2
MỤC LỤC
2.2.1. THỰC TRẠNG VỀ QUY MÔ VÀ NĂNG LỰC SẢN XUẤT..............................................................17
* SỐ HỘ GIA ĐÌNH (CƠ SỞ SẢN XUẤT) HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT TRONG LÀNG NGHỀ GIAI
ĐOẠN 2010-2015...................................................................................................................................................17
* LAO ĐỘNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ
* ĐÁNH GIÁ ÁP DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG CÁC LÀNG NGHỀ
* MỘT SỐ SẢN PHẨM CỦA CÁC LÀNG NGHỀ
18
19
20
2.2.2. THỰC TRẠNG MỘT SỐ LÀNG NGHỀ................................................................................................20
2.2.3. HIỆN TRẠNG PHÁT CỤM CÔNG NGHIỆP.......................................................................................24
2.4.1. GIẢI PHÁP VỀ VỐN ĐẦU TƯ
2.4.3 TẠO DỰNG MÔI TRƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ
2.4.4. GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
2.4.8 CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
2.4.9 GIẢI PHÁP VỀ THỊ TRƯỜNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.4.10 GIẢI PHÁP VỀ HOÀN THIỆN TỔ CHỨC, QUẢN LÝ
2.4.11 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NGUỒN NHÂN LỰC
2.4.12 GIẢI PHÁP KHUYẾN KHÍCH HỖ TRỢ KINH TẾ NGOÀI NHÀ NƯỚC
28
30
31
33
33
33
CỦA LÀNG NGHỀ MÌNH..................................................................................................................................40
- YÊN TÂM TRONG VIỆC CẤP CÁC SẢN PHẨM HÀNG HÓA CỦA MÌNH DO CÓ HỆ THỐNG
CÁC CHÍNH SÁCH VÀO CUỘC NHẰM BAO TIÊU ĐẦU RA, HỖ TRỢ SẢN XUẤT VÀ QUẢNG
BÁ THƯƠNG HIỆU SẢN PHẨM......................................................................................................................40
3
- TẠO RA GIÁ TRỊ CAO CHO CÁC SẢN PHẨM CỦA NÔNG DÂN NÔNG THÔN GÓP PHẦN
LÀM TĂNG GIÁ TRỊ KINH TẾ - XÃ HỘI CHO ĐỊA PHƯƠNG..............................................................40
4.3. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN KHI THỰC HIỆN VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA ĐỀ ÁN..........40
3.KẾT LUẬN..........................................................................................................................................................43
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. Danh mục các từ viết tắt bằng tiếng Anh
ASEAN
Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á.
FDI
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội.
ODA
Vốn hỗ trợ phát triển chính thức.
USD
Đô la Mỹ.
2. Danh mục các từ viết tắt bằng tiếng Việt
LLTT
Làng nghề truyền thống.
LN
Làng Nghề.
1
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do xây dựng đề án
Phát triển công nghiệp nông thôn là một nhiệm vụ trọng tâm trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn. Có
hai phương thức cơ bản để thực hiện chủ trương này: một là xây dựng các
cụm công nghiệp hoặc cụm công nghiệp - TTCN; hai là phát triển các làng
nghề và ngành nghề ở nông thôn. Phát triển các làng nghề và ngành nghề
nông thôn nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn, góp phần xoá đói
giảm nghèo, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Với mục tiêu phát triển ngành nghề nông thôn nhằm giải quyết việc
làm cho người dân, tăng giá trị sản phẩm các ngành nghề ở nông thôn, UBND
tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Quyết định số 3358/QĐ-UBND ngày 17 tháng
12 năm 2009 về việc phê duyệt Qui hoạch phát triển ngành nghề nông thôn
tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009 - 2020. Tính đến nay trên địa bàn huyện có
27 làng nghề và nghề được UBND tỉnh công nhận nghề hoặc làng nghề
truyền thống theo các tiêu chí mới.
Trong những năm gần đây, UBND tỉnh ban hành nhiều chính sách khuyến
khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhưng các
làng nghề vẫn gặp nhiều khó khăn: Thiết bị và công nghệ chưa được đầu tư đúng
mức; năng suất lao động thấp; chất lượng và mẫu mã của sản phẩm đáp ứng
chưa cao thị hiếu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng; trình độ tay nghề
người lao động chưa được chú trọng đào tạo và nuôi dưỡng; thu nhập trong các
làng nghề và các cơ sở sản xuất chưa đủ sức thu hút người lao động đặc biệt đối
với lao động có tay nghề cao và các nghệ nhân; môi trường tại các làng nghề và
nhiều cơ sở sản xuất chưa được quan tâm đúng mức; mặt bằng và vốn cho sản
xuất đang là nhu cầu cấp thiết của nhiều cơ sở sản xuất; thị trường tiêu thụ còn
hẹp, thương hiệu hàng hoá và công tác quảng cáo chưa được đầu tư thoả đáng...
Do đó chưa tạo điều kiện để thu hút hết lực lượng lao động cũng như sử dụng
Lương giai đoạn 2010 – 2015, từ đó xác định định phát triển làng nghề huyện
Phú Lương giai đoạn 2015 - 2020.
+ Về không gian: Đề án chủ yếu nghiên cứu các đối tượng trên địa bàn
16 xã, thị trấn của huyện Phú Lương.
4
B. NỘI DUNG
1. Căn cứ xây dựng đề án
1.1 Cơ sở khoa học, lý luận
* Khái niệm, tiêu chí phân loại Làng nghề
Thôn, làng là một thuật ngữ dùng để chỉ một đơn vị hành chính ở nông
thôn bao hàm là một tập hợp cộng đồng dân cư trên một vùng lãnh thổ xác
định, có khả năng độc lập về kinh tế. Trong điều kiện chống ngoại xâm, thiên
tai thì họ là một cộng đồng thống nhất. Họ còn là một cộng đồng văn hóa gắn
liền với biểu tượng cây đa, giếng nước, mái đình.
Làng, theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, là một khối người quây
quần ở một nơi nhất định trong nông thôn. Làng là một tế bào của xã hội của
người Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Đó là một
không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng
sinh sống và sản xuất. Trong quá trình đô thị hóa, khái niệm làng được hiểu
một cách tương đối. Một số địa phương hiện nay không còn được gọi là làng
mà thay vào đó là những tên gọi khác như phố, khối phố. Tuy nhiên, dù tên
gọi là có thay đổi nhưng bản chất của cộng đồng dân cư đó vẫn gắn với nông
thôn thì vẫn được xem là làng.
Các làng ở nước ta được chia làm 4 loại chính:
- Làng thuần nông hay còn gọi là làng nông nghiệp, là những làng nghề
nông một cách thuần túy.
- Làng buôn bán, là làng làm nghề nông có thêm nghề buôn bán của
Như vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung chính
sau: “Làng nghề là một thiết chế KT-XH ở nông thôn, được cấu thành bởi hai
yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định trong đó bao
gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối
liên kết chặt chẽ về kinh tế - xã hội và văn hóa”.
Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành
và phát triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm
đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp và
nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền
kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc. Xét về mặt định lượng, làng
nghề là những làng mà ở đó có số người chuyên làm nghề thủ công nghiệp
và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm một tỷ lệ khá lớn
trong tổng dân số của làng.
Ngày nay, làng nghề được hiểu theo nghĩa rộng, không bó hẹp trong
phạm vi hành chính của một làng mà gồm một hoặc một số làng cùng một
tiểu vùng, cùng địa lí kinh tế, cùng sản xuất một chủng loại hàng hóa truyền
thống hoặc cùng kinh doanh liên quan đến một nghề phi nông nghiệp và có
quan hệ mật thiết với nhau về KT-XH.
6
Mặt khác, có những địa phương tất cả các làng trong xã đều là làng
nghề, trong trường hợp này, người ta gọi là “ Xã nghề”. Ngành nghề phi nông
nghiệp ở các làng nghề cũng được mở rộng, bao gồm các hoạt động kinh tế
phi nông nghiệp như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các dịch vụ phục vụ
sản xuất và đời sống có quy mô vừa và nhỏ, với các thành phần kinh tế và các
tổ chức kinh doanh như: hộ sản xuất, tổ hợp, hợp tác xã, doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần...
* Tiêu chí phân loại làng nghề
triển các ngành nghề mới như dịch vụ, xây dựng. Loại làng nghề này phát
triển mạnh trong những năm gần đây.
- Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề:
+ Các làng nghề vừa sản xuất nông nghiệp vừa kinh doanh các ngành
nghề phi nông nghiệp;
+ Các làng nghề thủ công chuyên nghiệp;
+ Các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu.
* Các tiêu chí xác định làng nghề
Làng nghề được công nhận (theo Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phải đạt 03 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động
ngành nghề nông thôn;
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận;
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
* Làng nghề truyền thống
Khái niệm làng nghề truyền thống (LNTT) được khái quát dựa trên hai
khái niệm nghề truyền thống và làng nghề nêu trên. Theo Thông tư
116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề
truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời”.
Như vậy có thể hiểu về LNTT, trước hết nó được tồn tại và phát triển
lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền
thống, là nơi hội tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều
hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ
trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt
các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc.
Như vậy LNTT được hình thành từ lâu đời, trải qua thử thách của thời
gian vẫn duy trì và phát triển, được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Trong
các LNTT thường có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng
họ chuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối, nghĩa là việc dạy nghề được
+ Có công đóng góp trong việc giữ gìn, phát triển, đào tạo và truyền
dạy nghề cho thế hệ trẻ.
Thông tư số 01/2007/TT-BCN ngày 11/1/2007 của Bộ Công Nghiệp
(nay là Bộ Công Thương) hướng dẫn về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ
sơ xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú; trong đó đối
tượng được đề nghị xét tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú phải đạt các tiêu
chuẩn sau:
9
+ Trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có phẩm chất
đạo đức tốt, tận tụy với nghề, gương mẫu, thực sự là tấm gương sáng cho mọi
người và đồng nghiệp noi theo;
+ Là người thợ giỏi tiêu biểu được đồng nghiệp thừa nhận, có thâm
niên trong nghề tối thiểu 15 năm, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp
điêu luyện, sáng tác thiết kế được 10 mẫu sản phẩm đạt trình độ nghệ thuật
cao đã trực tiếp làm ra trên 15 tác phẩm có giá trị kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật;
+ Là người có ảnh hưởng rộng rãi trong ngành và xã hội:
+ Có nhiều thành tích trong việc giữ gìn, truyền nghề, dạy nghề cho
trên 100 người, sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ;
+ Là nghệ nhân đầu đàn tiêu biểu được đồng nghiệp thừa nhận, quần
chúng mến mộ, kính trọng;
+ Có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, được tặng giải (loại vàng
hoặc bạc) tại các hội chợ triển lãm quốc gia hoặc quốc tế.
* Làng nghề mới
Làng nghề mới là những làng có ngành nghề phát triển trong những
năm gần đây, chủ yếu do sự lan tỏa từ làng nghề truyền thống hoặc do sự du
nhập trong quá trình hội nhập giữa các vùng và giữa các nước. Ngay các làng
nghề truyền thống cũng có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống.
- Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của cả nước thời kỳ 2001 - 2010
và kết quả nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của cả
nước thời kỳ 2011-2020;
- Quyết đinh số 38/2012QĐ-UBND ngày 31/10/2012 của Ủy ban nhân
dân tỉnh Thái Nguyên, ban hành quy chế xét nghề truyền thống, làng nghề,
làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH huyện Phú Lương đến năm 2020;
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Phú Lương lần thứ XXII, nhiệm
kỳ 2010 - 2015;
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Phú Lương đến
năm 2020, định hướng đến năm 2030.
1.3. Cơ sở thực tiễn
* Phát triển làng nghề ở một số tỉnh
- Ở Bắc Ninh
Bắc Ninh hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 62 làng nghề đã được công
nhận. So với cả nước, tỷ lệ làng nghề/tổng số xã ở Bắc Ninh cao hơn xấp xỉ 5
lần, chiếm khoảng 5% LN cả nước. Tỷ lệ LN truyền thống của tỉnh khá cao
chiếm hơn một nửa tổng số LN. Các loại hình sản xuất kinh doanh ở LN Bắc
Ninh gồm: doanh nghiệp, hợp tác xã… Bên cạnh việc tạo ra nhiều công ăn
việc làm, các LN trên địa bàn cũng đã có những đóng góp quan trọng vào giá
trị sản xuất của tỉnh, bình quân hộ sản xuất có giá trị sản xuất là 50 triệu
11
đồng/năm, lợi nhuận là 28,8 triệu đồng/năm. Giá trị sản xuất mà các làng
nghề tạo ra tập trung chủ yếu vào một số làng nghề chính: sắt thép, đúc đồng,
gỗ mỹ nghệ,… đạt 1.222,85 tỷ đồng, chiếm 80% tổng giá trị sản xuất của khu
vực công nghiệp ngoài quốc doanh, và chiếm trên 30% giá trị sản xuất công
nghiệp trên địa bàn tỉnh.
lao động nặng nhọc, tạo điều kiện để nông dân tiếp cận kỹ thuật tiên tiến, làm
quen với phong cách sản xuất công nghiệp.
+ Việc phát triển ngành nghề TTCN, làng nghề, LNTT đã được các tỉnh
xem đó là một giải pháp phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo nhiều việc làm,
tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân nông thôn. Hơn nữa việc phát triển
Làng nghề, LNTT còn được xem như là một biện pháp thực hiện CNH –
HĐH nông nghiệp nông thôn.
2. Nội dung thực hiện của đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án
2.1.1. Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội
* Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Huyện Phú Lương là một trong 9 huyện, thành thị của tỉnh Thái
Nguyên, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Phía Đông Bắc giáp
huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn, phía Tây Bắc giáp với huyện Định Hóa, Phía
Tây Nam giáp huyện Đại Từ, Phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ, phía Nam giáp
Thành phố Thái Nguyên. Có diện tích tự nhiên là 368,82 km2, được chia
thành 16 đơn vị hành chính (14 xã và 2 thị trấn). Huyện lỵ Thị Trấn Đu cách
trung tâm thành phố Thái Nguyên 22km.
- Tài nguyên thiên nhiên
Là một huyện thuộc trung du miền núi phía Bắc có nhiều núi đá vôi xen
kẽ núi đất nên các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu của Phú Lương là tài
nguyên đất, tài nguyên làm vật liệu xây dựng, tài nguyên rừng, than đá ở Phấn
Mễ, quặng Titan ở Động Đạt và tài nguyên du lịch…
* Điều kiện xã hội
Dân số và việc làm: Năm 2014, huyện có khoảng 106.856 người, mật
độ dân số trung bình 289 người/km 2, trong đó dân cư sống trong khu vực
thành thị 7.467 người chiếm 6,99% còn lại phần lớn là tập trung tại các vùng
nông thôn. Năm 2014 tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế
bộ các xã, thị trấn trên địa bàn toàn huyện, 99% số hộ trong huyện có điện.
2.1.2. Tiềm năng phát triển kinh tế
Từ những điều kiện về tự nhiên, tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân
lực có thể đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế của huyện Phú Lương là phát
triển các ngành sản xuất nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến các sản
phẩm nông nghiệp và công nghiệp vật liệu xây dựng. Một số sản phẩm chủ
lực của huyện như chế biến gỗ, chế biến chè, nông sản xuất khẩu, đồ mỹ
nghệ…có chất lượng cao
Với vị trí địa lý khá thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú phục
vụ phát triển kinh tế. Bên cạnh đó trên địa bàn huyện có nhiều di tích lịch sử,
danh nam thắng cảnh với cảnh quan thiên nhiên đẹp khu di tích lịch sử Đền
14
Đuổm, Khu di tích Quốc Gia nơi thành lập Đại đoàn 308…Đó là những nhân
tố đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
2.1.3. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện Phú Lương đến năm
2020, định hướng đến năm 2025
* Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010-2015: Tốc độ tăng trưởng GDP
của huyện đạt 13%/năm, Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 21,85
tr.đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế 2015: nông lâm thuỷ sản 24%, công
nghiệp xây dựng 44%, thương mại dịch vụ 32%;
- Dự báo tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2015-2020: tăng trưởng kinh tế
13,13%/năm. Cơ cấu kinh tế 2020: nông lâm thuỷ sản 16,4%, công nghiệp
xây dựng 52,6%, thương mại dịch vụ 31,0%
2.1.4 Phát triển các ngành, lĩnh vực liên quan trực tiếp đến phát triển
làng nghề, CN-TTCN huyện Phú Lương
* Định hướng phát triển ngành nông, lâm, thủy sản:
- Chế biến chè: đến năm 2010 sản lượng chè búp tươi đạt 37.000 tấn,
chế biến công nghiệp đạt khoảng 80% sản lượng. Tiến hành xây dựng vùng
chè sạch an toàn tại xóm Thác Dài (xã Tức Tranh). Ngành chế biến chè của
huyện (nhất là các danh nghiệp Thanh Thanh Trà, công ty TNHH Trà Phú
Lương và các hộ chế biến thủ công) cần chú trọng phát triển mạnh chè sạch,
chè an toàn, huyện cần có các cơ chế thúc đẩy phát triển:
- Phấn đấu đạt từ 8 – 15% số hộ nông dân trực tiếp sản xuất các ngành
nghề NT, tăng 20% số cơ sở sản xuất ngành nghề ổn định trên từng xã thị trấn
và phạm vi toàn huyện. Đến năm 2010 toàn huyện có 3 - 4 làng nghề, tập
trung chỉ đạo và giúp đỡ phát triển thành công làng nghề đã được quy hoạch.
- Phát triển các làng nghề thủ công truyền thống của huyện như: làng
nghề mây tre đan Ôn Lương, làng nghề sản xuất gạch Làng Phan (Cổ Lũng,
Phấn Mễ), làng nghề sản xuất bánh trưng Bờ Đậu, làng nghề mây tre đan, thủ
công mĩ nghệ tại các xã Yên Trạch, Ôn Lương (chú ý kiểm soát chặt chẽ các
hạng mục xây dựng hạ tầng làng nghề và tác động môi trường ô nhiễm).
* Định hướng phát triển thương mại, du lich dịch vụ:
GDP thương mại, dịch vụ, du lịch năm 2015 đạt 362,49 tỷ đồng, chiếm 32%
và năm 2020 đạt 713,16 tỷ đồng, chiếm 31,0%, tốc độ tăng trưởng bình quân thời
kỳ 2011 – 2015 đạt 16,50 %/năm và thời kỳ 2016 – 2020 đạt 14,50 %/năm
* Định hướng phát triển theo lãnh thổ và đô thị hoá
- Không gian nông nghiệp, nông thôn theo các tiểu vùng như sau:
+ Tiểu vùng phía Bắc: Gồm 3 xã phía Bắc Yên Ninh, Yên Trạch, Yên
Đổ. Vùng này thích hợp cho phát triển mạnh lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia
16
súc lớn (trâu, bò, dê)..., cây ăn quả các loại (mô hình nông + lâm kết hợp).
Đây cũng là vùng tập trung đất lâm nghiệp của huyện, kẻ cả rừng tự nhiên và
rừng trồng. Riêng xã Yên Trạch rừng tự nhiên chiếm tới 22% diện tích rừng
17
vàng nhạt trên đá cát, đây là vùng kinh tế phát triển chính của huyện. Tập
trung phát triển mạnh nông nghiệp (các sản phẩm sơ chế, chế biến của huyện
đặc biệt là chè an toàn, bánh chưng…), công nghiệp, các đầu mối thương mại
và dịch vụ. Các mỏ than Phấn Mễ, Sơn Cẩm, đất cao lanh ở Phấn Mễ, Cổ
Lũng, mỏ Titan Động Đạt, các làng nghề thủ công truyền thống...
- Phát triển không gian đô thị
Xu hướng phát triển kinh tế xã hội đang diễn ra thúc đẩy mạnh mẽ quá
trình đô thị hoá. Định hướng phát triển đô thị đến năm 2020 huyện Phú
Lương (phấn đấu đạt 70% tiêu chí đô thị loại IV) trở thành đô thị loại IV của
tỉnh (nằm trên chuỗi đô thị quốc lộ III: Hà Nội – Thái Nguyên – Phú Lương –
ATK Định Hoá – Bắc Cạn – Cao Bằng và tuyến quốc lộ 1B đi cửa khẩu Hữu
Nghị – Lạng Sơn). Hướng phát triển chính của huyện Phú Lương tập trung về
hướng Tây và hướng Nam, tương lai phát triển các khu đô thị mới, khu đô thị
sinh thái ven sông Đu. Tổ chức cơ cấu không gian quy hoạch đô thị bao gồm
hệ thống các khu chức năng:
+ Trung tâm thị trấn Đu – Giang Tiên sẽ được mở rộng và xây mới hiện
đại đảm bảo chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa liên vùng (theo
chuỗi Hà Nội – Thái Nguyên – Phú Lương - Cao Bằng).
+ Đường quốc lộ III, đường nối quốc lộ 1B; đường thủy nội địa sông
Cầu, .... sẽ là động lực lớn để phát triển kinh tế Huyện.
+ Phát triển thêm các thị tứ, trung tâm cụm xã, các thị tứ nằm trên trục
đường liên xã và một số trung tâm cụm xã nằm trên các trục đầu mối đường liên
huyện, liên tỉnh tạo cơ sở phát triển kinh tế xã hội khu vực vùng cao của huyện.
* Về phát triển Nông thôn mới
Phát triển nông thôn theo chuẩn quốc gia, tạo ra bộ mặt nông thôn mới
để cùng hệ thống đô thị đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
Làng nghề
Mây tre đan, mành
cọ xã Ôn Lương,
Phấn Mễ, Yên
Trạch
Làng nghề bánh
chưng số 9 Bờ Đậu
Làng nghề chế biến
long vải nhãn Vô
Tranh
Làng nghề chè xã
Tức Tranh
Làng nghề chè xã
Phú Đô
Làng nghề chè xã
Yên Lạc
Cộng
2010
2011
2012
2013
2014
Tăng trưởng năm %
265
260
279
131% 113%
98%
107%
150
560
576
568
580
373% 103%
99%
102%
146
19
Bảng 2: Số lượng lao động làm việc trong ngành công nghiệp, làng nghề
Đơn vị: lao động
TT
1
2
3
4
5
6
Làng nghề
Mây tre đan, mành cọ xã Ôn
Lương, Phấn Mễ, Yên Trạch
Làng nghề bánh chưng
số 9 Bờ Đậu
Làng nghề chế biến
long vải nhãn Vô Tranh
Làng nghề chè xã Tức Tranh
Làng nghề chè xã Phú Đô
Làng nghề chè xã Yên Lạc
Cộng
2010
2011
2012
1040
1116
600
584
612
2240
880
648
2304
1280
648
2272
1400
660
2320
1440
668
2.891
5.169
5.850
dân cư nên không thể dễ dàng đầu tư mở rộng, trang bị thêm thiết bị hiện đại.
Vì vậy, cần có những giải pháp tập trung các doanh nghiệp nhỏ lẻ, sản xuất
kinh doanh cùng một loại sản phẩm thành các doanh nghiệp lớn hơn, để tập
trung nguồn lực về vốn, về đất đai và nhân lực KHCN phát triển thành các
doanh nghiệp hiện đại có quy mô lớn hơn đáp ứng nhu cầu phát triển công
nghiệp của huyện Phú Lương trong giai đoạn tới.
* Một số sản phẩm của các làng nghề
Năm 2014, sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của huyện so với năm
2010 có mức tăng trưởng tốt như: Chế biến gỗ tăng 556%; Chế biến long vải,
nhãn 387%, Chế biến bánh 250%, ....
Bảng 3: Một số sản phẩm chủ yếu GĐ 2010-2014
TT
1
2
3
4
Sản phẩm
ĐV
2010
2014
Chè búp khô
tấn
8.022
8.004
Chế biến bánh
1000Chiếc
1.200
3.000
Chế biến gỗ ( xẻ gỗ, bóc gỗ, mộc...)
đời ở địa phương. Hiện nay, làng nghề có khoảng 107 cơ sở (quy mô hộ gia
đình), tổng số lao động tham gia sản xuất là 428 lao động (trong đó lao
động thường xuyên là 284 lao động và lao động thời vụ là 144 lao động),
doanh thu của làng nghề năm 2010 đạt 1.012 triệu đồng, thu nhập bình
quân 3,2 triệu đồng/lao động/tháng.
21
- Quy mô sản xuất: Sản xuất thủ công đây là hình thức không yêu cầu
sử dụng nhiều máy móc, số lượng người trong cơ sở khoảng 4 - 8 người
thường là người trong gia đình. Phương thức sản xuất này đơn giản, diện tích
sản xuất nhỏ khoảng 40-100m2, chi phí đầu tư thấp. Vì vậy, đây là hình thức
phổ biến tại địa phương.
- Về lao động: Tính chất đơn giản không đòi hỏi nhiều máy móc thiết bị
hiện đại nên yêu cầu về đào tạo cho lao động hầu như không có. Lao động
chủ yếu là người trong gia đình nhưng vào những lúc cao điểm một số gia
đình cũng phải thuê thêm lao động ngoài gia đình. Nhìn chung các cơ sở bánh
tráng tồn tại nhỏ lẻ, công cụ sản xuất thô sơ, thủ công, sản xuất cầm chừng.
- Về nguyên liệu và mặt bằng sản xuất: Nguyên liệu chính để sản xuất
bánh Chưng là gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn. Đây là mặt hàng có sẵn ở địa
phương, thời gian bảo quản lâu. Điều này cho thấy các cơ sở ở đây không gặp
khó khăn nào trong việc tìm kiếm nguyên liệu.
- Về sản phẩm và thị trường tiêu thụ: Sản lượng sản xuất năm 2010 so
với năm 2009, có 11,1% CSSX giảm và 88,9% CSSX bình thường nên việc
sản xuất bánh tráng hiện nay đang cầm chừng và có xu hướng ngày càng
giảm. Đối với chất lượng và chủng loại sản phẩm thì tất cả CSSX đều ổn
định. Việc tiêu thụ sản phẩm đa số CSSX ổn định (89,9%) chỉ có 11,1%
CSSX có mức tiêu thụ giảm; do đó có 77,8% CSSX thu nhập ổn định và
khoảng 22,2% CSSX giảm về thu nhập. Hiện nay, các CSSX không có khó
- Về sản xuất: Quy mô có 130 hộ/520 lao động và có một HTX mây tre
đan Tân Thành. Hiện nay, các hộ gia đình ký hợp đồng giao khoán sản phẩm
với HTX sau đó hộ gia đình sẽ được nhận nguyên vật liệu và sản xuất theo
đúng yêu cầu, mẫu mã, số lượng sản phẩm.
Sản phẩm ở đây chủ yếu làm bằng tay và áp dụng máy móc tại một số
công đoạn, sản phẩm được đánh giá chất lượng tốt, mẫu mã đẹp. Sản lượng
năm 2010 là 96.000 sản phẩm, năm 2014 là 120.000 sản phẩm.
- Về lao động: Hiện nay cơ sở sản xuất dưới dạng hộ gia đình nên số
lượng lao động rất ít, khoảng 2 - 5 người, trong đó chủ yếu là các thành viên
trong gia đình tham gia sản xuất. Tổng số lao động 520 lao động ( 415 lao động
thường xuyên, 105 lao động thời vụ). Do tính chất công việc không phải quy mô,
tinh xảo mà chỉ là đơn giản đan lát thuần túy nên chỉ cần những người khéo tay
có thể học hỏi được. Tất cả các lao động này chỉ là lao động phổ thông và
chưa qua đào tạo, với trình độ học vấn từ tiểu học đến THCS. 75,5% NLĐ
được học nghề tại CSSX và 30,4% NLĐ học nghề từ người thân trong gia
đình. Thời gian học nghề đa số lao động là dưới 1 năm và họ vừa làm vừa học
thêm nghề. Nhìn chung, đa số các lao động đều yêu thích công việc này
(87,5% NLĐ) vì yếu tố truyền thống của gia đình (33,3% NLĐ), vì sự nhẹ
nhàng và không cần vốn đầu tư (47,6%). 54,2% NLĐ cho rằng công việc