Linh hoạt trong cách kiểm tra bài cũ môn GDCD lớp 10, góp phần đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực - Pdf 44

MỤC LỤC
NỘI DUNG
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lời giới thiệu
2. Tên sáng kiến
3. Tác giả
4. Chủ đầu tư
5. Lĩnh vực áp dụng
6. Ngày áp dụng lần đầu
PHẦN II : GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
2. Các giải pháp sáng tạo đã thực hiện
2.1 Kiểm tra bài cũ qua hệ thống câu hỏi nhanh
2.2 Kiểm tra bài cũ thông qua các bài tập tình huống
2.3 Kiểm tra bài cũ qua các bài tập trắc nghiệm
2.4 Kiểm tra bài cũ qua các bài thuyết trình ngắn
2.5 Kiểm tra bài cũ bằng vẽ sơ đồ tư duy
3. Thông tin bảo mật
4. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
5. Đánh giá kết quả áp dụng sáng kiến
PHẦN III : KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

TRANG
3
5
5
5
5
5
5

giáo dục truyền thống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành, tác phong công
nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”.
Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện
GD ĐT: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương phap dạy và học theo hướng hiện
đại; phát huy tính tích cực chủ động , sáng tạo và vận dụng kiến thức kĩ năng
của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập
trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự
cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu
trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội,
ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và
truyền thông trong dạy và học. “ Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi,
kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo đảm bảo trung thực, khách quan.
Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các
tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công
nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối
kì, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh
giá của nhà trường với đánh giá của gia đình, của xã hội”.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo
quyết định 711 ngày 13/6/2012 của thủ tướng chính phủ chỉ rõ: “Tiếp tục đổi
mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người
học”.
“Đổi mới kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kì thi tuyển sinh đại học,
cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng;
kết hợp kết quả kiểm tra, đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi”
Tại hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn
bản toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế xác

2

đọc chép thuần túy, còn học sinh chỉ học theo kiểu ghi nhớ máy móc, học vẹt
cho thuộc bài cũ để ghi điểm.
Giáo viên chưa thực sự coi trọng việc kiểm tra bài cũ, chưa để tâm đến việc
làm thế nào để những phút kiểm tra đầu giờ nhẹ nhàng vui vẻ mà vẫn đánh giá
được thái độ học tập, tiếp thu bài của học sinh. Hầu hết giáo viên vẫn sử dụng
phương pháp truyền thống là gọi một vài học sinh rồi hỏi lại kiến thức đã học.
Học sinh học thuộc, trình bày đúng những gì cô đã dạy, đã cho ghi hôm trước
thế là cho điểm. Việc kiểm tra trở nên nhàm chán, học sinh học bài cũ như một
nghĩa vụ. Thậm chí có giáo viên còn khiến giờ kiểm tra bài cũ trở nên căng
thẳng gây ra những áp lực không đáng có đối với học sinh. Tình trạng căng
thẳng đó nếu tiếp diễn thường xuyên sẽ khiến học sinh chán ghét môn học, hệ
quả là những mục tiêu giáo dục sẽ không đạt được.
Môn GDCD ở trường phổ thông vẫn được xem là môn phụ bởi nó không
phục vụ cho việc thi cử của học sinh. Vì vậy người học không dành thời gian
quan tâm, người dạy cũng nhiều thầy cô chưa tâm huyết. Nhận thức về việc thay

3


đổi sao cho việc kiểm tra đáp ứng đúng yêu cầu đổi mới giáo dục của nhiều giáo
viên vẫn chưa tốt. Thế nên dành thời gian nghiên cứu, thay đổi cách kiểm tra bài
cũ cho hấp dẫn hiệu quả chắc chắn ít giáo viên nghĩ tới.
Tất cả những lí do trên, là động lực quan trọng khiến tôi quyết định lựa
chọn đề tài: Linh hoạt trong cách kiểm tra bài cũ môn GDCD lớp 10 - góp
phần đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng
lực để ghi lại những kinh nghiệm của mình, chia sẻ với các đồng nghiệp trong
tỉnh. Hi vọng nó sẽ đem lại một vài gợi ý nào đó cho các thầy cô.
2.TÊN SÁNG KIẾN
Linh hoạt trong cách kiểm tra bài cũ môn GDCD lớp 10 - góp phần
đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực

điều kiện tốt. Nhà trường cũng luôn chú ý xây dựng môi trường làm việc chuyên

4


nghiệp, khoa học tạo điều kiện cho giáo viên có cơ hội phát huy năng lực bản
thân.
Hầu hết các em đều thông minh, ngoan ngoãn, có ý thức học tập tốt, rất
thuận lợi cho giáo viên trong thực hiện các hoạt động giáo dục.
-Khó khăn:
Môn GDCD ở trường là môn học có số lượng tiết dạy ít. Học sinh phải
tập trung nhiều thời gian cho việc học môn khác nên rất ít thời gian dành cho
các môn này. Hơn nữa các em coi môn GDCD là môn phụ nên thường không
chú ý. Điều này gây khó khăn trong việc thực nghiệm sáng kiến của giáo viên,
đặc biệt là những khi cần giao bài về nhà hoặc khi học sinh phải chuẩn bị trước
nội dung nào đó.
Nội dung môn GDCD lớp 10 khá trừu tượng vì vậy rất khó để thu hút sự
chú ý của học sinh, nếu như giáo viên không chịu khó tìm tòi thay đổi phương
pháp.
Trong khi đó, giáo viên bấy lâu nay vẫn thực hiện dạy học và kiểm tra bài
cũ theo phương pháp truyền thống. Điều này khiến học sinh không hứng thú với
môn học. Giáo viên cũng không đạt được kết quả giảng dạy như mong muốn,
không đánh giá được các năng lực khác nhau của học sinh.
Trước khi thực hiện đề tài tôi đã tiến hành khảo sát ở một số lớp với hai
nội dung: Đó là mức độ yêu thích đối với môn GDCD và cảm nhận của em về
việc kiểm tra bài cũ hàng ngày. Kết quả thu được như sau:
(Bảng thống kê mức độ yêu thích đối với môn GDCD)
Lớp/sỹ số
Thích học
Bình thường

20
50%
10c6- 40hs
5
13%
18
45%
17
42%
Tổng số 208 hs
49
24%
78
37%
145
69%
(Về việc kiểm tra bài cũ):
94 trên tổng số 208 em được hỏi thấy việc kiểm tra bài cũ gây không khí
nặng nề, căng thẳng khi bước vào giờ học. 72/ 208 em cho rằng việc kiểm tra
bài cũ không hiệu quả vì học sinh học đối phó, được điểm rồi là không học nữa.
2.Các giải pháp sáng tạo đã thực hiện:
Môn GDCD, đặc biệt là chương trình giáo dục công dân lớp 10 thực sự
không dễ học với học sinh. Các em vừa ở cấp hai lên, nội dung môn GDCD cấp
2 rất nhẹ nhàng, chủ yếu giúp các em hình thành một số phẩm chất, năng lực cơ
bản về đạo đức và pháp luật. Thế nhưng ngay ở phần đầu của môn GDCD 10
các em đã phải tiếp cận với một nội dung rất mới và khó, đó là triết học. Phần
hai là lí luận về đạo đức và một số phạm trù đạo đức cơ bản, gồm khá nhiều khái
niệm trừu tượng. Vì thế không chỉ tìm cách dạy thế nào để học sinh dễ hiểu, mà
tôi còn luôn thay đổi cách kiểm tra, đánh giá để học sinh hứng thú học tập bộ


Với câu hỏi xoay quanh một đơn vị kiến thức nào đó, giáo viên cũng đặt
câu hỏi tương tự. Ví dụ xoay quanh khái niệm mâu thuẫn (bài 4- Nguồn gốc vận
động phát triển của sự vật hiện tượng) GV có thể hỏi:
- Thế nào là mâu thuẫn
-Vì sao trong một sự vật hiện tượng nào đó lại chứa đựng những mâu
thuẫn?
-Mặt đối lập là gì?
-Vì sao các mặt đối lập không chỉ thống nhất mà còn thường xuyên đấu
tranh với nhau?
-Sự thống nhất của các mặt đối lập được hiểu thế nào?
-Em thấy bản thân mình có những mâu thuẫn không?
-Kể ra một vài mâu thuẫn của em ?
Ví dụ khi kiểm tra khái niệm tự nhận thức về bản thân (bài 16-GDCD 10)
GV có thể hỏi:
-Tự nhận thức về bản thân là gì?

6


-Tự nhận thức về bản thân có dễ dàng không? Vì sao?
-Tự nhận thức bản thân để làm gì?
-Làm thế nào để nhận thức được về mình?
-Ưu điểm của em là gì?
-Hạn chế cơ bản của em?
-Điều em thích?
-Ước mơ của em?
-Em có thấy hài lòng về bản thân mình không?
*Ưu điểm
Rèn học sinh cách học bài khoa học, biết cách gắn kết, xâu chuỗi nội dung
kiến thức đã học, dần dần xóa bỏ kiểu học vẹt, học thuộc lòng một cách máy

VD2.

7


Để kiểm tra đơn vị kiến thức “Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức” Bài
7- GDCD10. GV đưa tình huống:
-Cuối thế kỉ XIX nước Pháp bị một đợt dịch than ở gia súc trên quy mô
rất lớn. Pa xto cho rằng gia súc sẽ không bị nhiễm bệnh nếu tiêm vắc xin phòng
bệnh. Mọi người không tin ông. Pa xto đã chứng minh bằng một thí nghiệm.
Ông lấy 50 con cừu được gây nhiễm bệnh than sau đó chia làm 2 nhóm. Một
nhóm tiêm vắc xin, nhóm kia không tiêm. Chỉ sau 48 giờ, nhóm cừu không được
tiêm đồng loạt chết, nhóm đã được tiêm vẫn sống khỏe mạnh.
Câu hỏi: -Theo em câu chuyện trên minh chứng cho vai trò nào của thực
tiễn đối với nhận thức? Vì sao?
VD3.
Để kiểm tra kiến thức; sự giống và khác nhau của đạo đức với pháp luật
(Bài 10- GDCD 10). Cho tình huống sau:
-Anh A đi đúng phần đường quy định. Ba em học sinh trung học cơ sở đi
xe đạp, đùa nghịch và phải anh nên ngã. Anh A thấy mình không vi phạm pháp
luật nên lên xe đi tiếp.
-Em nhận xét gì về hành vi của anh A?
-Chỉ ra những điểm khác nhau cơ bản giữa đạo đức và pháp luật?
-Nếu là em, em sẽ làm gì?
VD4.
Để kiểm tra khái niệm hạnh phúc (Bài 11- GDCD 10). Cho tình huống sau:
-…Sau một thời gian bôn ba tìm đường cứu nước, tháng 7 năm 1920
Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên được tiếp xúc với luận cương Lê Nin về vấn đề
dân tộc và thuộc địa. Người đã vui mừng đến phát khóc. Người nói: “Luận
cương Lê Nin làm tôi vui sướng, tin tưởng, phấn khởi biết bao, ngồi trong phòng

Việc kiểm tra bằng các tình huống có thể mất nhiều thời gian. Trong khi
thời gian dành cho việc kiểm tra đầu giờ không nhiều vì thế giáo viên nên cân
nhắc lựa chọn. Nếu bài học mới dài thì không nên áp dụng hình thức kiểm tra
này.
Lưu ý cách đặt câu hỏi sau mỗi tình huống. Mục đích là kiểm tra bài cũ chứ
không phải ra đề tự luận nên giáo viên chỉ nên dùng câu hỏi để học sinh có thể
dùng kiến thức của bài cũ và trả lời ngắn gọn. (Tôi đã trình bày ở phần ví dụ)
như; Em dùng kiến thức nào trong bài để giải đáp thắc mắc của bạn? Câu
chuyện trên minh chứng cho vai trò nào của thực tiễn đối với nhận thức? Tâm
trạng của Nguyễn Tất Thành có phải là hạnh phúc không? Hay theo em như thế
có phải là hợp tác không?...
Hình thức kiểm tra này rất phù hợp để áp dụng cho các bài trong phần 2Công dân với đạo đức. Và giáo viên dùng giáo án điện tử sẽ thuận tiện hơn.
2.3 Kiểm tra bài cũ qua các bài tập trắc nghiệm
*Chuẩn bị và thực hiện
Giáo viên chuẩn bị sẵn một số câu hỏi trắc nghiệm. Nếu dùng giáo án điện
tử thì chiếu câu hỏi lên màn hình. Nếu không có máy chiếu thì in câu hỏi lên
giấy.
Hình thức thực hiện là thi giữa các đội. GV gọi 4 học sinh. Chia làm 2 đội.
GV đọc câu hỏi. Đội nào giơ tay trước được quyền trả lời, đúng được tính điểm,
nếu sai quyền trả lời sẽ chuyển sang cho đội kia.
Giáo viên cùng các bạn còn lại trong lớp kiểm tra đáp án sau khi học sinh
trả lời xong. Căn cứ vào kết quả giáo viên cho điểm. Chỉ cho điểm đội thắng
cuộc.
*Ví dụ
VD1- Để kiểm tra bài 1- Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện
chứng, giáo viên cho bài tập trắc nghiệm sau:
(Đánh dấu x vào ô đúng sai)
Phương án lựa chọn
Đúng Sai
1 Triết học là hệ thống quan điểm chung nhất về thế giới và

3.Nhận thức cảm tính đem lại cho con người những hiểu biết về các đặc điểm
A.Bên trong của sự vật
B. Cơ bản của sự vật
C.Không cơ bản của sự vật
D.Bên ngoài của sự vật
4.Nhận thức cảm tính giúp con người nhận thức sự vật, hiện tượng một cách
A.Cụ thể, sinh động
B.Khái quát và trừu tượng
C.Chủ quan, máy móc
D.Cụ thể và máy móc
5.Nhận thức lí tính là giai đoạn nhận thức gắn liền với
A.Bản chất bên trong sự vật
B.Bản chất sự vật hiện tượng
C.Nhận thức cảm tính
D.Đặc trưng của sự vật
6.Đặc trưng của giai đoạn nhận thức lí tính là trong đó diễn ra
A.Sự phân tích, so sánh
B.sự tổng hợp, khái quát
C.Hoạt động của các giác quan
D.Các thao tác tư duy
7.Nhận thức lí tính mang đến cho con người những hiểu biết về các đặc điểm
A.Bên trong của sự vật, hiện tượng
B.Cơ bản của sự vật hiện tượng
C.Bên ngoài sự vật hiện tượng
D.Tiêu biểu của sự vật hiện tượng
8.Thực tiễn là những hoạt động nhằm
A.Cải tạo tự nhiên
B.Cải tạo đời sống xã hội
C.Tạo ra của cải vật chất
D.Cải tạo tự nhiên và xã hội

Khi kiểm tra, nếu cần thì nhờ thêm một học sinh quan sát để tránh trường
hợp không công bằng trong việc giơ tay giành quyền trả lời. Hình thức kiểm tra
này phù hợp hơn với sử dụng máy chiếu khi dạy học.
2.4 Kiểm tra bài cũ qua các bài thuyết trình ngắn
*Chuẩn bị và thực hiện
Giáo viên giao những chủ đề cho học sinh chuẩn bị sẵn. Học sinh chuẩn bị
bài ở nhà, khuyến khích các em dùng hình ảnh minh họa. Khi kiểm tra, học
sinh đứng trước lớp trình bày vấn đề mình đã chuẩn bị. Giáo viên và các bạn
khác lắng nghe. Sau khi học sinh thuyết trình xong, giáo viên có thể hỏi một đến
2 câu hỏi, kiểm tra mức độ hiểu biết của em đó về vấn đề mình vừa thuyết trình,
rồi nhận xét và cho điểm.
*Ví dụ
VD1:
Sau khi học xong bài 5- Cách thức vận động phát triển của sự vật hiện
tượng, tôi cho chủ đề; Ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay. Yêu cầu học sinh vận
dụng kiến thức đã học để chuẩn bị bài thuyết trình. Khi mới nghe yêu cầu, học
sinh thấy khó nhưng sau khi được hướng dẫn các em vui vẻ thực hiện và buổi
học sau, trong mấy phút kiểm tra đầu giờ tôi đã được nghe những bài thuyết
trình khá tốt. Các em biết kết hợp giữa thuyết trình bằng lời với dùng hình ảnh
minh họa để làm nổi bật chủ đề. Chủ đề cô đưa ra gắn với các vấn đề thực tiễn
vì thế khi chuẩn bị bài thuyết trình học sinh sẽ thấy triết học không trừu tượng
khó khăn như vẫn nghĩ. Nó là những gì rất gần với cuộc sống, và ở ngay bên
chúng ta. Ví dụ như: Mọi sự thay đổi về chất đều bắt đầu từ quá trình tích lũy
dần dần về lượng. Mọi thành quả lớn đều bắt nguồn từ những việc làm bình
thường. Để đạt được mục tiêu cần phải có sự kiên trì nỗ lực. Và để có ngày mai
thì phải bắt đầu từ ngày hôm nay…
VD2:
Bài 10- Quan niệm về đạo đức.

11

Kiểm tra bằng thuyết trình có thể mất nhiều thời gian, nên giáo viên chỉ
kiểm tra tối đa 2 học sinh, mỗi học sinh khoảng 2 đến 3 phút.
2.5 Kiểm tra bài cũ bằng vẽ sơ đồ tư duy
*Chuẩn bị và thực hiện
Cách 1- GV giao bài về nhà trước, học sinh có thể vẽ lên giấy a4, hoặc tờ
tôki đến giờ sau, cô lấy tinh thần xung phong. Học sinh lên bảng, cầm hoặc dán
sơ đồ của mình lên và nhắc lại nội dung bài cũ, giáo viên có thể hỏi thêm một
đến 2 câu hỏi xung quanh nội dung đó. Giáo viên chấm điểm dựa trên tiêu chí sơ
đồ đủ nội dung, trình bày khoa học, vẽ đẹp, (cho điểm sáng tạo nếu có) cùng với
phần giới thiệu và trả lời lưu loát.
Cách 2- Cho học sinh vẽ ngay tại lớp. GV gọi 4 em học sinh, chia 2 đội,
(thường lấy 2 em cùng bàn), phát giấy a4, hoặc tô ki cùng với bút màu cho 2 đội.
Trong 5 phút hai đội phải vẽ sơ đồ tư duy thể hiện nội dung bài cũ. HS vẽ xong,
dán sản phẩm lên bảng, cô cùng các bạn khác nhận xét và cho điểm. Chỉ chấm

12


điểm cho đội nào thắng cuộc. Hoặc các em có thể vẽ bằng phấn lên bảng rồi
thuyết minh và trả lời câu hỏi của cô.
(H5- Vẽ sơ đồ tư duy và trả lời câu hỏi)
*Ưu điểm
Hình thức kiểm tra này tôi đã thử nghiệm ở nhiều lớp khác nhau và thấy
học sinh rất hứng thú. Các em được thoải mái thể hiện sự sáng tạo cũng như khả
năng hội họa của mình. Thông qua việc hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư
duy các em sẽ được rèn luyện thói quen học tập, tư duy khoa học. Nhìn vào sơ
đồ, giáo viên sẽ đánh giá được mức độ mạch lạc trong tư duy, tính khoa học
trong cách trình bày, và cả sự sáng tạo của học sinh. Cả lớp cũng hình dung
được dễ nhất nội dung bài đã học.
*Lưu ý

Những yếu tố đó sẽ giúp cho giáo viên không chỉ thực hiện được mục tiêu giáo

13


dục của môn học mà còn khiến môn GDCD trở thành môn học yêu thích đối với
học sinh.
5.ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Tóm lại, sau một thời gian thực hiện sáng kiến trên tôi thấy:
-Việc kiểm tra đánh giá như trên đã thực hiện được mục tiêu: không lấy khả
năng tái hiện kiến thức làm trung tâm, mà chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo
tri thức trong những tình huống khác nhau. Từ đó giúp học sinh hình thành các
năng lực cần thiết như: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, năng lực hợp tác, giao tiếp…
-Khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp kiểm tra truyền thống,
giúp cho những phút kiểm tra đầu giờ không còn là áp lực, là căng thẳng. Học
sinh thấy việc kiểm tra nhẹ nhàng hơn, hấp dẫn hơn từ đó có hứng thú với môn
học.
-Linh hoạt trong cách kiểm tra bài cũ cũng tạo điều kiện cho học sinh khai
thác vận dụng các kiến thức, kĩ năng liên môn. Đồng thời học sinh có thể phát
huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của mình.
-Học sinh được rèn sự tự tin, khả năng giao tiếp, khả năng thuyết trình, làm
việc nhóm… Các em hòa nhập tốt hơn với thầy cô, bạn bè. Mối liên hệ giữa giáo
viên học sinh cởi mở hơn.
-Những nhận xét trực tiếp của giáo viên sau mỗi lần kiểm tra có thể giúp
các em nhận ra những tiềm năng của mình, gợi ý cho các em hướng phấn đấu,
giúp các em tự tin để phấn đấu.
-Không khí kiểm tra vui vẻ đầu giờ giúp cho cả giáo viên và học sinh có
cảm hứng để dạy và tiếp thu bài mới một cách tốt nhất.
-Thông qua kiểm tra học sinh, giáo viên tự rút ra được những bài học cho

7
18%
10c4- 40hs
19
48%
16
40%
5
12%
10c6- 40hs
21
53%
15
37%
4
10%
Tổng số 208 hs
111
53%
69
33%
29
14%
(So sánh hai bảng số liệu sẽ thấy; Số học sinh thích học môn GDCD tăng
lên từ 24% lên 53%. Số học sinh không thích học đã giảm nhiều từ 69% xuống
còn 14%. Đó là thành công bước đầu của tôi trong việc thay đổi phương pháp
dạy học nói chung và thay đổi phương pháp kiểm tra bài cũ nói riêng.
(Về việc kiểm tra bài cũ)

14

CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 05 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.

Nguyễn Văn Bát

Nguyễn Thị Lan

15


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Giáo dục ( Điều 28)
2. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
3.Nghị quyết hội nghị TƯ 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện GDDT
4. QĐ 711 ngày 13/6/2012 của thủ tướng chính phủ

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status