Tổ chức buổi học ngoại khóa “ sóng điện từ và việc bảo vệ môi trường” – lớp 12 THPT nguyễn hoàng - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT NGUYỄN HOÀNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TỔ CHỨC BUỔI HỌC NGOẠI KHÓA
“SÓNG ĐIỆN TỪ VÀ VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG’’
LỚP 12 THPT NGUYỄN HOÀNG

Người thực hiện: Phùng Đức Thắng
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Vật lý

THANH HOÁ NĂM 2017

1


MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SKKN
2.1 Cơ sở lý luận của SKKN
2.2. Thực trạng vấn đề
2.3. Giải pháp đã sử dụng
2.4. Hiệu quả của SKKN


Bảo vệ môi trường là một trong nhiều mối quan tâm mang tính toàn cầu.
Ở nước ta, bảo vệ môi trường cũng đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc. Nghị
quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ chính trị về tăng cường
công tác bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước; Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2001 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án : “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường
vào hệ thống giáo dục quốc dân” và Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02
tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Bảo
vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã tạo cơ sở
pháp lí vững chắc cho những nỗ lực và quyết tâm bảo vệ môi trường theo định
hướng phát triển một tương lai bền vững của đất nước.
Khi nói đến ô nhiễm môi trường thì chúng ta thường nghĩ đến những vấn
đề như ô nhiễm bầu không khí do khí thải CO 2 ra môi trường từ các nhà máy
công nghiệp, các động cơ; nguồn nước bị ô nhiễm, rác thải bừa bãi,…Nhưng
chúng ta lại không để ý đến một nhân tố cũng gây ô nhiễm môi trường và ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người hằng ngày, đó là “Sóng điện từ”.
Chính vì vậy, tôi xin được trình bày buổi học ngoại khóa vật lý “Sóng
điện từ và việc bảo vệ môi trường” .
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích của buổi học ngoại khóa là giới thiệu cho các em một bức tranh
toàn cảnh về sóng điện từ, nhằm trang bị cho các em những kiến thức hết sức bổ
ích về lĩnh vực này. Mặt khác buổi học ngoại khóa sẽ cung cấp cho các em
những hiểu biết cơ bản về tác hại của sóng điện từ đối với sức khỏe của con
người. Để từ đó các em có những hành động, việc làm thiết thực, có ý thức cao
trong việc bảo vệ môi trường nói chung và không gian sinh sống trong từng gia
đình nói riêng. Các em biết cách sử dụng một cách hợp lí các thiết bị thu và phát
sóng điện từ từ các vật dụng sinh hoạt hằng ngày trong gia đình.
Ở các trường THPT hiện nay việc tổ chức các buổi học ngoại khóa nói
chung và ngoại khóa Vật lý nói riêng còn nhiều hạn chế. Một mặt là vì chương

tiếp đến sức khỏe con người hằng ngày thì chúng ta lại không cảm nhận được.
Điều này được thể hiện qua việc sinh hoạt hằng ngày trong cuộc sống. Ví dụ như
chúng ta sử dụng điện thoại di động một cách tùy tiện, không có khoa. Chúng ta
thường ngồi máy vi tính quá lâu, thường xuyên bỏ điện thoại di động trong túi
quần…, mà không hề hay biết nó cũng là một trong các nhân tố dẫn đến tình
trạng “vô sinh” – một căn bệnh phổ biến hiện nay ở giới trẻ.
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Tôi thực hiện đề tài nghiên cứu ở hai lớp: lớp 12B1 được chọn là lớp thực
nghiệm (thực hiện buổi học ngoại khóa) và lớp 12B3 là lớp đối chứng (ôn tập
theo phương pháp truyền thống). Hai lớp này đều học theo chương trình cơ bản
và có trình độ ngang nhau. Tôi cho hai lớp làm bài kiểm tra (cùng chung đề) và
thu thập kết quả.
Để phân tích định lượng kết quả thu được,tôi sử dụng phương pháp thống
kê toán học để xử lý kết quả kiểm tra đối với hai lớp thử nghiệm.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận
Một trong những biểu hiện ý nghĩa nhất của Điện từ học, đó là điện
trường và từ trường biến đổi kết hợp với nhau tạo thành một loại sóng lan
truyền, gọi là sóng điện từ. Người ta đã tiên đoán sự tồn tại của sóng điện từ, và
nghiên cứu bằng lí thuyết những tính chất của nó hàng chục năm trước khi tạo
được sóng trong phòng thí nghiệm. Năm 1864 nhà vật lí học xứ E-cốt (Anh),
Mắc-xoen (James Clerk Maxwell, 1831 – 1879) đề ra một giả thuyết rằng: Nếu
một từ trường thay đổi để tạo nên một điện trường, thì tương tự như vậy, một
điện trường thay đổi sẽ phải tạo nên một từ trường. Dường như là có sự “đối
xứng” giữa điện trường và từ trường.
Lần đầu tiên sóng điện từ được tạo ra và quan sát trong phòng thí nghiệm
vào năm 1887 do nhà vật lí học Đức Héc (Heinrich Hertz) thực hiện. Ông dã
dùng một anten, tương tự như một LC, tạo ra dòng điện xoay chiều tần số cao
trong đó, và thấy rằng năng lượng có thể chuyển từ mạch này sang một mạch
LC đặt cách đó nhiều mét. Hơn nữa, ông còn chứng tỏ được rằng, sự truyền

sẽ thấy c chính là tốc độ truyền ánh sáng.
Bây giờ, xét một máy phát điện xoay chiều có hai đầu ra, mà mỗi đầu
được nối thêm một thanh dẫn điện dài, hai thanh cùng nằm trên một đường
thẳng thẳng đứng và nối dài về hai phía gọi là anten. Hình 1 vẽ hai thanh nối dài,
máy phát điện được biểu diễn bằng một vòng tròn ở giữa, máy tạo nên dao động
điện, chu kì T trong an ten. Chúng ta khảo sát sự lan truyền của sóng điện từ từ
anten theo phương của trục x nằm ngang vuông góc với anten

P
x

r
E
a) Thời điểm
t=0

P Qr

E

b) Thời điểm 0

Giả thiết rằng vào thời điểm t = 0, thanh trên tíchrđiện dương, thanh dưới tích
diện âm có độ lớn cực đại (hình 1a). Điện trường E tại điểm P trên trục x, ngay
sát anten hướng xuống dưới.
Một thời gian ngắn sau đó vào thời điểm t 1 sao cho 0
còn từ trườngr tạo thành bởi dòng điện, theo quy tắc vặn cái đinh ốc, có vectơ
cảm ứng từ B nằm ngang, tức là vuông góc với mặt phẳng của hình vẽ,r và
hướng vào trong.
Ta thấy rằng trong trường hợp này hai vectơ điện trương E và
r
cảm ứng từ B vuông góc với nhau. Xét trong một chu kì T, bằng phương pháp
tương tự như khi khảo sát điện trường, ta cũng thấy rằng từ trường truyền đi ra
xa anten cũng cór dạng sóng, với tốc độ truyền tương
tác c. Chú ý rằng vào thời
r
điểm mà vectơ E bằng 0 thì vectơ cảm ứng từ B cũng bằng 0. Hai vectơ này
luôn luôn vuông góc với nhau và với hướng truyền sóng. Điện trường và từ
trường cùng biến đổi điều hòa và lan truyền như thế này là sóng điện từ.
Những khảo sát chặt chẽ hơn, bằng cách lập luận toán học, xuất phát từ 4
phương trình Mắc-xoen về điện từ, cór thể suy ra rằng:
r
a) Vectơ cường độ điện trường E và vectơ cảm ứng từ B luôn luôn vuông
góc với nhau, chúng lan truyền với cùng tốc độ c theo hướng Ox. Tốc độ c
tính được theo các hằng số điện và từ:

c=

1
ε
ε 0 µ0 với 0 là số điện và

µ0 là hằng số từ.
r
r
b) Vectơ E , vectơ B và Ox hợp với nhau thành

trong sóng điện
từ phẳng như sau:
r
r
E ( x, t ) = Emax e2 cos(ωt − kx)

(1)

r
r
B ( x, t ) = Bmax e3 cos(ωt − kx )

(2)
2.2 Thực trạng vấn đề.
2.2.1 Sóng điện từ làm ô nhiễm môi trường sống
Bật đài, ti vi chúng ta có thể nghe thấy hoặc nhìn thấy chương trình. Đó là
vì đài phát thanh, truyền hình vô tuyến điện đã phát xạ sóng điện từ ra môi
trường xung quanh, rồi truyền các tín hiệu chương trình đến các hộ gia đình.
Điện thoại di động không có dây điện thoại cũng có thể kết nối mọi người với
nhau cũng là do có sự giúp đỡ của sóng điện từ. Ngoài ra còn có rất nhiều thiết
bị như rada, thiết bị tăng nhiệt vi sóng điện từ vào không gian xung quanh. Tuy
bạn hoàn toàn không cảm thấy nhưng chúng ta đang sống trong môi trường đầy
sóng điện từ.
Cùng với việc mang lại nhiều tiện lợi, sóng điện từ cũng không tránh khỏi
gây ra một số nguy hại khác. Ví dụ, âm thanh ồn của sóng điện từ sẽ ảnh hưởng
đến sự làm việc bình thường của các thiết bị điện tử và các loại máy đo, làm cho
tin tức bị thất lạc, mất khả năng điều khiển. Khi xem tivi, những cảnh tượng mà
chúng ta nhìn thấy giống như những hiện tượng rung động và nhiễu, đó thường
là vì nó bị ảnh hưởng của sóng điện từ gần đó. Sóng điện từ quấy nhiễu còn có
thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng hơn. Ví dụ như tạo ra sự thất lạc của các

Bình thường chúng ta bị bao vây bởi bao nhiêu làn sóng từ dưới đất lên,
từ trên trời cao xuống. Những đường dây cao thế, sóng truyền thanh, truyền hình
vây bọc chúng ta từ mọi phía. Những năm gần đây, các vệ tinh địa tĩnh đưa
xuống Trái đất nhiều loại sóng điện từ khác phục vụ Internet không dây, mạng
điện thoại di động...So với 30 năm về trước, số lượng những làn sóng điện từ
chúng ta phải chịu đựng tăng gấp vài trăm lần. Nhưng thiết bị điện tử gia dụng
đặt trong nhà, ở thời buổi hiện tại không biết cơ man nào mà kể. Nhà nào chẳng
một, hai cái tivi, rồi đầu đĩa, các thiết bị nghe nhạc, lò vi sóng, máy vi tính ...
“Con dế” ngày càng nhiều chức năng chốc chốc lại ri rỉ bên tai và nằm ngay đầu
giường ngủ. Các nguồn phát sóng điện từ cả đấy! Cơ thể chúng ta, muốn hay
không thì cũng trở thành một chiếc ăngten bị hấp thụ một cách cưỡng bức mọi
loại sóng từ môi trường xung quanh mà vô phương bảo vệ kể cả ban đêm trong
khi chìm trong giấc ngủ, khi sức đề kháng mất di đến hai phần ba. Vì vậy, người
ta gọi các loại sóng điện từ là “sát thủ tàng hình” không ngoa chút nào. Khoa
học đã chứng minh sóng điện từ đối với những người mẫn cảm là thủ phạm gây
chứng mất ngủ hoặc ngủ mê mệt, chuột rút, ngứa ngáy, đổ mồ hôi, tim đập
nhanh, đau lưng...Từ trường của chiếc máy vi tính - tuỳ theo thời gian bạn tiếp
xúc – có thể gây mụn trứng cá, eczema, nhức mắt,... Ánh sáng nhân tạo trong
nhà phát ra từ chiếc đèn ống hoặc đèn halogen cũng góp phần “ăn mòn” sức
9


khoẻ. Có bước sóng khác với ánh sáng tự nhiên mà loài người đã thích nghi từ
ngàn đời loại ánh sáng phi tự nhiên vượt ngưỡng cho phép có thể gây stress,
bệnh ngoài da, mất ngủ, nhức đầu, loãng xương.
2.2.3 Tác hại của điện thoại di động đối với sức khỏe con người
Điện thoại di động là vật bất ly thân của nhiều người nhưng nó cũng có
thể gây ra những tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe. Khi sử dụng, điện thoại di
động sẽ phát ra một loại sóng điện từ truyền đến trạm bức xạ để nhận và phát tín
hiệu. Loại sóng bức xạ này cũng được cơ thể con người hấp thụ. Độ bức xạ

tôi xây dựng hai hệ thống câu hỏi: Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan và
hệ thống câu hỏi tự luận.

10


HỆ THỐNG CÂU HỎI CHO BUỔI HỌC NGOẠI KHÓA
Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Câu 1: Trong các loại tia: Rơn-ghen, hồng ngoại, tự ngoại, đơn sắc màu lục; tia
có tần số nhỏ nhất là
A. tia tử ngoại.
B. tia đơn sắc màu lục.
C. tia hồng ngoại.
D. tia Rơn-ghen.
Câu 2: Hãy chọn câu đúng
Nhiều khi ngồi trong nhà không thể dùng được điện thoại di động, vì không
có sóng. Nhà đó chắc chắn phải là
A. nhà sàn.
B. nhà lá.
C. nhà gạch.
D. nhà bê tông.
Câu 3: Sóng điện từ có tần số 12MHz thuộc loại sóng nào dưới đây?
A. Sóng dài. B. Sóng trung. C. Sóng ngắn.
D. Sóng
cực ngắn.
r
r
Câu 4: Trong quá trình lan truyền sóng điện từ, vectơ B và vectơ E luôn luôn
A. trùng phương với nhau và vuông góc với phương truyền sóng.
B. dao dộng cùng pha.

B. là điện từ trường lan truyền trong không gian.
C. có thành phần điện trường và thành phần từ trường tại một điểm dao động
cùng phương.
D. không truyền được trong chân không.
Câu 7: Phát biểu nào sau đây là sai khi nói về sóng điện từ?
A. Trong sóng điện từ, điện trường và từ trường biến thiên theo thời gian với
cùng chu kì.
B. Trong sóng điện từ, điện trường và từ trường luôn dao động lệch pha nhau

π
2

.
C. Sóng điện từ dùng trong thông tin vô tuyến gọi là sóng vô tuyến.
D. Sóng điện từ là sự lan truyền trong không gian của điện từ trường biến
thiên theo thời gian.
Câu 8: Mạch chọn sóng trong máy thu vô tuyến điện hoạt động dựa trên hiện
tượng
A. Phản xạ sóng điện từ.
B. Giao thoa sóng điện từ.
C. Khúc xạ sóng điện từ.
D. Cộng hưởng sóng điện từ.
11


Câu 9: Khi nói về sóng điện từ, phát biểu nào sau đây là sai?
A. Sóng điện từ bị phản xạ khi gặp mặt phân cách giữa 2 môi trường.
B. Sóng điện từ là sóng ngang.
C. Sóng điện từ chỉ truyền được trong môi trường vật chất đàn hồi.
D. Sóng điện từ truyền trong chân không với vận tốc c ≈ 3.108 m/s.

4
B

5
C

6
B

7
B

8
D

9
C

10
A

11
D

12
A

13
D


động ngược pha.
C. Tại mỗi điểm của không gian, điện trường và từ trường luôn luôn dao
động lệch pha nhau π/2.
D. Điện trường và từ trường biến thiên theo thời gian với cùng chu kì.
Câu 3: Chọn câu đúng. Tia hồng ngoại và tia tử ngoại
A. đều là sóng điện từ nhưng có tần số khác nhau.
B. không có các hiện tượng phản xạ, khúc xạ, giao thoa.
C. chỉ có tia hồng ngoại làm đen kính ảnh.
D. chỉ có tia hồng ngoại có tác dụng nhiệt.
Câu 4: Chọn kết luận đúng. Tia hồng ngoại, ánh sáng nhìn thấy, tia tử ngoại, tia
X và tia gamma đều là
A. sóng vô tuyến, có bước sóng khác nhau.
B. sóng cơ học, có bước sóng khác nhau.
C. sóng ánh sáng có bước sóng giống nhau.
D. sóng điện từ có tần số khác nhau.
Câu 5: Chọn câu trả lời không đúng:
A. Tia X được phát hiện bới nhà Bác học Rơnghen.
B. Tia X có năng lượng lớn vì có bước sóng lớn.
C. Tia X không bị lệch trong điện trường và trong từ trường.
D. Tia X là sóng điện từ.
Câu 6: Tia hồng ngoại là những bức xạ có
A. bản chất là sóng điện từ.
B. khả năng ion hoá mạnh không khí.
C. khả năng đâm xuyên mạnh, có thể xuyên qua lớp chì dày cỡ cm.
D. bước sóng nhỏ hơn bước sóng của ánh sáng đỏ.
Câu 7: Khi nói về tia tử ngoại, phát biểu nào dưới đây là sai?
A. Tia tử ngoại có tác dụng mạnh lên kính ảnh.
B. Tia tử ngoại có bản chất là sóng điện từ.
C. Tia tử ngoại có bước sóng lớn hơn bước sóng của ánh sáng tím.
D. Tia tử ngoại bị thuỷ tinh hấp thụ mạnh và làm ion hoá không khí.

ánh sáng trong chân không.
D. Tần số của sóng điện từ bằng nửa tần số của điện tích dao động.
Câu 13: Khi nói về điện từ trường, phát biểu nào sau đây là sai?
A. Một từ trường biến thiên theo thời gian sinh ra một điện trường xoáy.
B. Một điện trường biến thiên theo thời gian sinh ra một từ trường xoáy.
C. Đường sức điện trường của điện trường xoáy giống như đường sức điện
trường do một điện tích không đổi, đứng yên gây ra.
D. Đường sức từ của từ trường xoáy là các đường cong kín bao quanh các
đường sức điện trường.
Câu 14: Đặc điểm nào dưới đây là đúng cho cả ba tia: Hồng ngoại, tử ngoại và tia
X?
A. Có thể gây ra giao thoa và nhiễu xạ.
B. Có tác dụng nhiệt mạnh khi các vật hấp thụ
C. Có thể gây ra hiện tượng quang điện ở hầu hết kim loại
D. Khó truyền qua được nước và thuỷ tinh
Câu 15: Đối với sự lan truyền sốngurđiện từ thì
A. vectơ cường urđộ điện trường E cùng phương với phương truyền
sóng còn
ur
vectơ cảm ứng từ B vuông góc vớiurvectơ cường độ điện trường
E.
ur
B. vectơ cường độ điện trường E và vectơ cảm ứng từ B luôn cùng phương
với phương truyền sóng.
ur
ur
C. vectơ cường độ điện trường E và vectơ cảm ứng từ B luôn vuông góc với
phương truyền sóng.
ur
D. vectơ cảm ứng u

Tự luận (4,0 điểm)
Câu 1 (1,5 điểm): Vì sao khi xem vô tuyến chúng ta cần giữ khoảng cách nhất
định với màn hình vô tuyến?
Khoảng cách xem vô tuyến là khoảng cách giữa mắt người với tâm điểm
màn hình quang vô tuyến. Độ dài khoảng cách này cần căn cứ độ lớn nhỏ của
màn hình vô tuyến. Khoảng cách này cần gấp 7 đến 8 lần độ cao của màn hình
vô tuyến, nếu vô tuyến 35 cm, khoảng cách mắt quan sát khoảng từ 1,8 đến 2
mét, khoảng cách mắt quan sát đối với màn hình 47 cm là 2,2 đến 2,6 mét.
Khoảng cách mắt và màn hình vô tuyến quá gần, thì thấy hình ảnh trên
màn hình rất mờ nhạt. Điều đó là bởi vì hình ảnh hiện lên trên màn hình vô
tuyến là do vô vàn điểm ánh sáng nhỏ tổ hợp thành, chúng được tạo ra do chùm
electron có tốc độ cao va đập cọ xát với màn hình. Nếu cách màn hình quá gần,
ánh sáng trên màn hình vô tuyến hiện ra không rõ làm chúng ta có cảm giác mờ
mờ.
Một nguyên tắc khác là nếu tiếp xúc quá gần với màn hình vô tuyến, các
tia sáng trên màn hình quá sáng kích thích mắt, gây tổn thương thị lực. Điều này
cũng giống như việc không nên đọc sách dưới ánh sáng có cường độ mạnh.
Còn có một nguyên nhân nữa hết sức quan trọng đó là, cách màn hình vô
tuyến quá gần cơ thể dễ bị bức xạ tia X quang phát ra từ màn hình làm ảnh
hưởng đến sức khỏe. Nếu duy trì khoảng cách thích hợp, tia X quang từ màn
hình phát tới cơ thể con người là cực kì nhỏ bé, không gây tổn hại đến sức khỏe.
Ngoài ra khi xem vô tuyến, ngoài việc cần giữ khoảng cách nhất định ra,
còn cần chú ý tới độ cao của mắt người. Mắt người nên cao hơn màn hình,
khoảng cách thông thường là trên 3 đên 5 cm tình từ trung tâm màn hình, mắt sẽ
không cảm thấy nhức mỏi.
Câu 2 (1,5 điểm): Tại sao lò vi sóng không cần lửa vẫn có thể nấu chín thức
ăn?
Vi sóng là sóng điện từ có tần số từ 300 đến 300. 000 Hz. Lò vi sóng thực
chất là một loại máy phát ra được vi sóng, tần số vi sóng được sản sinh ra 2450
Hz. Vi sóng có đặc tính rất thú vị là khi gặp các loại thức ăn có nước như thịt gà,

12B1
12B3

39
37

0
0
0

Bảng 1: Thống kê kết quả kiểm tra
Điểm
1 2 3 4 5 6 7 8 9
0 0 0 3 6 5 5 10 7
0 2 3 7 12 4 3 3 3

10
3
0

Điểm TB
7,2
5,3

Bảng 2: Bảng % HS đạt điểm yếu, kém, trung bình, khá, giỏi
Lớp

Đối tượng

12B1

Từ bảng thống kê tổng hợp tôi nhận thấy rằng lớp dạy ngoại khoá có số
học sinh đạt loại khá giỏi nhiều hơn so với lớp học theo phương pháp truyền
thống.Ngoài ra qua nhận xét của các giáo viên mời dự giờ ở lớp học ngoại khoá
các thầy cô đánh giá rất cao phương pháp mới này.
3. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
16


3.1. Kết luận
Đối chiếu với mục đích và nhiệm vụ của đề tài,tôi đã giải quyết được một
số vấn đề lí luận và thực tiễn như sau:
- Nghiên cứu và cung cấp cho các em học sinh một bức tranh toàn cảnh về
sóng điện từ. Qua đó trang bị cho các em một hệ thống kiến thức lí thuyết cơ
bản về lĩnh vực này; trang bị cho các em những hiểu biết hết sức bổ ích về
những tác hại của sóng điện từ đối với môi trường nói chung và sức khỏe của
con người nói riêng.
- Lớp học ngoại khoá ngoài truyền thụ kiến thức cho các em còn giúp các
em hiểu và nắm bắt được nhiều vấn đề trong cuộc sống hàng ngày.Đó cũng là
một cách dạy kỹ năng sống cho các em.
- Trao đổi, lấy ý kiến của các giáo viên và một số học sinh tham gia lớp
thực nghiệm để khẳng định tính thực tế, tính sáng tạo và tính hiệu quả của đề tài.
3.2. Kiến nghị
- Nhà trường cần quan tâm hơn nữa đến các buổi học ngoại khóa nói chung
và ngoại khóa môn Vật lý nói riêng; cần có thời gian biểu cụ thể cho vấn đề này;
cần trang bị các phòng học bộ môn có chất lượng cao, có đầy đủ các thiết bị
phục vụ cho bài giảng. Đặc biệt là các dụng cụ thí nghiệm phục vụ cho các môn
khoa học thực nghiệm. Giáo viên giảng dạy cần truyền thụ những kiến thức về
việc giáo dục bảo vệ môi trường trong các bài học.
- Nhà trường, tổ chuyên môn cần tạo điều kiện, khuyến kích và có chế độ
đối với các giáo viên trong việc tổ chức các buổi thảo luận, các buổi ngoại khóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status