Tổ chức dạy học ngoại khóa trong dạy học phần Điện học Vật lý lớp 11 trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức và bồi dưỡng năng lực sáng - Pdf 26


5
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG 6 NGOẠI
KHÓA VẬT LÍ Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG.
1.1. Cơ sở lí luận của hoạt động ngoại khóa vật lí ở trường phổ thông 6
1.1.1. Các vấn đề chung về hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông 6
1.1.2. Các nhiệm vụ cơ bản của dạy học Vật lí ở trường phổ thông 8
1.1.3. Hoạt động ngoại khóa 9
1.1.4. Nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp dạy học ngoại khóa 11
vật lí
1.1.5. Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lí 24
1.1.6. Cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động ngoại khóa trong việc phát 29
huy tính tích cực hóa hoạt động nhận thức và bồi dưỡng năng
lực sáng tạo của học sinh.
1.2. Thực trạng của hoạt động ngoại khóa và tình hình dạy và học 34
phần “Điện học” trong nhà trường phổ thông hiện nay
1.2.1. Mục đích điều tra 34
1.2.2. Phương pháp điều tra 35
1.2.3. Đối tượng điều tra 35
1.2.4. Kết quả điều tra 35
Kết luận chương 1 43
Chƣơng 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA PHẦN "ĐIỆN HỌC" VẬT LÍ 11
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC SÁNG TẠO
CHO HỌC SINH
2.1. Ý tưởng sư phạm khi soạn thảo tiến trình tổ chức hoạt động 44

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
THPT: Trung học phổ thông
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
SGK: Sách giáo khoa
BGK: Ban giám khảo
BKT: Ban kĩ thuật
BTC: Ban tổ chức
BTK: Ban thư ký
PĐT: Phiếu điều tra

7

phải đa dạng hoá các hình thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh, cần phải
khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động ngoài giờ lên lớp (hay hoạt động
ngoại khoá). Đây là một hình thức dạy học có ý nghĩa và vai trò hết sức quan
trọng, mang lại hiệu quả cao, nó không những giúp học sinh củng cố các kiến thức
đã học ở nội khoá mà còn giúp đào sâu, mở rộng kiến thức, phát huy tính tích cực,
sáng tạo của học sinh nhưng hiện nay chưa được chú trọng ở các trường phổ thông
nước ta. Qua điều tra, khảo sát tại một số trường THPT tại Hà Nội và một số tỉnh
chúng tôi thấy hoạt động ngoại khóa chưa được coi trọng đúng mức, nếu có thì
được tiến hành mang tính bắt buộc, chưa thường xuyên, nặng về hình thức, kết
quả thu được còn thấp.
Đặc biệt, đối với Vật lí học, đây là một môn học bắt buộc trong hệ thống
các môn học của nhà trường phổ thông ở nước ta hiện nay. Do đặc thù của vật lí
học là một khoa học thực nghiệm, vì vậy trong giảng dạy và học tập môn vật l í
thì thực nghiệm là một khâu có vai trò quan trọng. Nó không chỉ làm tăng tính
hấp dẫn của môn học, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn các kiến thức lí thuyết đã
học và rèn kỹ năng thực nghiệm của học sinh, từng bước tạo cho học sinh một
trực giác nhạy bén đối với các hiện tượng vật lí. Một trong những khâu quan trọng
của quá trình đổi mới phương pháp dạy học vật lí là tăng cường các hoạt động thực
nghiệm của học sinh trong quá trình học tập. Việc đưa thí nghiệm vào dạy học đã
giúp cho học sinh tiếp cận với con đường nghiên cứu khoa học của các nhà khoa
học và tiếp thu các kiến thức một cách nhanh chóng, dễ dàng hơn. Thông qua thí
nghiệm vật lí, học sinh sẽ được rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, giáo dục tổng hợp, hình
thành tư duy sáng tạo và tinh thần làm việc tập thể. Qua đó, học sinh có được một
số kĩ năng sử dụng các máy móc thiết bị cơ bản làm cơ sở cho việc sử dụng những

9
công cụ trong công việc cũng như trong cuộc sống. Tuy nhiên, số tiết thực hành còn
quá ít nên việc tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí là thực sự cần thiết.
Qua quá trình trực tiếp giảng dạy vật lí nhiều năm ở trường THPT, chúng
tôi nhận thấy: phần “Điện học” chiếm một tỉ lệ lớn trong chương trình vật lí 11.

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của phương pháp dạy học Vật lí để phát huy
tính tích cực và bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh.
- Nghiên cứu nội dung kiến thức phần “Điện học” trong chương trình vật
lí phổ thông.
- Điều tra thực trạng và đề xuất giải pháp việc tổ chức dạy học ngoại khóa
Vật lí tại các trường THPT.
- Xây dựng nội dung ngoại khóa phần “Điện học” thuộc chương trình Vật
lí lớp 11 THPT.
- Tổ chức thực nghiệm, đánh giá kết quả thực nghiệm, rút ra các kết luận
cần thiết.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu tổ chức dạy học bằng hoạt động ngoại khoá có nội dung phù hợp với
mục tiêu dạy học và đối tượng học sinh, có hình thức hoạt động phong phú sẽ
không những giúp học sinh ôn tập, củng cố, vận dụng kiến thức một cách hiệu quả
mà còn phát huy được tính tích cực, tự chủ và bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho họ.
7. Dự kiến luận cứ
7.1. Luận cứ lí thuyết
- Các cơ sở lí luận về dạy học tích cực.
- Các phương pháp tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp.

11
- Các biện pháp phát huy tính tích cực hóa hoạt động nhận thức và bồi
dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh.
7.2. Luận cứ thực tế
- Phiếu điều tra, trao đổi với giáo viên.
- Phiếu điều tra, khảo sát trên học sinh.
- Minh chứng của diễn biến dạy học ngoại khóa phần “Điện học”.
- Các kết quả học tập của học sinh.
8. Phƣơng pháp chứng minh luận điểm
Sử dụng các nhóm phương pháp sau:

động học tập của học sinh, chế độ làm việc, thành phần học sinh, địa điểm và
thời gian học tập. Trong thực tế dạy học, người ta phân biệt ba dạng tổ chức dạy
học: dạng toàn lớp, dạng nhóm, dạng cá nhân.
* Các dạng tổ chức dạy học cơ bản
+ Dạng toàn lớp: Là dạng trong đó, mỗi học sinh đồng thời hoàn thành những
nhiệm vụ nhận thức chung.
- Ưu điểm: GV có thể lãnh đạo đồng thời mọi học sinh, tích cực điều khiển việc
lĩnh hội tri thức, việc ôn tập và củng cố tri thức cho toàn lớp.
- Nhược điểm: giáo viên khó chú ý đến đặc điểm cá nhân, đặc biệt là đến tốc độ
hoạt động và trình độ hoạt động nhận thức của mỗi học sinh.
+ Dạng nhóm: Là dạng trong đó, từng nhóm học sinh cùng giải quyết những
nhiệm vụ nhận thức thống nhất. Các em có thể cùng thảo luận các nhiệm vụ nhận
thức, vạch ra con đường và giải quyết các nhiệm vụ đó, cuối cùng đạt đến kết
quả chung.

13
- Ưu điểm: Giáo viên có thể chú ý tới những nhu cầu riêng của từng nhóm học
sinh, có thể mở ra khả năng rộng rãi để học sinh hợp tác hoạt động với nhau
cũng như để kiểm tra lẫn nhau.
- Nhược điểm: Những cá nhân học sinh nào đó do học tập thụ động có thể sử
dụng những kết quả mà những học sinh khá thu được. Mặt khác, nó còn có thể
làm nẩy sinh mâu thuẫn giữa những yêu cầu của giáo viên và mức độ tích cực
của cá nhân học sinh riêng biệt, những yêu cầu do giáo viên nêu ra hoặc khó quá,
hoặc quá dễ so với trình độ của từng học sinh.
+ Dạng cá nhân: Là dạng mà mỗi học sinh độc lập hoàn thành nhiệm vụ học tập
theo trình độ và khả năng riêng của mình, không có sự tác động của bạn bè.
- Ưu điểm: Phù hợp với mức độ cao nhất những đặc điểm cá nhân học sinh về
trình độ nhận thức, tốc độ làm việc. Dạng này tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cá
nhân phát huy hết tiềm năng của mình, rèn luyện năng lực nhận thức độc lập. Mặt
khác, đối với giáo viên về mặt giảng dạy có thể cá biệt hóa cao độ trong việc đưa ra

cơ bản, nội dung chính của các thuyết vật lí, các ứng dụng quan trọng nhất của
vật lý trong đời sống và trong sản xuất, các phương pháp nhận thức phổ biến
dùng trong vật lí.
- Phát triển tư duy khoa học ở học sinh: rèn luyện những thao tác, hành động,
phương pháp nhận thức cơ bản, nhằm chiếm lĩnh kiến thức vật lí, vận dụng sáng
tạo để giải quyết vấn đề trong học tập và hoạt động thực tiễn sau này.
- Trên cơ sở kiến thức vật lí vững chắc, có hệ thống, bồi dưỡng cho học sinh thế
giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái độ đối với lao động,
đối với cộng đồng và những đức tính khác của người lao động.

15
- Góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS, làm cho học sinh
nắm được những nguyên lý cơ bản về cấu tạo và hoạt động của các máy móc dùng
phổ biến trong nền kinh tế quốc dân. Có kỹ năng sử dụng những dụng cụ vật lý, đặc
biệt là những dụng cụ đo lường, kỹ năng lắp ráp các thiết bị để thực hiện thí nghiệm
vật lí, vẽ biểu đồ, xử lý các số liệu đo đạc để rút ra kết luận. Những kiến thức, kỹ
năng đó giúp cho học sinh sau này nhanh chóng thích ứng được với lao động sản
xuất trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những nhiệm vụ trên
không thể tách rời nhau mà luôn luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, góp phần
đào tạo ra những con người phát triển hài hòa, toàn diện [7].
1.1.3. Hoạt động ngoại khóa
1.1.3.1. Khái niệm hoạt động ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn
hóa ở trên lớp, một trong những mảng hoạt động giáo dục quan trọng ở nhà trường
phổ thông. Hoạt động này có nghĩa hỗ trợ cho giáo dục nội khóa, góp phần phát
triển và hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo của học
sinh. Nội dung ngoại khóa rất phong phú và đa dạng, nhờ đó các kiến thức tiếp thu
được trên lớp có cơ hội được áp dụng, mở rộng thêm trên thực tế, đồng thời có tác
dụng nâng cao hứng thú học tập nội khóa.
1.1.3.2. Vị trí của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức

 Về rèn luyện năng lực tư duy: hoạt động ngoại khóa có thể rèn luyện cho
học sinh các loại tư duy: Tư duy logic; Tư duy trừu tượng; Tư duy kinh nghiệm;
Tư duy phân tích; Tư duy tổng hợp; Tư duy sa
́
ng ta
̣
o.

17
1.1.3.4. Các đặc điểm của giờ học ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa nói chung và hoạt động ngoại khóa vật lí nói riêng có
những đặc điểm cơ bản sau:
- Việc tổ chức hoạt động ngoại khóa dựa trên tính tự nguyện tham gia của học sinh
và có sự hướng dẫn của giáo viên. Trên cơ sở đó, học sinh sẽ yêu thích công việc,
hoạt động tích cực, có hiệu quả và phát triển được năng lực của mình.
- Số lượng học sinh tham gia không hạn chế, có thể là theo nhóm nhưng cũng
có thể là tập thể đông người. Trong điều kiện cho phép có thể huy động học sinh
toàn trường tham gia, không phân biệt trình độ học sinh.
- Có kế hoạch cụ thể về mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức,
lịch hoạt động cụ thể và thời gian thực hiện.
- Kết quả hoạt động ngoại khóa của học sinh không không đánh giá bằng điểm
số như đánh giá kết quả học tập nội khóa.
- Việc đánh giá kết quả của hoạt động ngoại khóa vật lí thông qua tính tích cực,
sáng tạo của học sinh và sản phẩm của quá trình hoạt động. Ngoài ra, kết quả của
hoạt động ngoại khóa được đánh giá một cách công khai thông qua cả giáo viên và
học sinh. Để khích lệ quá trình hoạt động của học sinh thì cũng cần có sự khuyến
khích và phần thưởng động viên kịp thời cho các em.
- Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa phải đa dạng, phong phú,
mềm dẻo, hấp dẫn để lôi cuốn được nhiều học sinh tham gia [5].
1.1.4. Nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp dạy học ngoại khóa vật lí

chất tương đối, có thể dựa trên các cơ sở khác nhau. Có thể phân ra các hình thức
hoạt động ngoại khóa về vật lí theo lượng học sinh tham gia, cũng có thể phân

19
theo nội dung ngoại khóa, cách thức tổ chức hoặc theo thời gian và địa điểm diễn
ra hoạt động ngoại khóa… Chẳng hạn:
 Dựa vào số lượng học sinh tham gia ngoại khóa, có: hoạt động ngoại khóa theo
các nhóm và hoạt động ngoại khóa có tính quần chúng rộng rãi. Cụ thể:
 Hoạt động ngoại khóa theo nhóm
Dựa trên tính chất đặc thù của bộ môn vật lí: các kiến thức vật lí không khó
nhưng biểu hiện khá phức tạp trong thực tế và các kiến thức được vận dụng rộng
rãi trong đời sống. Cho nên tổ chức ngoại khóa về vật lí nên lựa chọn nhiều nội
dung liên quan đến việc vận dụng kiến thức đã được học vào thực tiễn. Để hoạt
động ngoại khóa về vật lí thành công được thì hình thức tổ chức hoạt động ngoại
khóa theo nhóm là ưu việt nhất. Hình thức này vừa đảm bảo cho quá trình thiết
kế, chế tạo ra các sản phẩm một cách nhanh chóng, có chất lượng, vừa tạo điều
kiện cho học sinh tự học hỏi lẫn nhau và rèn luyện kĩ năng làm việc theo nhóm.
- Các nguyên tắc đảm bảo tổ chức tốt nhóm ngoại khóa vật lí:
+ Khi tổ chức nhóm ngoại khóa trước hết phải dựa trên tinh thần tự nguyện,
hứng thú của học sinh, học sinh phải được lựa chọn lĩnh vực kiến thức yêu thích
để thiết kế, chế tạo thí nghiệm. Điều này tạo cho học sinh tinh thần làm việc
thoải mải, từ đó họ thấy yêu thích công việc, nỗ lực hoàn thành công việc và phát
triển được tài năng.
+ Để nhóm ngoại khóa có thể tồn tại và hoạt động có hiệu quả thì nhất thiết phải
phát hiện và xây dựng được hạt nhân của nhóm. Hạt nhân của nhóm thường là
nhóm trưởng. Học sinh được chọn là hạt nhân của nhóm phải thích thú và có sự
nhiệt tình cao với đề tài mà nhóm theo đuổi, đồng thời cũng phải có khả năng
đoàn kết các thành viên trong nhóm học tập và lực học thuộc hạng khá vững vàng,
tuy nhiên nhóm trưởng không nhất thiết là thành viên giỏi nhất trong nhóm.


vật lí, kĩ thuật hoặc học sinh tìm hiểu tiểu sử của các nhà bác học vật lí v.v…
Nhóm có thể phụ trách công việc ra báo tường hoặc tập san vật lí của trường, nội
dung hoạt động của nhóm ngoại khóa này phải mới so với nội khóa, không đơn
thuần là sưu tập các thông tin đã có trong sách giáo khoa hoặc sách bài tập. Trong
quá trình thực hiện đề tài, giáo viên cần lưu ý tới sự hứng thú của học sinh theo
hướng tìm hiểu, nghiên cứu mà các em đã chọn để đảm bảo cho đề tài được thành
công, đúng tiến độ và cung cấp được những sản phẩm có chất lượng.
+ Nhóm “Chế tạo dụng cụ thí nghiệm vật lí”: do đặc thù của môn học cho nên
hình thức nhóm ngoại khóa “Chế tạo dụng cụ thí nghiệm vật lí” là phổ biến nhất
trong công tác ngoại khóa vật lí. Tại các trường phổ thông hiện nay đã được
trang bị các dụng cụ thí nghiệm phục vụ cho giờ học thực hành của học sinh.
Tuy nhiên, số lượng các thí nghiệm còn hạn chế, đặc biệt là các thí nghiệm có
liên quan đến các ứng dụng vật lí của kĩ thuật. Để có thể phát huy tính tích cực
của học sinh và phát triển được năng lực sáng tạo của các em thì việc phải chế
tạo thêm các dụng cụ thí nghiệm là rất cần thiết. Do vậy công tác ngoại khóa tổ
chức cho học sinh tham gia chế tạo các dụng cụ thí nghiệm là rất phù hợp. Tổ
chức được tốt hình thức ngoại khóa với nội dung như vậy vừa giúp học sinh trực
tiếp tham gia chế tạo dụng cụ có thể hiểu sâu hơn kiến thức được học, thấy được
ứng dụng của kiến thức trong thực tế, đồng thời cũng khiến cho các em thấy
hứng thú và tích cực hơn trong học tập, đồng thời vừa có thể bổ sung thêm các
dụng cụ thí nghiệm còn thiếu cho nhà trường, giúp cho việc giảng dạy các khóa
sau được thuận lợi. Trong trường hợp như vậy, giáo viên cũng cần phải góp ý để
các em chế tạo được những dụng cụ thí nghiệm đẹp, bền và có thể sử dụng được
lâu dài. Tuy nhiên trong quá trình học sinh chế tạo dụng cụ, giáo viên cũng cần
làm cho các em hiểu rõ nguyên tắc cấu tạo cũng như hoạt động của các dụng cụ

22
thí nghiệm, chứ không phải các em chỉ cần chế tạo các dụng cụ theo mẫu có sẵn
mà không hiểu bản chất và ý nghĩa của các dụng cụ. Như vậy thì công tác ngoại
khóa mới có ý nghĩa giáo dục và thực tiễn mạnh mẽ. Giáo viên cũng cần lưu giữ

Hội vui là một hình thức ngoại khóa dễ phổ biến, lôi cuốn được đông đảo học
sinh tham gia, tạo ra được khí thế trong học tập và nghiên cứu. Hội vui có thể tổ
chức theo từng chuyên đề hoặc theo khối lớp. Chẳng hạn: hội vui cơ học; hội vui
về nhiệt học; hội vui về điện học; hội vui về quang học… Hội vui có nội dung
chính là các trò chơi hoặc các câu hỏi rèn luyện trí tuệ, như: trò chơi hái hoa dân
chủ; thi khéo tay; thi giải đáp các câu hỏi trí tuệ Thời gian tổ chức hội vui
không nên kéo dài để đảm bảo cho hội vui vừa truyền tải hết nội dung cần thiết
vừa không gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự đi lại của học sinh. Để cho hội vui
thành công, đáp ứng được yêu cầu đã đề ra của chủ hội thì cần phải chuẩn bị nội
dung sao cho hợp lí, phong phú, hấp dẫn và có phần thưởng khuyến khích cho
người thắng cuộc khi tham gia trò chơi. Đối với những trò chơi có liên quan đến
máy móc thì cần phải kiểm tra kĩ lưỡng trước khi tổ chức hội vui và phải có dự trù
thời gian và dụng cụ cho những trò chơi này.
+ Triển lãm về vật lí
Triển lãm về vật lí ở trường phổ thông có thể tổ chức nhân ngày lễ của trường
hoặc dịp tổng kết một kì học hoặc cuối năm học. Mục đích của triển lãm về vật lí
là để nói lên thành tựu hoạt động học tập và nghiên cứu về vật lí của một khối
lớp hoặc của toàn trường. Để cho triển lãm thành công thì nội dung triển lãm
phải phong phú; trình bày đẹp, khoa học và hấp dẫn. Nội dung triển lãm có thể
gồm: dụng cụ, mô hình vật lí mà học sinh chế tạo được; mẫu vật sưu tầm được;

24
đồ dùng phục vụ cho việc dạy học; biểu diễn thí nghiệm vật lí có liên quan đến
kiến thức vật lí phổ thông mà học sinh đã được học. Triển lãm có thể tổ chức kết
hợp với hội vui vật lí hoặc tiến hành cùng với các bộ môn khác như toán, hóa,
sinh, công nghệ…
+ Báo tường về vật lí
Đây là một hình thức hoạt động ngoại khóa khá hấp dẫn, dễ tổ chức, lôi cuốn
được đông đảo học sinh tham gia, không phân biệt trình độ học sinh nhiều. Hình
thức hoạt động ngoại khóa này có tác dụng tốt trong việc thúc đẩy học sinh sưu tầm,

trong học tập. Qui mô, đối tượng tham gia, cách thức tổ chức hội vui phụ thuộc
vào mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, tính chất và nội dung của hội vui. Thông qua tổ
chức hội vui vật lí:
+ Bồi dưỡng cho học sinh động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú đối với
các lĩnh vực của vật lí.
+ Phát hiện, bồi dưỡng các em có năng khiếu, phát huy tính sáng tạo, độc lập suy nghĩ.
+ Bồi dưỡng và phát huy tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn. Hình
thành, phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh [3].
 Dựa vào cách thức tham gia hoạt động ngoại khóa của học sinh, có:
+ Học sinh đọc sách báo về vật lí và kĩ thuật: hình thức này có thể tổ chức trong
một lớp học. Giáo viên tạo điều kiện cho các em trình bày những thông tin mà các
em đã đọc về các lĩnh vực vật lí nhằm mục đích cung cấp thông tin, mở rộng hiểu
biết cho các học sinh còn lại trong lớp học.
+ Học sinh tổ chức các buổi báo cáo và dạ hội về các vấn đề vật lí – kĩ thuật, học
sinh có thể nghiên cứu thêm về một số kiến thức còn khó hiểu, trừu tượng mà giờ

26
học nội khóa không có thời gian để tìm hiểu. Bên cạnh đó, học sinh có thể tự tạo
thí nghiệm để minh họa thêm; học sinh biểu diễn thí nghiệm hoặc giới thiệu sản
phẩm vật lí chế tạo được…
+ Học sinh tổ chức triển lãm, giới thiệu những kết quả tự học, tự nghiên cứu, chế
tạo hoặc làm báo tường hoặc tập san về vật lí – kĩ thuật.
+ Tham gia thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ vật lí, các mô hình kỹ thuật:
hình thức này thu hút được nhiều học sinh tham gia vì học sinh lứa tuổi này rất
thích tự thể hiện mình và thích khám phá những điều mới lạ so với những kiến
thức thuần túy trong giờ học nội khóa.
+ Luyện tập giải các bài tập vật lí: vì thời lượng giải toán vật lí không nhiều, do đó
giáo viên không có thời gian hướng dẫn cho học sinh những phương pháp hay
hoặc bài toán hay mà chỉ tập trung giới thiệu những bài toán cơ bản để củng cố lí
thuyết. Chính vì thế, việc tổ chức cho học sinh giải bài tập vật lí là hình thức rất

những gợi ý mang tính tổng quát để học sinh có thể tự tìm tòi, huy động hoặc
xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt động thích hợp để giải quyết nhiệm
vụ mà họ đảm nhận, tức là đòi hỏi học sinh phải tự xác định được kế hoạch hành
động thích hợp trong tình huống đang xét. Sự định hướng tìm tòi có thể phân biệt
hai trình độ khác nhau đối với hành động đòi hỏi ở học sinh. Đó là:
+ Định hướng tìm tòi áp dụng các cách thức hành động theo các mẫu đã biết, ở
mức độ này, giáo viên yêu cầu học sinh tự huy động, lựa chọn cách thức hoạt động
theo các mẫu đã biết để chuyển tải áp dụng vào tình huống đang xét.
+ Định hướng tìm tòi sáng tạo: Giáo viên yêu cầu học sinh tự nghĩ ra cách thức
hoạt động giải quyết vấn đề, không phải là theo một mẫu có sẵn.
- Định hướng khái quát chương trình hóa

28
Đó là kiểu hướng dẫn trong đó người dạy cũng gợi ý cho học sinh tự tìm tòi
như kiểu định hướng tìm tòi nói trên, nhưng giúp cho học sinh ý thức được lối
khái quát của việc tìm tòi giải quyết vấn đề và sự định hướng được chương trình
hóa theo các bước dự định hợp lí, theo các yêu cầu từ cao đến thấp đối với học
sinh: từ tổng quát, tổng thể, toàn bộ đến riêng biệt, chi tiết, bộ phận sao cho thực
hiện được một cách có hiệu quả các yêu cầu. Người dạy phải thực hiện từng
bước việc hướng dẫn học sinh tự lực giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận. Sự
định hướng ban đầu đòi hỏi học sinh tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề. Nếu học
sinh không đáp ứng được thì sự giúp đỡ tiếp theo của giáo viên là sự phát triển
định hướng khái quát ban đầu (gợi ý thêm, cụ thể hóa, chi tiết hóa thêm một
bước) để thu hẹp hơn phạm vi, mức độ phải tìm tòi giải quyết cho vừa sức với
học sinh. Nếu học sinh vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của giáo viên
chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo, mà trước tiên là kiểu định hướng
angôrít (hướng dẫn trình tự các hành động, thao tác hợp lí) để theo đó học sinh tự
giải quyết vấn đề đã đặt ra. Nếu học sinh vẫn không đáp ứng được thì mới thực
hiện sự hướng dẫn tái tạo đối với mỗi hành động, thao tác cụ thể riêng biệt của
trình tự hành động, thao tác đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status