Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 10 THPT qua các hoạt động ngoại khóa vật lí - Pdf 44

MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài. …………………………………………………Trang 1
1.2. Mục đích ngiên cứu. ………………………………………………Trang 2
1.3. Đối tượng nghiên cứu. ……… ……………………………………Trang 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu. …………………………………………Trang 2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN. ………………………………………..……….…Trang 2
2.1.1. Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống . …………....………….Trang 2
2.1.1.1. Kĩ năng sống. …......................................………....………….Trang 2
2.1.1.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT.
…......................................………....………….....................................Trang 3
2.1.1.3. Các kĩ năng sống cơ bản dành cho học sinh THPT. ....................Trang 3
2.1.2. Ngoại khóa Vật lí. .....................................................................Trang 4
2.1.2.1. Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khoá trong hệ thống các hình thức tổ
chức dạy học vật lí ở trường phổ thông. ..............................................Trang 4
2.1.2.2. Các hình thức ngoại khoá Vật lí .............................................Trang 4
2.1.2.3. Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khoá Vật lí …………...Trang 4
2.1.2.4. Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá Vật lí. …………..…….Trang 5
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI NGHIÊN CỨU.
2.2.1. Các biểu hiện về kỹ năng sống của học sinh hiện nay…………..…Trang 5
2.2.2. Nhận xét ưu, nhược điểm về thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh trong nhà trường phổ thông hiện nay ……………...................…,..Trang 5
2.2.3. Nguyên nhân của thực trạng . ……………………………....,……..Trang 6
2.3. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
2.3.1. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 10 THPT. …………,….Trang 6
2.3.1.1.Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 10 THPT. ,…Trang 6
2.3.1.2. Các kĩ năng sống cần giáo dục cho học sinh lớp 10 THPT ... Trang 6
2.3.2. Các phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 10 THPT qua
hoạt động ngoại khóa Vật lí. ....…...................................................,,.Trang 7
2.3.2. 1. Phương pháp động não....….........................................................Trang 7

trường, gia đình và xã hội. Nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu hụt về kỹ
năng sống. Do vậy, các trường phổ thông cần giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh, với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản
thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người chung quanh, khả năng ứng
phó tích cực trước các tình huống phức tạp, muôn hình, muôn vẻ của cuộc sống.
Trong nhà trường phổ thông trong suốt thời gian dài chúng ta chỉ quan
tâm đến giáo dục trí dục, nhiều trường nhiều địa phương lấy tỉ lệ học sinh đỗ tốt
nghiệp, học sinh đạt điểm cao là thước đo chất lượng giáo dục mà ít quan tâm
đến sự chăm ngoan, chuyên cần, phát triển nhân cách cho học sinh. Điều đó sẽ
dẫn đến sự khập khiễng trong đào tạo, nó sẽ ảnh hưởng đến đầu ra của giáo
dục.[2]
Từ năm học 2009 - 2010 Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa nội dung giáo dục
kĩ năng sống vào nhiệm vụ năm học. Tuy nhiên việc giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh ở các trường phổ thông hiện nay còn rất hạn chế.
Từ những thực tế trên đồng thời trước yêu cầu mới của
giáo dục và đào tạo, là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy
bộ môn Vật Lí tôi rất băn khoăn làm thế nào để tích hợp giáo
dục kĩ năng sống vào giảng dạy có hiệu quả, mang tính giáo
dục cao, phù hợp với từng khối lớp, từng đối tượng học sinh,
gây được sự hứng thú học tập của học sinh, nhưng lại không
làm mất đi đặc trưng riêng của môn học. Vì Vật lí có nhiều kiến
thức thực tế gắn với tự nhiên và hoạt động ngoại khoá giúp các
em học sinh sẽ dễ dàng trao đổi, bộc lộ, học tập và rèn luyện
các kĩ năng sống. Từ suy nghĩ trên nên tôi đã quyết định chọn
và viết chuyên đề: “ Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
2


lớp 10 THPT thông qua các hoạt động ngoại khoá Vật lí
”.

khác (Learning to live together), Học để làm (Learning to do). Trong đó học để
cùng chung sống được coi là trụ cột quan trọng, then chốt của giáo dục hiện đại,
giúp con người có được thái độ hòa bình, khoan dung, hiểu biết và tôn trọng lịch
sử, truyền thống và những giá trị văn hóa tinh thần, bảo vệ môi trường ...[4]
b) Đặc tính của kĩ năng sống.
- Kĩ năng sống có thể được xem là tương thích với trí thông minh nội tâm và
trí thông minh tương tác cá nhân.
- Kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội.
3


- Kĩ năng sống thuộc phạm trù năng lực, nên kĩ năng sống là tổng hòa kiến
thức, thái độ (giá trị) và hành vi.
- Kĩ năng sống thể hiện ở những cách ứng xử, giao tiếp và giải quyết vấn đề
hiệu quả mang tính tích cực và mang tính xây dựng.
2.1.1.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT.
Giáo dục kĩ năng sống góp phần giảm tình trạng bạo lực học đường đang có
xu hướng gia tăng, hạn chế việc ứng xử thiếu văn hóa và xóa bỏ lối sống buông
thả, hư hỏng…giúp các em hình thành nhân cách, rèn luyện đạo đức, trở thành
người vừa có tài vừa có đức góp phần xây dựng đất nước “ sánh vai cùng các
cường quốc năm châu ” như lời Bác Hồ từng mong ước.
Lợi ích của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT như sau:
+ Về mặt giáo dục: Xây dựng mối quan hệ thân thiện, cởi mở giữa thầy và
trò, tạo sự hứng thú tự tin, chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh, tăng
cường sự tham gia của học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục.
+ Về mặt chính trị: Giải quyết một các tích cực nhu cầu về quyền của trẻ em.
Các em xác định được bổn phận của mình đối với bản thân, gia đình và xã hội
+ Về mặt văn hóa – xã hội: Thúc đẩy hành vi mang tính xã hội, giảm bớt tỉ
lệ phạm pháp trong thanh thiếu niên, giảm tỉ lệ nghiện ma túy và bị lạm dụng
tình dục ở tuổi vị thành niên.

- Kỹ năng sống về nghề nghiệp: Giao tiếp, so sánh, phân
tích, tổng hợp, sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, lập kế
hoạch, quản lý thời gian, làm việc nhóm, diễn đạt, giải quyết
mâu thuẫn, đàm phán, soạn thảo văn bản … [7]
2.1.2. NGOẠI KHÓA VẬT LÍ.
2.1.2.1. Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khoá trong hệ thống các hình
thức tổ chức dạy học Vật lí ở trường phổ thông.
Hoạt động ngoại khoá là một trong ba hình thức dạy học trong nhà trường
phổ thông hiện nay, có vai trò vô cùng quan trọng, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục trên tất cả các mặt, cụ thể là:
- Về giáo dục nhận thức: giúp học sinh củng cố, đào sâu, mở rộng những
tri thức đã học trên lớp, vận dụng tri thức đã học vào giải quyết những vấn đề
thực tiễn, tạo điều kiện để học đi đôi với hành, lí thuyết đi đôi với thực tiễn.
- Về rèn luyện kỹ năng: rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự quản, kỹ năng tổ
chức, điều khiển, làm việc nhóm, phát triển kỹ năng giao tiếp, kĩ năng chế tạo
dụng cụ và làm thí nghiệm, kĩ năng giải quyết vấn đề…
- Về giáo dục tinh thần thái độ: tạo hứng thú học tập, khơi dậy lòng ham
hiểu biết, lôi cuốn học sinh tự giác tham gia nhiệt tình vào các hoạt động, phát
huy tính tích cực, tự lực của học sinh.
- Hoạt động ngoại khoá góp phần rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh
như tư duy lôgic, tư duy trừu tượng và cao nhất là tư duy sáng tạo.
- Góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. [8]
2.1.2.2. Các hình thức ngoại khoá vật lí .
Hiện nay người ta thường tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí theo những
hình thức sau:
- Học sinh đọc sách, báo về vật lý và kỹ thuật.
- Học sinh tổ chức buổi báo cáo về một số vấn đề của vật lý, có thể kết hợp
biểu diễn thí nghiệm.
- Học sinh tổ chức triển lãm, giới thiệu những kết quả tự học, tự nghiên cứu,
chế tạo được.

- Xác định mục tiêu hay yêu cầu giáo dục của hoạt động
- Xây dựng những nhiệm vụ cụ thể giao cho học sinh.
- Dự kiến hình thức tổ chức, phương pháp dạy học.
- Dự kiến các tình huống có thể xảy ra và hướng giải quyết.
Bước 3: Tiến hành hoạt động ngoại khoá theo kế hoạch.
-Theo dõi học sinh thực hiện các nhiệm vụ để giúp đỡ kịp thời,
- Giáo viên phải đóng vai trò là trọng tài để tổ chức cho học sinh thảo luận
Bước 4: Báo cáo kết quả, rút kinh nghiệm, khen thưởng.
Nhằm khích lệ, động viên học sinh tích cực hơn trong những hoạt động sau này.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI NGHIÊN CỨU.
2.2.1. Các biểu hiện về kỹ năng sống của học sinh hiện nay.
Trong quá trình làm công tác giảng dạy và giáo dục tại trường THPT Hậu
Lộc 4 tôi nhận thấy kĩ năng sống của học sinh trường THPT Hậu Lộc 4 nói
riêng, học sinh THPT nói chung hiện nay là rất yếu: Cụ thể:
- Đa phần các em chưa có kĩ năng xác định mục tiêu một cách rõ ràng.
- Kĩ năng hoạt động nhóm chỉ ở mức trung bình thậm chí yếu.
- Các em hầu như chưa tìm ra hướng giải quyết khi gặp khó khăn trong học
tập, cuộc sống và các vấn đề tâm lí.
- Hiện tượng bạo lực học đường ngày càng tăng.

6


- Khả năng giao tiếp chủ động còn hạn chế, các e còn e ngại khi tiếp xúc với
người lạ, ngại tham gia vào các hoạt động tập thể. Có em chỉ chào thầy cô dạy
mình thậm chí là không chào....
- Việc xác định vấn đề quan trọng của cuộc sống nhiều khi còn chưa rõ, chưa
đúng với chuẩn mực.
- Hầu như các em chưa có kĩ năng ra quyết định, mà chỉ quyết định các vấn đề
một cách cảm tính.

- Học sinh nắm được những kiến thức cơ bản về kĩ năng sống, hiểu và vận
dụng các kĩ năng đó vào thực tế cuộc sống một cách hiệu quả, tạo sự tự tin cho
các em góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục.
- Giúp các em làm chủ được bản thân, ứng phó được với những khó khăn
trong cuộc sống.
7


- Rèn luyện cho các em lối sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
- Giúp cho các em mở ra những cơ hội về những suy nghĩ, lựa chọn, thực
hành có hiệu quả về nghề nghiệp cũng như công việc của các em sau này.
- Tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và
phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. [10]
2.3.1.2. Các kĩ năng sống cần giáo dục cho học sinh lớp 10 THPT .
* Kĩ năng kiên định.
Để giáo dục kĩ năng kiên định cho học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa
giáo viên nên cho các em học sinh tham gia vào các tình huống giả định, tham
gia vào các trò chơi Vật lí về chủ đề môi trường, nước, biến đổi khí hậu, an toàn
giao thông ... Các em sẽ có điều kiện thể hiện các quan điểm, chính kiến của
mình trước các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống.
* Kĩ năng xác định mục tiêu.
Trong cuộc sống khi có kĩ năng xác định mục tiêu sẽ giúp các em học sinh đề
ra hướng đi, phương pháp học tập môn Vật lí nói riêng, các môn học khác nói
chung một cách hiệu quả.
Ví dụ: Các em đề ra mục tiêu viết báo tường về chủ đề ” An toàn giao thông
” trong tháng 12, như vậy các em sẽ cần sưu tầm các tư liệu về an toàn giao
thông, giải thích các hiện tượng trong tham gia giao thông dựa vào kiến thức Vật
lí được học, hoặc tự sáng tác các mẩu chuyện, câu thơ.... về chủ đề An toàn giao
thông để trình bày. Và mục tiêu cuối cùng là sự báo động trước tình hình ý thức
kém khi tham gia giao thông của một bộ phận không nhỏ học sinh bằng những

* Kĩ năng bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai..
Trong dạy học Vật lí giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường, phòng chống
thiên tai rất thuận lợi vì kiến thức Vật lí đặc biệt chương chất khí, chương chất
rắn, chất lỏng, sự chuyển thể và chương cơ sở của nhiệt động lực học rất gần
gũi với thiên nhiên, môi trường.
2.3.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH LỚP 10 THPT QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VẬT LÍ.
2.3.2. 1. Phương pháp động não
Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảy
sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Nhờ không khí
thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo dạn
hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình biết lắng nghe có phê phán
ý kiến của bạn; tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt.
* Ví dụ 1: Tại sao con người chịu nóng được ở 60 0C trong không khí mà lại bị
bỏng trong nước cũng ở nhiệt độ đó ?
Trả lời: Vì ở nhiệt độ cao trong không khí, cơ thể người đổ mổ hôi và bốc hơi
trên da, khi đó nhiệt lượng bay hơi lấy từ cơ thể làm nhiệt độ cơ thể giảm nên
da không bị bỏng. Trong nước nóng không có sự bay hơi qua da nên không có
sự giảm nhiệt độ của da nên da bị bỏng.
Kĩ năng sống: Cẩn thận khi dùng nước nóng. Có ý thức tự bảo vệ bản thân và
những người xung quanh khỏi bị bỏng nước.
* Ví dụ 2: Giải thích hiện tượng ” Chuồn chuồn bay thấp thì
mưa,
Bay cao thì nắng bay vừa thì
râm” .
Trả lời: Chuồn chuồn là loài côn trùng có cánh mỏng manh nếu
có độ ẩm cao thì không thể bay được vì hơi nước dính đọng ở
cánh nhiều, nặng còn nếu độ ẩm không khí thấp thì bay lên rất
cao.
Kĩ năng sống: Có kinh nghiệm về thời tiết để có những ứng phó kịp thời.

trong quá trình chảy xuống không gặp vật cản thì thế năng đó
chuyển hóa thành động năng, tạo thành một dòng chảy với vận
tốc rất lớn. Đó là hiện tượng lũ ống và lũ quét. Nước mưa ngấm
vào đất làm cho lực liên kết trong đất giảm đi nhanh chóng nên
gây ra hiện tượng sạt lỡ.
Để giảm bớt các hiện tượng đó trong mùa mưa lũ chúng ta
phải trồng rừng. Vì rừng cây và lớp thảo mộc trên mặt đất sẽ có
tác dụng giảm tốc độ dòng nước, nước thấm vào đất nhiều hơn
tạo ra mạch nước ngầm phong phú, rễ cây rừng giữ đất, làm
cho đất ít bị sạt lỡ hơn.
Kĩ năng sống: Có ý thức bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai.
2.3.2. 3. Hoạt động nhóm nhỏ.
GV mong muốn học sinh thực hiện một số bài tập, yêu cầu cụ thể. Thường
thì trước tiên học sinh cần phải thảo luận trước, sau đó mới làm bài tập và trình
bày, giới thiệu sản phẩm hoạt động.
* Ví dụ 1: Hãy tính công suất sinh ra do một dòng chảy của
nước khi mưa từ một sườn đồi dốc có độ cao 150m xuống mặt
đất, biết lưu lượng dòng chảy là 0.5m3/s ? Hãy cho biết năng
lượng đó của nước đã gây ra những tác dụng gì.
10


* Ví dụ 2: Một xe máy chạy được quãng đường 100km với lực
kéo trung bình là 736 N, tiêu thụ hết 5 lít xăng (khoảng 4kg)
a) Tính hiệu suất của động cơ xe máy? biết NSTN của xăng q =
46.106J/kg.
b) Do chở hàng nhẹ và đường phẳng nên lực kéo của xe là 520
N. Hỏi xe đã tiết kiệm được bao nhiêu lít xăng khi đi quãng
đường 100 km ?
* Ví dụ 3: Để giữ nhiệt độ trong phòng ở 20 0C người ta sử

này cần chia làm nhiều lần trong ngày, uống ngay cả khi không thấy khát. Khi
uống nước nên uống từ từ, từng ngụm nhỏ, mỗi lần không nên quá 150 - 200ml.
Không nên để khi thấy khát mới uống nước, vì lúc đó cơ năng sinh lý của cơ thể
ít nhiều đã bị tổn hại. Nếu uống nhiều nước quá sẽ gây áp lực cho thận, còn
người uống quá ít nước thì da khô, tóc dễ gãy, bị táo bón, bị sỏi thận...
11


- Nước uống có thể là nước đun sôi để nguội, nước khoáng, sữa, nước ép trái
cây,... Nhưng nếu uống nước tinh khiết quá cũng không có lợi cho sức khỏe vì nó
thiếu đi nhiều nguyên tố vi lượng. Còn uống nước đá nhiều cũng không tốt .
- Đối với người già lại cần phải uống nhiều nước để tăng cường sức khỏe, kéo
dài tuổi thọ. Nhưng những người có tiền sử tăng huyết áp không nên uống quá
nhiều nước.
- Bạn nên uống nước trước khi vận động hay khi tập thể dục. Trong quá trình
tập, cơ thể sẽ mất một lượng nước khá lớn qua đường mồ hôi. Vì vậy, việc uống
nước trước đó sẽ giúp cơ thể có được một lượng nước dự trữ, tránh tình trạng
mệt mỏi, thiếu nước trong khi vận động.
- Không nên uống nước ngay sau khi lao động mệt nhọc. Vì khi bạn hoạt
động thể lực với cường độ cao, phần lớn máu sẽ tập trung ở các cơ bắp tham gia
vào hoạt động đó. Sau khi dừng công việc, các huyết quản ở đường ruột và dạ
dày vẫn chưa kịp giãn nở, nên khả năng hấp thụ của hệ tiêu hóa, nhất là ruột lúc
đó rất kém. Nếu uống nhiều thì nước sẽ đọng lại lâu trong dạ dày và ruột, gây
ấm ách, làm giảm nhu động và tiết dịch vị lâu ngày dẫn đến rối loạn tiêu hóa,
đau dạ dày. Ngoài ra, sau khi lao động nặng mà uống nhiều nước, máu sẽ loãng
ra, tim phải hoạt động nhiều hơn trong lúc đáng ra phải được nghỉ ngơi, sẽ ảnh
hưởng xấu đến tim.
2.3.2. 4. Phương pháp đóng vai.
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “ Làm thử” một số
cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Phương pháp đóng vai có

*
dụ 2: Trò chơi đuổi hình bắt chữ



*

dụ
3:
Trò chơi cặp đôi ăn ý.
- Cách 1: Hai học sinh ghép thành một đôi đứng quay lưng lại với nhau và cùng
trả lời câu hỏi của người dẫn chương trình. Đáp án được hai học sinh viết vào
hai bảng riêng. Kết thúc gói câu hỏi đôi nào có nhiều đáp án đúng giống nhau là
người chiến thắng.
- Cách 2: Hai học sinh ghép thành một đôi đứng cách nhau một đoạn đủ để nói
nhỏ không nghe thấy. Một bạn cầm danh sách các từ , câu người dẫn chương
trình đưa và diễn tả bằng lời sao cho người còn lại hiểu và trả lời đó là từ gì .
Không được dùng những từ có trong từ chìa khóa. Hết thời gian quy định đội
nào trả lời đúng được nhiều nhất là chiến thắng.
- Cách 3: Hai học sinh ghép thành một đôi đứng cách nhau một đoạn. Một bạn
cầm danh sách các từ , câu người dẫn chương trình đưa và diễn tả bằng hành
động và ngôn ngữ cơ thể sao cho người còn lại hiểu và trả lời đó là từ gì . Không
13


được dùng lời nói để hướng dẫn bạn chơi. Hết thời gian quy định đội nào trả lời
đúng được nhiều nhất là chiến thắng.
2.3.2. 6. Phương pháp dự án
Phương pháp dự án là một phương pháp trong đó người học thực hiện một
nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết với thực tiễn, thực hành.

Với đề tài này tôi tổ chức một buổi ngoại khóa dưới hình thức
một cuộc thi với thời lượng 90 phút. Cuộc thi gồm có ba phần:
Trong phần thi thứ nhất, mỗi đội thi được vận dụng các
kiến thức đã học để trả lời nhanh 10 câu hỏi, các em rèn luyện
kĩ năng tư duy lô gic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, các kĩ năng tư duy xuyên
14


môn như: phân tích, tổng hợp, so sánh…. trong đó câu hỏi thứ 10 có nội
dung giúp các em rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng sinh tồn.
Trong phần thi thứ hai, các em được thể hiện những hiểu
biết của mình để giải ô chữ. Và cũng thông qua việc giải ô chữ,
GV cung cấp thêm những thông tin giúp các em hoàn thiện và
mở rộng kiến thức SGK, đồng thời giáo dục kĩ năng sinh tồn cho
HS như việc dùng nước để tạo ra lửa.
Phần thi hùng biện giúp các em rèn luyện được các kĩ
năng:
+ Các kĩ năng tư duy lô gic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, các kĩ năng tư
duy xuyên môn như: phân tích, tổng hợp, so sánh….
+ Kĩ năng tìm kiếm và sử lí thông tin.
+ Kĩ năng thể hiện sự tự tin. như trình bày ý kiến, diễn đạt, thuyết trình
trước đám đông.
* Nhóm 1: Hùng biện về: Vai trò của nước trong cuộc sống.
* Nhóm 2: Hùng biện về: Tình trạng ô nhiễm nguồn nước. Hướng khắc phục.
* Nhóm 1: Hùng biện về: Bạn đã sử dụng nước tiết kiệm chưa ?
Tổ chức giao lưu với khán giả với chủ đề: “Nếu là giọt nước,
em sẽ nói gì với mọi người?” để lắng nghe những suy nghĩ và
biết được hành động của các em về vấn đề tiết kiệm và bảo vệ
nguồn tài nguyên nước, bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí
hậu.

+ Kĩ năng đối phó với stress, giải hóa cảm xúc tiêu cực
+ Kĩ năng bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai.
Tổng kết buổi ngoại khóa: Là Học sinh chúng ta cần có
những hành động gì nhằm tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi
trường ?
2.3.3.3. Ngoại khóa “ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ SỰ CHUYỂN THỂ CỦA CÁC
CHẤT”.
Dự án này tìm hiểu các hiện tượng quen thuộc trong tự
nhiên như: mây, mưa, sương mù, mưa đá, mưa axit, băng tan…
Học sinh sẽ sử dụng các kiến thức đã được học để giải thích quá
trình hình thành, vai trò và tác hại của các hiện tượng tự nhiên
trên đến môi trường và đến quá trình Biến đổi khí hậu Trái đất.
Qua tìm hiểu học sinh sẽ thảo luận để tìm ra giải pháp nhằm
hạn chế tác hại của các hiện tượng đó đến biến đổi khí hậu. Từ
đó có thái độ, hành động tích cực tham gia vào các hoạt động
sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ sự thay đổi của khí hậu,
môi trường và tuyên truyền cho mọi người cùng có ý thức bảo
vệ môi trường.
Thông qua hai hình thức Trò chơi giải ô chữ tìm từ chìa
khóa , đuổi hình bắt chữ GV cung cấp thêm những thông tin
giúp các em hoàn thiện và mở rộng kiến thức sách giáo khoa,
đồng thời giúp các em rèn luyện :
+ Các kĩ năng tư duy lô gic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, các kĩ năng tư
duy xuyên môn như: phân tích, tổng hợp, so sánh….
+ Kĩ năng đối phó với stress, giải hóa cảm xúc tiêu cực.
+ Kĩ năng thể hiện sự tự tin như trình bày ý kiến, diễn đạt, thuyết trình trước
đám đông.
2.3.3.4. Ngoại khóa “ ĐỘ ẨM KHÔNG KHÍ VÀ CUỘC SỐNG”.
Trong dự án này học sinh vận dụng những kiến thức của bộ
môn Vật lí và các môn học khác có liên quan để cùng tìm hiểu

ảnh hưởng của độ ẩm không khí đến sức khỏe con người đó là
bệnh khô họng.
Bệnh khô họng: Do không khí khô: do đặc thù mùa đông, độ
ẩm không khí giảm nên trong quá trình hít thở làm cho cổ họng
khô đau, khó chịu.
Để hạn chế rủi ro gây bệnh người cao tuổi và trẻ nhỏ không nên
ở ngoài trời quá lâu, phòng ngủ nên đảm bảo độ ẩm thích hợp
với máy phun sương tạo ẩm trong phòng. Người cao tuổi và trẻ
nhỏ nên mặc ấm về mùa đông, uống đủ nước (6 – 8 cốc/ngày).
Súc miệng bằng nước ấm hoặc nước dấm táo. Ngoài ra, có thể
áp dụng phương pháp chống khô miệng và cổ họng bằng chanh
và mật ong, lấy một ly nước ấm, pha một thìa cà phê nước
chanh và một thìa cà phê mật ong khuấy đều uống, mỗi ngày 2
lần có tác dụng giảm đau khô và viêm họng
2.3.3.5. Ngoại khóa : Viết báo tường “ CHÚNG EM VỚI AN TOÀN GIAO
THÔNG ”.
Phần thứ nhất: Giới thiệu về tờ báo.
Mục Lái xe an toàn:
1. Hai xe ô tô đi ngược chiều nhau, một xe lên dốc, một xe xuống dốc xe
nào phải nhường đường cho xe nào? Vì sao?
Trả lời: Xe xuống dốc phải nhường đường cho xe lên dốc .
Vì xe xuống dốc có thể sử dụng phanh để chuyển động chậm lại sau đó khi
không phanh nữa thì xe vẫn có thể chạy bình thường nhưng nếu xe lên dốc mà
nhường đường thì không có đà để lên dốc, sẽ bị tuột dốc dễ sảy ra tai nạn.
17


Không xe nào nhường đường cho xe nào thì cũng sẽ dễ sảy ra tai nạn. Vì vậy xe
xuống dốc phải nhường đường cho xe lên dốc .
2. Nêu vai trò của dây đai an

* Bài viết. Tại sao chúng ta không được đứng gần
đường ray khi tàu chạy qua.
Đứng gần đường ray khi tàu đang chạy nhanh rất nguy hiểm. Nếu đứng gần
một đoàn tàu đang chạy với tốc độ cao, bạn đang mạo hiểm cuộc sống của chính
mình đấy. Bởi vì bên cạnh đoàn tàu đang chạy nhanh đã hình thành một dòng
khí, nó có thể hút bạn vào xe lửa dễ như chơi. Theo Định luật Becnuli không khí
ở bên đoàn tàu đang chạy nhanh cũng theo xe lửa mà chuyển động với tốc độ rất
cao, còn không khí cách xe lửa tương đối xa thì về cơ bản là đứng yên. Vì vậy
áp suất của không khí ở xa xe lửa thì lớn còn áp suất của không khí ở gần xe lửa
thì nhỏ. Nếu khi có người đứng gần đường ray xe lửa thì phía trước người chịu
áp suất của không khí chuyển động với tốc độ cao sẽ nhỏ hơn áp suất của không
khí đứng yên phía sau người, thân người sẽ bị đẩy về phía xe lửa. Khi xe lửa
18


chạy với tốc độ 50 km/giờ, ước lượng có một lực đến 80 N đẩy vào người đứng
bên xe, vì thế khi xe lửa chạy với tốc độ nhanh, đừng bao giờ đứng quá gần
đường ray, điều đó vô cùng nguy hiểm.
Phần thứ hai: Trò chơi cặp đôi ăn ý. Giúp các em rèn luyện :
+ Các kĩ năng tư duy lô gic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, các kĩ năng tư
duy xuyên môn như: phân tích, tổng hợp, so sánh….
+ Kĩ năng tìm kiếm và sử lí thông tin.
+ Kĩ năng thể hiện sự tự tin. như trình bày ý kiến, diễn đạt, thuyết trình .
+ Kĩ năng làm việc nhóm.
+ Kĩ năng đối phó với stress, giải hóa cảm xúc tiêu cực.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Các chủ đề trên tôi tổ chức cho học sinh lớp 10 định kì mỗi
tháng một buổi bắt đầu từ tháng 12, mỗi buổi từ 60 đến 90 phút
vì các em cần thời gian làm quen với cách học ở bậc THPT và
cần thời gian để tiếp thu và nắm bắt kiến thức Vật lí đầy phức


- Người học nắm được một số kĩ năng sống, sống có trách
nhiệm với bản thân và người khác hơn.
* Số liệu thống kê ở 2 lớp 10A9 -10A10 năm học 2016 –
2017 sau khi hướng dẫn học sinh tham gia các buổi ngoại khóa.
Lớp thực nghiệm 10 A 9 - Dạy học giáo dục kĩ năng sống
thông qua các hoạt động ngoại khoá Vật lí..
Lớp đối chứng 10 A 10 - Dạy học không có giáo dục kĩ
năng sống .
Lớp
Lớp
10A9

Sĩ số
Sĩ số
40

10A10
10A9

45
40

10A10

45

KQ
lực
môncuối

22HS
HS
=
0
%
=
30%
=52,5%
=
17,5%
luyện
=0%
= 30% luật = 45%ban = 55
%
2
HS
16
HS
25
HS
2
HS

1 HS
4 HS
20 HS
20 HS
=
4,4%
=

2 HS
=
2,2 = 4,4 %
%

Qua các số liệu thống kê ở trên có thể thấy rằng việc giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh lớp 10 THPT là cực kì quan trọng vì lứa tuổi các em bắt đầu
có sự chuyển biến phức tạp trong tâm sinh lí. có rất nhiều thay đổi về
mặt thể chất, tinh thần, rất ham tìm tòi, khám phá cái mới và
thích thể hiện mình.
Giáo dục kĩ năng sống góp phần giảm tình trạng bạo lực học đường đang
có xu hướng gia tăng, hạn chế việc ứng xử thiếu văn hóa và xóa bỏ lối sống
buông thả, hư hỏng…giúp các em hình thành nhân cách, rèn luyện đạo đức
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. KẾT LUẬN
Nếu con người có kiến thức, có thái độ tích cực mới đảm bảo 50% sự
thành công, 50% còn lại là những kĩ năng cần cho cuộc sống mà ta thường gọi là
kĩ năng sống. Rèn luyện kĩ năng sống có ý nghĩa quan trọng với mỗi người để có
thể đương đầu với mọi thử thách trong cuộc sống và hoàn thiện bản thân mình
hơn. Điều này còn rất quan trọng đối với học sinh THPT – lứa tuổi có những
chuyển biến phức tạp trong tâm sinh lí.
Giáo dục kĩ năng sống thông qua bộ môn Vật lí là một
việc làm thiết thực và có ý nghĩa. Nó không chỉ giúp học sinh
xác lập được mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà
trường và xã hội, mà còn tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh thực
hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa về thể
chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức, ứng phó được những khó
20



túc trong thực hiện các quy tắc chung, góp phần xây dựng môi trường giáo dục
lành mạnh, giúp học sinh phát triển toàn diện.
* Phụ huynh cần quan tâm giáo dục con mình
Các bậc cha mẹ cũng cần lưu ý, không chỉ có nhà trường giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh, mà bản thân gia đình cũng cần là một môi trường giáo dục tốt
để con cái học tập.Cần có những biện pháp tác động toàn diện thay vì ép con
học kiến thức quá nhiều mà không dành thời gian trang bị kỹ năng, hoặc cha mẹ
bỏ mặc sự phát triển tự nhiên của trẻ.Trước hết, các bậc cha mẹ phải là những
tấm gương về đạo đức cho các em học tập. Cha mẹ cũng phải uốn nắn, răn dạy
con em từ lời ăn, tiếng nói đến cách ứng xử trong đời sống thường ngày. Các gia
đình còn phải liên hệ, phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc quản lý giờ
giấc, theo sát hoạt động, hướng các em đến nhữnghoạt động lành mạnh, tránh xa
21


tệ nạn xã hội, giáo dục các em trở thành những con người có lý tưởng, hoài bão
phấn đấu vươn lên.
* Mối liên hệ nhà trường - gia đình cần chặt chẽ.
Nhà trường thường xuyên phối hợp chặt chẽ với hội phụ huynh học sinh, đề
ra “Quy chế phối hợp giáo dục học sinh”, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa nhà
trường và gia đìnhtrong quản lý, giáo dục các em. Nếu có hiện tượng các em học
sinh bỏ học không lý do, nhà trường có thông báo ngay với gia đình, tìm hiểu
nguyên nhân và cùng gia đình thuyết phục các em đi học trở lại.
* Tăng cường xã hội hóa giáodục.
Các trường học tăng cường phối hợp hơn nữa với phụ huynh học sinh để
cùng thực hiện nhiệm vụ giáo dục. Không nên coi xã hội hóa giáo dục chỉ là
đóng góp xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp học; mà còn là tăng cường trao
đổi thông tin giữa gia đình và nhà trường một cách thường xuyên, liên tục.
* Đoàn trường cần có nhiều hoạt động bổ ích hơn.
Hiện nay, Đoàn trường vẫn tổ chức các hoạt động cho học sinh như các

22


NGUYỄN THỊ HỒNG

23


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình chuyên đề giáo dục kĩ năng sống .
PGS. TS. Nguyễn Thanh Bình .
2. Module THPT 35. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT.
3. Sách giáo khoa Vật Lí 10 Nâng cao, sách giáo khoa Vật lí 10.
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
4. Sách giáo viên Vật Lí 10 Nâng cao, sách giáo viênVật lí 10.
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
5. Để học tốt Vật Lí 10.
Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
6. Tài liệu GD BVMT thông qua một số môn học và hoạt động
ngoài giờ lên lớp
ở trường THPT.
Bộ Giáo dục và Đào tạo
7. Trang Web Giáo án điện tử, Thư viện Vật lí, YouTube,
tailieu.vn….

24


DANH MỤC


2013 - 2014

và máy lạnh” – Vật lí 10
Nâng cao.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status