A. MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌ ĐỀ TÀI
Phân môn hóa học trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò
quan trọng trong việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh.Mục đích
của môn học là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho
học sinh những tri thức , hiểu biết về thế giới con người , thông qua các bài
học, giờ thực hành ... của hóa học. Hóa học là để hiểu , để giải thích được các
vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở cấu tạo nguyên tử, phân tử, sự chuyển hóa
của các chất bằng phương trình phản ứng hóa học... Đồng thời là khơi nguồn,
là cơ sở phát huy tính sáng tạo ,tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sỗng
của con người. Hóa học góp phần giải tỏa thậm chí là xóa bỏ những hiểu biết
sai lệch làm hại đến đời sống , cũng như tinh thần của con người. Nhất là
trong cuộc sống hiện đại hiện hiện nay các ngành công nghiệp nặng , công
nghệ hóa chất đang phát triển như vũ bão , kéo theo những hậu quả nặng nề
của tự nhiên mà con người phải trực tiếp gánh chịu.
Vậy làm sao để có thể truyền tải hết lượng kiến thức khổng lồ của hóa
học đến với các em học sinh và cũng làm sao để các em có thể lĩnh hội được
hết lượng kiến thức đó mà không bị nhàm chán , bị gượng ép . thậm chí bây
giờ còn có nhiều học sinh đã không còn sự hứng thú và thậm chí là thờ ơ với
bộ môn này.
Đối với môn hóa học thì đổi mới dạy học nhằm tăng cường tính thực
tiễn, kĩ năng thực hành, kĩ năng có liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng
ngày của học sinh khiến năng lực hoạt động thực tiễn của học sinh được nâng
lên, từ đó học sinh sẽ tự phát hiện và giải quyết một cách chủ động, sáng tạo
các vấn đề thực tế có liên quan tới hóa học, làm cho học sinh coi trọng thực
hành, vận dụng kiến thức vào thực tế và yêu thích môn học.
Tuy nhiên, Các bài tập hóa học sử dụng trong nhà trường phổ thông
hiện nay còn nặng về kiến thức toán học, nghèo nàn về kiến thức hóa học,
chưa chú trọng đến việc phát huy khả năng tư duy sáng tạo, lập kế hoạch, giải
quyết vấn đề trong học tập hoá học và thực tiễn đời sống, cũng như chưa chú
trọng đến việc phát triển năng lực tư duy hóa học, năng lực phát hiện và giải
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tư liệu và sản phẩm hoạt động sư phạm
Phương pháp quan sát thực tế: quan sát các thắc mắc của học sinh khi
quan sát hiện tượng.
Phương pháp hỏi đáp: trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinh về những
vấn đề liên quan đến nội dung đề tài.
Phương pháp thống kê, phân tích số liệu
B. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Định hướng chương trình giáo dục phổ thông với mục tiêu là giúp học
sinh phát triển toàn diện về đạo đức trí lực, thể chất và thẩm mĩ và các kĩ năng
cơ bản. Phát triển năng lực cá nhân, tính năng đông, sáng tạo, hình thành nhân
cách cong người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân...( Luật giáo dục năm 2015). Quyết định số 16/2006/QĐ,
BGD & ĐT ngày 5/5 /2006 của Bộ trưởng bộ Giáo dục và Tào tạo cũng nêu:
“Phát huy tính tích cực , tự giác , chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với
từng môn học , đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học , bồi
dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, , khả năng hợp tác , rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm , đem lại niềm
vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Để đạt được các mục tiêu đó thì khâu đột phá là đổi mới giáo dục , bỏ lối
dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp” dạy học tích
cực” .Làm cho ‘học” là quá trình kiến tạo: tìm tòi, , khám phá , phát hiện và
xử lí thông tin,...Học sinh tự mình hình thành hiểu biết , năng lực và phẩm
chất. ‘Dạy” là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh: cách tự
học, sáng tạo, hợp tác,...dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy
cách học. Học để đáp ứng nhưu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai ...giúp
học sinh nhận thức được những điều đã học cần thiết , bổ ích cho bản thân và
2.3. Mặt mạnh – mặt yếu
Mặt mạnh: Các em học sinh đa số đều chăm ngoan và có ý thức học tập.
Luôn chịu khó học bài cũ, làm bài tập hoá học và đọc trước bài mới. một số em
còn tham khảo nhiều loại sách và rèn luyện làm bài tập.
Mặt yếu: Các em chưa biết cách học tập hiệu quả, học tập máy móc không
tự tìm hiểu nghiên cứu tìm tòi sáng tạo.
Học sinh không thể nhớ nổi các phản ứng đặc trưng của vô số chất.
2.4. Các nguyên nhân , các yếu tố tác động
- Lượng kiến thức môn hoá là quá nhiều, thời gian dạy trên lớp đều là
dạy lý thuyết, rất ít tiết luyện tập làm bài tập
- Ý thức học tập và tụ học của các em chưa cao
- Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, phòng thực hành chưa có, hoá chất đã hư
hại và hết hạn sử dụng
3 GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:
3.1.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Bài tập của PISA: Các câu hỏi của PISA đều là các câu hỏi dựa trên
các tình huống của đời sống thực, nhiều tình huống được lựa chọn không phải
chỉ để học sinh thực hiện các thao tác về tư duy, mà còn để học sinh ý thức
về các vấn đề xã hội. Dạng thức của câu hỏi phong phú, không chỉ bao gồm
các câu hỏi lựa chọn đáp án mà còn yêu cầu học sinh tự xây dựng nên đáp án
của mình.
3.1.1 Bài tập thực tiễn:
- Việc lồng ghép các bài tập thực tiễn vào trong quá trình dạy và học,
trước hết tạo điều kiện cho việc học và hành gắn liền với thực tế, tạo cho học
sinh sự hứng thú, hăng say trong học tập.
- Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích
cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận
dụng kiến thức vào cuộc sống.
- Giúp cho học sinh có được những hiểu biết về hệ tự nhiên và hoạt động
của nó, tác động của nó đối với cuộc sống của con người.
lạc bộ hóa học,….
3.2 Quy trình thiết kế hệ thống câu hỏi/bài tập theo hướng gắn với đời
sống thực tiễn
3.2.1 Lựa chọn đơn vị kiến thức
Với những định hướng đổi mới trong kiểm tra đánh giá môn hóa học ở
trường THPT, khi xây dựng hệ thống bài tập hóa học THPT hướng gắn với
đời sống thực tiễn, cần lựa chọn những đơn vị kiến thức không chỉ có ý nghĩa
về đơn thuần về mặt hóa học mà còn gắn liền với thực tiễn, với đời sống của
cá nhân và cộng đồng (như: mưa axit, ăn mòn kim loại, ô nhiễm môi trường
không khí...), phát huy được năng lực khoa học, năng lực phát hiện và giải
quyết vấn đề ... của học sinh nhưng không quá khó, quá trừu tượng, làm mất
đi bản chất hóa học...
3.2.2. Xác định mục tiêu giáo dục của đơn vị kiến thức
Đơn vị kiến thức lựa chọn khi thiết kế bài tập theo hướng gắn với đời
sống thực tiễn cần thực hiện được mục tiêu giáo dục là định hướng phát triển
năng lực bao gồm (kiến thức, kĩ năng, thái độ - tình cảm) của môn Hóa học
nói riêng và mục tiêu giáo dục ở trường THPT nói chung.
3.2.3. Thiết kế hệ thống bài tập theo mục tiêu
• Xây dựng các bài tập tương tự các bài tập đã có
Khi một bài tập có nhiều tác dụng đối với học sinh, ta có thể dựa vào bài
tập đó để tạo ra những bài tập khác tương tự theo các cách như:
- Giữ nguyên hiện tượng và chất tham gia phản ứng, chỉ thay đổi lượng chất
- Giữ nguyên hiện tượng và thay đổi chất tham gia phản ứng.
- Thay đổi các hiện tượng phản ứng và chất phản ứng, chỉ giữ lại những
dạng phương trình hóa học cơ bản.
- Từ một bài toán ban đầu, ta có thể đảo cách hỏi giá trị của các đại
lượng đã cho như: khối lượng, số mol, thể tích, nồng độ ...
- Thay các số liệu bằng chữ để tính tổng tổng quát
- Mức đầy đủ: Trong hệ thống nước máy, người ta cho một lượng nhỏ
khí clo vào để có tác dụng diệt khuẩn, trong nước clo tan 1 phần và 1 phần
phản ứng với nước:
Cl2 + H2O
HCl +
HClO
Axit hipoclorơ HClO sinh ra có tính oxi hóa rất mạnh nên có tác dụng
khử trùng, sát khuẩn. Phản ứng thuận nghịch nên clo luôn có trong nước, vì
vậy khi sử dụng nước máy ta ngửi được mùi clo.
- Mức chưa đầy đủ: Giải thích được nhưng không viết được phương trình
phản ứng
- Mức không đạt: Không trả lời hoặc trả lời sai.
Câu 2: . Dùng Clo để khử trùng nước sinh hoạt là một phương pháp rẻ tiền
và dễ sử dụng. Tuy nhiên, cần phải thường xuyên kiểm tra nồng độ clo dư ở
trong nước bởi vì lượng clo dư sẽ gây nguy hiểm cho con người và môi trường.
Cách đơn giản để kiểm tra lượng clo dư là dùng kali iotua và hồ tinh bột. Hãy
nêu hiện tượng của quá trình này và viết phương trình hóa học (nếu có).
Hướng dẫn đáp án:
- Mức đầy đủ: Cho nước máy đã xử lí bằng clo vào ống nghiệm chứa dd
KI không màu, thêm 1ml hồ tinh bột. Nếu nước máy còn dư clo, clo sẽ tác
dụng với KI giải phóng ra I2, khi I2 gặp tinh bột sẽ chuyển thành màu xanh.
Cl2 + 2KI → 2KCl + I2
- Mức chưa đầy đủ: Nêu được hiện tượng của thí nghiệm nhưng không
viết được phương trình phản ứng
- Mức không đạt: Không trả lời hoặc trả lời sai.
Câu 3: Ở các vùng lũ, sau các trận lũ người ta thường dùng cloramin B
để sát trùngnước? Vậy cloramin B là chất gì mà sát trùng được nguồn nước?
Hướng dẫn đáp án:
polyetylen, hay sodium hypochlorite thường thấy trong nước javen; hoặc những
chất chlorine đó là những chất được xem là có hại cho sức khỏe. Mức độ hại
nhiều hay ít tuỳ theo hàm lượng, nồng độ của hoá chất ấy trong dung dịch chúng
ta sử dụng. Nếu các hoá chất này vào cơ thể với liều lượng khá cao thì có thể gây
ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Khi nó tác động đến hệ tiêu hoá thì có
thể gây ra sự rối loạn tiêu hoá, gây buồn nôn, ói mửa, và ăn không ngon.
chúng ta khi tiếp xúc với các loại hoá chất đó cũng có thể bị kích thích, viêm da,
nặng hơn thì đưa tới trường hợp ung thư da.
Câu 1: Giải thích vì sao nước Gia-ven có khả năng tẩy trắng vải sợi và cho
biết vì sao trên thực tế người ta dùng clorua vôi nhiều hơn nước Gia-ven?
Hướng dẫn đáp án:
- Mức đầy đủ: Trong nước Gia-ven, ClO- có tính oxi hóa mạnh do clo có
số oxi hóa +1 dễ nhận electron tạo thành Cl -, nó oxi hóa được chất có màu
thành chất không màu.
Trong không khí có CO2, clorua vôi tác dụng với CO2 giải phóng HClO
nên có ứng dụng tương tự nước Gia-ven.
2CaOCl2 + CO2 + H2O → CaCO3 + CaCl2 + 2HClO
Clorua vôi cũng được dùng để tẩy trắng vải sợi, giấy, tẩy uế các hố rác,
cống rãnh, xử lí các chất độc hữu cơ. Một lượng lớn clorua vôi được dùng để
tinh chế dầu mỏ.
So với nước Gia-ven, clorua vôi rẻ tiền hơn, hàm lượng hipoclorit cao
hơn, dễ bảo quản và chuyên chở hơn nên được sử dụng nhiều hơn.
- Mức chưa đầy đủ: Trả lời không đủ các ý trên
- Mức không đạt: Không trả lời hoặc trả lời sai.
Câu 2: Có nhiều giải pháp được cho là góp phần hạn chế độc hại cho
người sử dụng chất tẩy rửa.
Điền “Có” hoặc “Không” ứng với mỗi trường hợp
Giải pháp này có góp phần hạn chế độc hại cho người sử
có thể giữ lượng KI trong muối iot khoảng 6 tháng.
Câu 1: Em hãy tính lượng nước tối đa cho phép có trong một tấn muối
iot theo tiêu chuẩn trên.
Hướng dẫn đáp án:
- Mức đầy đủ: Tính được lượng nước tối đa theo công thức
106g muối →
100%
m
→
3,5%
Khối lượng nước tối đa cho phép có trong một tấn muối iot theo tiêu
chuẩn trên: m = 3,5.106/100 = 3,5.104 (g).
- Mức chưa đầy đủ: Hiểu đúng bản chất vấn đề, các bước tính toán đúng
nhưng kĩ năng tính toán sai (có thể do viết sai)
- Mức không đạt: Không biết tính hoặc không làm bài.
Câu 2: Làm thế nào để phân biệt muối ăn thường và muối iot?
Hướng dẫn đáp án:
- Mức đầy đủ Muối iot ngoài thành phần chính là muối ăn (NaCl) còn
có một lượng nhỏ KI và KIO3 (nhằm cung cấp iot cho cơ thể).
Để phân biệt muối thường và muối iot ta vắt nước chanh vào muối, sau
đó thêm vào một ít nước cơm. Nếu thấy màu xanh đậm xuất hiện chứng tỏ
muối đó là muối iot.
Nước chanh có môi trường axit. Trong môi trường axit, KI không bền
bị phân hủy một phần thành I2. I2 mới tạo thành tác dụng với hồ tinh bột có
trong nước cơm tạo thành phức chất màu xanh đậm.
- Mức chưa đầy đủ: Chỉ ra được sự khác nhau về thành phần hóa học
nhưng không nêu ra thí nghiệm vắt nước chanh vào muối hoặc đề xuất thí
nghiệm vắt nước chanh vào muối nhưng không chỉ ra được sự khác nhau về
- Mức đầy đủ: thay bằng dung dịch H 2SO4 đặc và bột CaF2. Cách làm
tương tự như trên, rồi rắc bột CaF 2 vào chổ cần khắc, cho thêm H2SO4 đặc vào
và lấy tấm kính khác hoặc bìa cứng đặt lên trên khu vực khắc, sau 1 thời gian
thuỷ tinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo lớp sáp.
( H2SO4 + CaF2 → CaSO4 + 2 HF.
SiO2 + HF → SiF4 + H2O)
- Mức chưa đầy đủ: thay bằng dung dịch H2SO4 đặc và bột CaF2, không
giải thích vì sao.
- Mức không đạt: không trả đúng ý nào, hoặc không trả lời
4.2. Chương oxi- lưu huỳnh
Bài tập 6: Đọc đoạn thông tin sau và trả lời câu hỏi 1, 2, 3
Theo khám phá về giới hạn sinh tồn của con người, con người có thể
nhịn thở 3 phút, nhịn uống 3 ngày và nhịn ăn 3 tuần. Vì vậy hô hấp là nhu cầu
không thể thiếu của con người để duy trì sự sống. Mọi tế bào trong cơ thể đều
cần cung cấp đủ oxi. Nếu không có oxi thì tốc độ chuyển hóa tế bào giảm
xuống và một số tế bào bắt đầu chết sau khoảng 30 s nếu không được cung
cấp đủ oxi.
Hiện nay, người ta có thể sử dụng bình khí thở oxi trong y học và đời
sống để cung cấp oxi cho người không có khả năng tự hô hấp hoặc làm việc
trong môi trường thiếu oxi không khí, có khói, khí độc, khí gas …
Câu 1. Theo đoạn thông tin trên người ta sử dụng bình khí thở oxi trong
trường hợp nào?
Hướng dẫn đáp án :
- Mức đầy đủ: Học sinh cần đề cập được những ngành, nghề mà con
người cần làm việc trong môi trường thiếu oxi không khí, có khí gas, khí độc
…
+ Sử dụng trong hầm mỏ, nhà kho…
+ Sử dụng cho nhân viên cứu hỏa, thợ lặn…
Hình vẽ bên là cách lắp đặt dụng cụ thí nghiệm, điều chế oxi trong
phòng thí nghiệm.Hãy giải thích cách lắp đặt đó.
KMnO4
bông
Hướng dẫn đáp án:
- Mức đầy đủ: + Ống nghiệm hơi trúc xuống,để hơi nước trong quá trình
đun nóng KMnO4 không rơi xuống đáy ống nghiệm làm vỡ ống nghiệm.
+ Trước khi đậy nút cần cho vào ống nghiệm một ít bông để hạn chế bụi
thuốc tím bay sang ống dẫn khí khi phản ứng xảy ra.
+ Dùng đèn cồn hơ lướt nhẹ dọc ống nghiệm, sau đó đun tập trung ngọn lửa vào
chỗ có thuốc tím vì tránh quá trình thuỷ tinh co giãn đột ngột làm vỡ ống nghiệm.
- Mức không đầy đủ: trả lời đúng 2 ý ..
- Mức không đạt: Không trả lời hoặc trả lời sai
Bài tập 7: OZON VÀ HIỆN TƯỢNG “ SUY GIẢM TẦNG OZON “
(đọc đoạn thông tin sau và trả lời câu hỏi 3, 4, 5, 6, 7)
Tháng 10 năm 1985, các nhà khoa học Anh phát hiện thấy tầng khí ozon trên
không trung Nam cực xuất hiện một "lỗ thủng" rất lớn, bằng diện tích nước
Mỹ. Năm 1987, các nhà khoa học Ðức lại phát hiện tầng khí ozon ở vùng trời
Bắc cực có hiện tượng mỏng dần, có nghĩa là chẳng bao lâu nữa tầng ozon ở Bắc
cực cũng sẽ bị thủng. Tin này nhanh chóng được truyền khắp thế giới và làm
chấn động dư luận. Các nhà khoa học đều cho rằng, nguyên nhân này có liên
quan đến dung dịch freon thể lỏng (thường gọi là "CFC").
Ozon vừa là chất gây ô nhiễm, vừa là chất bảo vệ. Trong thương mại và đời
sống, ozon có rất nhiều ứng dụng thực tế.
Lỗ thủng năm 1980
Câu 3. Trong câu cuối của đoạn thông tin trên cho biết ozon có nhiều
ứng ứng dụng trong thương mại và đời sống. Những ứng dụng đó là gì?
Khoanh tròn Có hoặc Không với mỗi nội dung trong bảng sau.
Ứng dụng của ozon
Có hoặc Không
1.Tẩy trắng các loại dầu ăn, tinh bột …
Có / Không
2.Khử trùng nước, khử mùi, bảo quản hoa quả.
Có / Không
3.Sử dụng trong các bình khí thở.
Có / Không
4. Dùng để chữa sâu răng trong y học.
Có / Không
5.Sử dụng bảo quản thức ăn.
Có / Không
Hướng dẫn đáp án:
- Mức đầy đủ. 1. Có, 2. Có, 3. Không, 4. Có, 5. Không.
Có/ Không
5. Trồng nhiều rừng thông
Có/Không
Hướng dẫn đáp án:
- Mức đầy đủ: Trả lời đúng tất cả các câu theo thứ tự: Có, Có, Không,
Có, Không
- Mức chưa đầy đủ: Trả lời đúng 2 hoặc 3, 4 ý
- Không đạt: Chỉ trả lời đúng 1 ý hoặc không trả đúng ý nào, hoặc không
trả lời
Bài tập 8: Mưa axit
Hãy đọc đoạn văn bản trích dẫn sau:
Mưa axit được phát hiện ra đầu tiên năm 1948 tại Thụy Điển.Thuật ngữ
“mưa axit” được đặt ra bởi Robert Angus Smith vào năm 1972. Mưa axit là
do sự kết hợp của các oxit phi kim và nước. Nước có sẵn trong tự nhiên, các
oxit được thải ra từ hoạt động của con người, đặc biệt là việc sử dụng các loại
nhiên liệu hóa thạch. Nguyên nhân chủ yếu là các loại oxit nito và oxit lưu
huỳnh. Những loại oxit này tạo nên những loại axit mạn nhất là axit nitric
(HNO3), và axit sulfuric (H2SO4). Ngoài ra còn một số nguyên nhân dẫn đến
hiện tượng mưa axit trong tự nhiên như những vụ phun trào núi lửa, hay các
đám cháy…
Khi trời mưa, các hạt axit này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của
nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa axit.
Do có độ chua khá lớn, nước mưa có thể hoà tan được một số bụi kim
loại và oxit kim loại có trong không khí như oxit chì,... làm cho nước mưa trở
3. Không cho phép các nhà máy có lượng khí thải SOx,
NOx ra ngoài môi trường được hoạt động
Có/ Không
4. Nâng cao chất lượng nhiên liệu hóa thạch bằng cách loại
bỏ triệt để lưu huỳnh và nitơ có trong dầu mỏ và than đá
trước khi sử dụng.
Có/ Không
5. Các nhà máy phải xây dựng ống khói thật cao để các khí
SOx, NOx phát tán được nhanh.
Có/ Không
không?
Hướng dẫn đáp án:
- Mức đầy đủ: Trả lời đúng tất cả các câu theo thứ tự: Có, Có, Không,
Có, Không
- Mức chưa đầy đủ: Trả lời đúng 2 hoặc 3, 4 ý
- Không đạt: Chỉ trả lời đúng 1 ý hoặc không trả đúng ý nào, hoặc
không trả lời
5. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Sau khi đổi mới phương pháp dạy học bằng việc đưa bài tập gắn với
thực tiễn theo hướng tiếp cận Pisa vào bài dạy và vào các bài kiểm tra 15
phút, kiểm tra 1 tiết , kiểm tra học kỳ của học kỳ II ở các lớp 10A8, !09 năm
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
%
Số
lượng
%
lượng
%
2
5.4
3
8.1
10
26.3
8
11.7
7
19
4
10.6
Học lực
Tổng
37
100
37
100
38
100
Trên đây là những công việc tôi đã làm để hoàn thành đề tài. Tôi hi
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Dạ Hương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cao Cự Giác (2009), Thiết kế và sử dụng bài tập thực nghiệm
trong dạy và học hóa học. Nxb Giáo dục Việt Nam.
2. Cao Cự Giác, Nguyễn Xuân Trường (2005), “Các xu hướng đổi
mới phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông hiện nay”, Tạp chí
Giáo dục, (128), tr.34-36.
3. Trần Quốc Đắc, Trần Trung Ninh (2010), Hướng dẫn thí nghiệm
và bài tập thực nghiệm hóa học 9, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4. Nguyễn Xuân Trường, 385 câu hỏi và đáp về hóa học với đời sống
(2006), NXBGD.
5 . Sách giáo khoa hoá học lớp 10. NXBGD
6. Đỗ Tiến Đạt (2011), “ Chương tình đánh giá học sinh quốc tế
PISA” , kỷ yếu hội thảo quốc gia về giáo dục toán học phổ thông
7. Sách giáo viên hoá học 10. NXBGD
8. Lê Thị Mỹ Hà (2011), "Chương trình đánh giá quốc tế PISA tại
Việt Nam ". Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội (346) tr. 28 - 36
9. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa
lớp 10 trung học phổ thông, NXBGD.
10. Nguyễn Lân Dũng (2001), Bộ sách 10 vạn câu hỏi vì sao Bảo vệ môi trường, NXB Khoa học và Kỹ thuật.
11.Đỗ Xuân Hưng, Hướng dẫn giải nhanh các dạng bài tập hóa học
12. Lê Thị Mỹ Hạnh (2011), “ Chương tình đánh giá quốc tế PISA tại
Việt Nam” tạp chí khoa học xã hội (346) trang 28 -36