Chương 1
ĐẶC ĐIỂM VỀ TỔ CHỨC KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ KINH DOANH
Ở CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA XUÂN HÒA
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Tháng 10 năm 1978, theo Quyết định số 98/BXD-TCLĐ ngày 12 - 1 - 1978, ba nhà
máy - nhà máy gạch Xuân Hòa, nhà máy gạch Bá Hiến, nhà máy gạch Cầu Xây đã sáp
nhập thành nhà máy gạch Xuân Hòa - tiền thân của công ty gốm xây dựng Xuân Hòa.
Tháng 3 năm 1993, theo Quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước số 085A-
BXD/TCLĐ của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, nhà máy gạch Xuân Hòa trở thành thành viên
trực thuộc liên hiệp các xí nghiệp thủy tinh và gốm xây dựng (Bộ Xây dựng).
Tháng 8năm 1994, theo Quyết định số 481-BXD/TCLĐ, nhà máy đã đổi tên thành
công ty gốm xây dựng Xuân Hòa. Công ty gốm xây dựng Xuân Hòa được thành lập lại
vào ngày 20/11/1995 theo Quyết định số 911-BXD/TCLĐ và là thành viên của công ty
thủy tinh và gốm xây dựng. Trụ sở của công ty nằm trên địa bàn xã Tân Dân, huyện Sóc
Sơn, Hà Nội.
Năm 1998, do thực hiện chủ chương của Đảng và Nhà nước nhằm đẩy mạnh quá
trình cổ phần hóa của các doanh nghiệp Nhà nước, phân xưởng Cầu Xây B trực thuộc
công ty đã tách ra thành lập công ty cổ phần Cầu Xây theo Quyết định số 197-
BXD/TCLĐ do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ký ngày 29/4/1998.
Năm 2002, công ty gốm xây dựng Xuân Hòa đã mở thêm nhà máy gạch Cotto Bình
Dương (miền Nam).
Năm 2004, chuyển đổi cổ phần hóa từ doanh nghiệp Nhà nước theo quyết định số
2021/QĐ/BXD ngày 17/12/20004 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, nhà máy gạch Xuân hòa
tách ra trở thành công ty cổ phần Viglacera Xuân Hòa. Nhà máy gạch Bá Hiến cũng tách
ra thành công ty cổ phần Bá Hiến.
Qua hơn 30 năm hoạt động, công ty đã thu được những thành công nhất định trong
lĩnh vực cung ứng nguyên vật liệu xây dựng. Sản phẩm của công ty đã có mặt ở hầu hết
các tỉnh, thành phố trong cả nước, đảm bảo số lượng chủng loại, chất lượng giao hàng
đúng hạn, đầy đủ theo hợp đồng đã ký kết. Bên cạnh những thành công nhất định đó,
công ty cũng gặp phải không ít những khó khăn của nền kinh tế hội nhập.
1.2. Lĩnh vực kinh doanh và quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm:
than cám cơ hạt 1 – 3 mm)
Băng tải 2
Băng tải 3
Băng tải chuyển mộc
Sơ đồ quy trình công nghệ trên có thể được diễn tả như sau:
▪ Công đoạn khai thác nguyên liệu:
Các loại đất sét là nguyên liệu chủ yếu sản xuất gạch. Đất sét sau khi được khảo sát,
thăm dò và thử công nghệ đạt tiêu chuẩn sản xuất mới được tiến hành khai thác bằng
cách dùng máy ủi ủi lớp đất từ 20 đến 30 cm, sau đó dùng máy xúc xúc đất lên ô tô trở
về bãi chứa. Thông thường việc khai thác được tiến hành theo kiểu cuốn chiếu từ ngoài
vào trong và khai thác đến đâu hết đến đó.
▪ Công đoạn chế biến tạo hình:
Đất sét khai thác thường được phôi phong hóa từ 3 đến 6 tháng, sau đó đưa và nhà
chứa đất để tiến hành ngâm ủ tối thiểu phải được 24 giờ, độ ẩm đạt từ 14% đến 16%.
Các lô đất được ngâm ủ đúng yêu cầu kỹ thuật, sau đó dùng máy ủi ủi dần vào máy cấp
liệu thùng. Máy cấp liệu thùng có nhiệm vụ phân phối dải đều đất lên băng tải 1, tại đây
đất được pha than cám hình nhỏ, lượng than pha thô 80% - 90% định mức tiêu hao sản
phẩm. Đất và than được đưa lên máy cán thô để phá vỡ cấu trúc ban đầu của đất. Từ
máy cán thô, đất được chuyển lên máy nghiền xa luân qua băng tải 2. Máy này có nhiệm
vụ trà xát, nghiền vỡ kết cấu của nguyên liệu. Đồng thời, đất được pha với nước đạt độ
ẩm 20% - 22% và được ép xuống máy điều phối đất (máy cấp liệu đĩa). Máy cấp liệu
đĩa sẽ điều phối nguyên liệu một cách đều đặn lên máy cán mịn qua băng tải 3. Máy cán
mịn có các khe hở từ 2 -3 mm, có nhiệm vụ cán mỏng đất, tăng độ dẻo, độ đồng nhất,
sau đó đẩy xuống máy nhào đùn liên hợp có gắn thiết bị hút chân không. Thiết bị sẽ hút
hết không khí trong đất, làm tăng độ đặc chắc của nguyên liệu trước khi tạo hình. Máy
đùn tạo ra các thôi mộc qua khuôn tạo hình ở đầu máy. Thôi mộc được máy cắt tự động
cắt thành từng viên sản phẩm theo yêu cầu. Các sản phẩm mộc chuyển qua băng tải
ngang bốc lên xe cải tiến chuyển di phơi trong nhà kính.
▪ Công đoạn phơi sấy sản phẩm mộc:
Các thao tác phôi gạch mộc phải nhẹ nhàng, tránh biến dạng, đồng thời phôi 3 – 5
doanh, nghiên cứu hồ sơ thiết kế, tham mưu cho các xí nghiệp để cung ứng vật tư
cho các công trình.
- Phòng tổ chức LĐTL: Là phòng tham mưu cho giám đốc trong công tác quản lý
tuyển dụng, điều động nhân lực hàng năm, quý, tháng, tham mưu cho giám đốc
trong việc điều hành nhân lực.
- Phòng kinh doanh tiêu thụ: Nhiệm vụ của phòng là chào hàng, tiếp thị và tìm
phương án tiêu thụ sản phẩm, tìm hiểu và nghiên cứu cac thị trường chiến lược
về các mặt kinh doanh, giúp giám đốc có định hướng sản xuất vào những mặt
hàng có nhu cầu tiêu thụ trên thị trường.
- Phòng kỹ thuật: Có nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải
tiến kỹ thuật trong sản xuất, chịu trách nhiệm về chất lượng nguyên vật liệu, thiết
bị máy móc nhập về công ty; lập phương án kế hoạc xây dựng các công trình, lắp
đặt máy móc, thiết bị; lập dự trù vật tư, tiếp nhận vật tư.
1.3.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh:
Công ty cổ phân Viglacera Xuân Hòa được trang bị hai lò sấy Tuynel, sản xuất
các sản phẩm như gạch lát nền, gạch block có độ rỗng lớn 200*200*90, gạch xây dựng
hai lỗ, gạch 6 lỗ, gạch men rỗng… Giám đốc công ty có nhiệm vụ, quyền hạn như thực
hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của xí nghiệp hàng tháng, quý, năm thông qua các
phòng ban và đại hội công nhân viên chức, thực hiện khoán sản phẩm nhằm đạt được
kết quả kinh tế cao, chịu trách nhiệm giao nộp sản phẩm theo đúng quy định về số
lượng, chất lượng, đồng thời chị trách nhiệm về các tổn thất do công việc làm ăn kém
hiệu quả.
Bảng kết quả hoạt động kinh doanh
Đơn vị: 1000 đồng
Năm
Chỉ tiêu
2007 2008 2009
Doanh thu 74.100.000 80.960.000 90.000.000
Lãi gộp 50.344.000 46.835.000 50.940.000
Lãi ròng 7.630.000 8.562.000 9.960.000
thống kê
Kế toán công
nợ và thanh
toán
Kế toán vật
tư và tài sản
cố định
Kế toán tổng
hợp, chi phí
và giá thành
Thủ quỹ
thực hiện giao dịch với ngân hàng và lập kế hoạch vay, trả nợ; chịu trách nhiệm
về số dư công nợ tài khoản 112, 111, 331…
- Kế toán tiền lương kiêm thống kê công ty: Thu thập và ghi chép các báo cáo
thống kê do nhân viên thống kê của các nhà máy gửi lên, tính toán và theo dõi
các khoản tiền lương.
- Kế toán công nợ và thanh toán: Theo dõi công nợ với khách hàng và công nợ với
các cá nhân trong nội bộ; viết phiếu thu chi và thanh toán nội bộ; chịu trách
nhiệm về số dư công nợ các tài khoản 141,331, 111, 334…; lập báo cáo thu chi
tiền hàng tuần.
- Kế toán vật tư và tài sản cố định: Theo dõi chi tiết, tổng hợp tình hình nhập, xuất
vật tư, công cụ, dụng cụ; lập phiếu nhập xuất vật tư và hàng tháng đối chiếu nhập
– xuất – tồn với thủ kho; theo dõi, quản lý tình hình biến động tăng giảm tài sản
cố định, lập kế hoạch sửa chữa tài sản cố định.
- Kế toán tổng hợp kiêm kế toán chi phí và giá thành: Chịu trách nhiệm tập hợp
toàn bộ chi phí phát sinh, tính giá sản phẩm và phân tích giá thành sản phẩm, cập
nhật công tác kế toán nhật ký chung, lập báo cáo kế toán và báo cáo quyết toán
công ty.
- Thủ quỹ: Căn cứ vào các phiếu thu chi tiền mặt để nhập xuất tiền mặt vào bảo
quản, cất giữ, chịu trách nhiệm vật chất đối với tiền mặt của công ty.