với các em học sinh, các em bước đầu đã ý thức được tầm quan trọng của môn
văn, biết bộc lộ cảm xúc của mình đúng cách, đúng nơi, đúng lúc. Số lượng học
sinh có kĩ năng làm văn biểu cảm tốt khá nhiều. Cụ thể, thống kê điểm trung
bình môn văn học kì I năm học 2014-2015 là rất khả quan .
Kết quả khi áp dụng:
Tổng
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
33,3
25
41,7
0
0
0
0
3. Kết luận
Trên đây là một số biện pháp nâng cao chất lượng bài viết văn biểu cảm cho
học sinh lớp 7 ở trường THCS Dân Tộc Nội trú và đó cũng là những gì bản thân
tôi tích luỹ và phát hiện được trong quá trình dạy học thể loại văn biểu cảm.
Khi áp dụng những kinh nghiệm trên vào bài dạy, chất lượng bài viết của
học sinh đã được nâng lên rõ rệt, nhiều bài viết của học sinh khi đọc, chấm bài
khiến tôi cảm động rơi nước mắt.
Những biện pháp trên được tôi rút ra từ thực tế cũng như thông qua trao đổi
với đồng nghiệp, có thể vẫn còn hạn chế. Vậy tôi rất mong được tiếp thu ý kiến
đóng góp của Hội đồng khoa học nhà trường và Hội đồng khoa học của Phòng
Giáo dục & Đào tạo huyện nhà để từ đó có thể trao đổi, rút kinh nghiệm giúp tôi
nâng cao chất lượng giảng dạy ở bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là bài làm văn biểu
cảm cho học sinh lớp 7.
16