TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
----------------------
NGUYỄN THỊ LINH
THẾ GIỚI NGHỆ THẬT
TRONG TIỂU THUYẾT BỈ VỎ
CỦA NGUYÊN HỒNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN PHƢƠNG HÀ
HÀ NỘI – 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã đƣợc sự giúp đỡ của các
thầy cô giáo trong tổ bộ môn Văn học Việt Nam, khoa Ngữ Văn trƣờng Đại
học sƣ phạm Hà Nội 2. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô
tổ văn học Việt Nam, đặc biệt là tới ThS. Nguyễn Phƣơng Hà ngƣời đã tạo
điều kiện tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Khóa luận đƣợc hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế, thiếu
sót. Vì vậy tôi rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô giáo và
các bạn để khóa luận đƣợc hoàn thiện hơn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
CHƢƠNG 2. THẾ GIỚI NHÂN VẬT VÀ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN
NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT BỈ VỎ CỦA NGUYÊN HỒNG ....... 14
2.1. Thế giới nhân vật .................................................................................. 14
2.1.1. Khái niệm nhân vật ......................................................................... 14
2.1.2. Nhân vật trong tiểu thuyết Bỉ vỏ ..................................................... 16
2.2. Nghệ thuật thể hiện nhân vật ................................................................ 28
2.2.1. Miêu tả nhân vật qua ngoại hình .................................................... 28
2.2.2. Miêu tả nhân vật qua hành động .................................................... 32
2.2.3. Ngôn ngữ ......................................................................................... 34
CHƢƠNG 3. THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT BỈ VỎ CỦA NGUYÊN HỒNG............................. 39
3.1. Không gian nghệ thuật .......................................................................... 39
3.1.1. Không gian xã hội ........................................................................... 39
3.1.2 Không gian thiên nhiên .................................................................... 44
3.1.3. Không gian tâm tưởng .................................................................... 45
3.2. Thời gian nghệ thuật ............................................................................. 49
3.2.1. Thời gian trần thuật ........................................................................ 50
3.2.2. Thời gian hồi tưởng ........................................................................ 53
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nguyên Hồng là nhà văn có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học nƣớc
nhà. Ông đƣợc đánh giá là một trong những đại diện xuất sắc nhất của nền
văn học hiện thực tiến bộ Việt Nam trƣớc Cách mạng tháng Tám. Suốt cuộc
đời cầm bút gần nửa thế kỉ, Nguyên Hồng đã viết những sự thật đau đớn và
góp phần hữu ích trong việc tìm hiểu, khám phá tác phẩm của Nguyên Hồng.
2. Lịch sử vấn đề
Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về trào lƣu văn học hiện
thực 1930 – 1945 trên cả hai phƣơng diện về nội dung tƣ tƣởng và hình thức
nghệ thuật. Bên cạnh các tác giả nhƣ Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam
Cao… thì Nguyên Hồng và các tác phẩm của ông cũng là một trong những đối
tƣợng nghiên cứu hấp dẫn của văn học. Nguyên Hồng là một trong số ít những
nhà văn mà ngay ở những tác phẩm đầu tay đã có đƣợc vị trí vững chắc trên
diễn đàn văn nghệ và trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều nhà nghiên cứu,
những ngƣời yêu thích thơ văn. Đặc biệt, với sự ra đời của tiểu thuyết Bỉ vỏ đã
tạo lên một tiếng vang lớn, đánh dấu sự trƣởng thành của ông và ngay sau khi
nó thu hút đƣợc sự quan tâm đông đảo của nhiều nhà nghiên cứu.
Giáo sƣ Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Thương tiếc nhà văn Nguyên
Hồng nhận định: Nguyên Hồng không chỉ là nhà văn của những ngƣời cùng
khổ, những ngƣời “dƣới đáy” của xã hội. Ông chính là ngƣời cùng khổ nhất ,
chính là hạng ngƣời dƣới đáy cùng của của xã hội thời Pháp thuộc. Ông không
chỉ viết về ngƣời dân lao động mà bản thân ông chính là một ngƣời dân lao
động với đầy đủ ý nghĩa của khái niệm ấy. Nhƣng văn Nguyên Hồng bao giờ
cũng lấp lánh sự sống. Những dòng chữ đầy chi tiết cứ cựa quậy, phập phồng.
Một thứ văn bám riết lấy cuộc đời, quấn quýt lấy con ngƣời.
2
Trong Hội thảo "Nhà văn Nguyên Hồng - cuộc đời và sự nghiệp văn
chƣơng" nhân kỷ niệm 95 năm ngày sinh của ông (1918-2013) TS. Lê Thị
Bích Hồng với bài viết: Nguyên Hồng – nhà văn của những người cùng khổ,
tác giả nhấn mạnh: Từng trang văn của ông là từng trang đời thấm đẫm nƣớc
mắt số phận con ngƣời những năm tháng trƣớc Cách mạng - những ngƣời
sống dƣới đáy xã hội, những ngƣời nghèo, những thân phận bất hạnh, cô đơn,
Bài viết đã đi sâu nghiên cứu không gian nghệ thuật, từ đó đã làm nổi bật lên
số phận tăm tối của hệ thống nhân vật bi kịch, lƣu manh trong tiểu thuyết này.
Tuy nhiên, ở các bài viết này chỉ đi vào khai thác những khía cạnh nhỏ
nhƣ: thi pháp hoàn cảnh, không gian nghệ thuật của tiểu thuyết Bỉ vỏ mà chƣa
đi khai thác một cách toàn diện về tác phẩm.
Tiếp thu phần nào kết quả của các nhà nghiên cứu, khóa luận của chúng
tôi đi vào khai thác: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên
Hồng, nhằm làm rõ hơn nữa giá trị nội dung, tƣ tƣởng của tác phẩm này.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Bỉ vỏ của
Nguyên Hồng.
- Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Bỉ vỏ - Nguyên Hồng, NXB Văn học
2003.
4. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu về Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Bỉ vỏ.
- Thấy đƣợc vị trí, tài năng của nhà văn Nguyên Hồng trong trào lƣu
Văn học hiện thực phê phán.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp thống kê, phân loại.
- Phƣơng pháp tổng hợp, khái quát.
- Phƣơng pháp phân tích tác phẩm.
4
6. Đóng góp của khóa luận
- Góp phần khẳng định vị trí và tài năng của Nguyên Hồng đối với nền
Văn học hiện thực phê phán.
- Đóng góp thiết thực cho công việc giảng dạy, học tập tác phẩm của
Nguyên Hồng sau này.
tác nghệ thuật là một thế giới riêng đƣợc sáng tạo ra theo nguyên tắc tƣ tƣởng,
khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con ngƣời, mặc dù nó
phản ánh các thế giới ấy” [3,302].
Có thể thấy, thế giới nghệ thuật đã khẳng định phƣơng thức phản ánh
vũ trụ-con ngƣời theo cách riêng của văn học, nghệ sĩ muốn khẳng định cá
tính riêng và đem lại cho ngƣời đọc nhận thức phong phú thì phải tạo đƣợc
cho mình thế giới nghệ thuật riêng, tức là mọi tƣ duy trong tác phẩm đƣợc
6
nhận biết theo cách của nhà văn. Thế giới nghệ thuật có không gian riêng,
thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm
đạo đức, thang bậc giá trị riêng… chỉ xuất hiện một cách có ƣớc lệ trong sáng
tác nghệ thuật.
Nhƣ vậy, mỗi thế giới nghệ thuật ứng với quan niệm riêng. Ví dụ: thế
giới nghệ thuật của thần thoại gắn với quan niệm về các sự vật có thể biến hóa
lẫn nhau; thế giới nghệ thuật trong truyện cổ tích (đặc biệt là trong truyện cổ
tích thần kì), gắn với quan niệm về thế giới không có sức cản; còn thế giới
nghệ thuật của các sáng tác hiện thực chủ nghĩa gắn với quan niệm tác động
tƣơng hỗ giúp ta hình dung tính độc đáo về tƣ duy nghệ thuật và cá tính sáng
tạo của nghệ sĩ.
Chúng ta biết rằng, mỗi tác phẩm văn học đều đƣợc lấy chất liệu từ hiện
thực khách quan nhƣng đƣợc phản chiếu qua lăng kính tâm hồn của nghệ sĩ.
Mỗi nhà văn có một cách nhận thức về hiện thực riêng, chính vì vậy mỗi tác
phẩm sẽ là một thế giới nghệ thuật riêng, nhiệm vụ của ngƣời tiếp nhận là
phải tìm mã khóa để bƣớc vào thế giới nghệ thuật đó.
Nhƣ đã nêu trên, thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian
riêng… vì thế có thể nêu ra các yếu tố biểu hiện của thế giới nghệ thuật nhƣ:
nhân vật, thời gian – không gian nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu… Trong
huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Cho đến năm 2013, Hội nhà văn Việt Nam
tổ chức Lễ kỉ niệm 95 năm sinh nhà văn Nguyên Hồng, tại đây có sự tham gia
của nhiều nhà văn, nhà thơ và bạn đọc nhiều thế hệ yêu mến nhà văn vùng đất
Cảng. Trong buổi lễ nhà văn Nguyễn Tuân đã viết những vần thơ rất xúc
động để tƣởng nhớ Nguyên Hồng:
“Khi ông đến nơi đất khép nắng nghiêng trời
Nƣớc mắt thấm chiều thƣơng nhớ
8
Không còn bạn nhâm nhi rƣợu lúa
Từng ly đau giọt lên mộ thay lời”.
Nguyên Hồng bƣớc vào nghề văn là do sự thôi thúc nội tâm, muốn nói
lên nỗi thống khổ cùng con ngƣời; trƣớc hết là ngƣời lao động, để bênh vực
họ. Đó là ý thức nghệ thuật đã trở thành cảm hứng, cuốn hút sự say mê, sáng
tạo của ông trong suốt cuộc đời cầm bút. Đối với một ngƣời thanh niên thời
đó, địa vị không có, gia đình suy tàn, học thức tầm thƣờng nhỏ nhoi, Nguyên
Hồng chỉ nghĩ có một cách tồn tại trong cuộc sống bằng cái nghề cao quý,
trong sạch của văn chƣơng. Sáng tác là niềm đam mê lớn nhất của cuộc đời
ông. Nguyên Hồng đề ra quan điểm sáng tác rõ ràng mà nổi bật nhất đó là
quan niệm nghệ thuật vì con ngƣời. Cả cuộc đời cầm bút, ông gắn bó sâu sắc,
máu thịt với những con ngƣời nhỏ bé, những lớp ngƣời dƣới đáy của xã hội
thành thị. Sự nghiệp văn học của Nguyên Hồng có nét gần gũi với nhà văn
Nga Mácxim Gorki – trong mỗi trang viết của ông nồng nàn hơi thở của đời
sống cần lao. Ông chỉ viết và viết, viết từ trẻ cho đến lúc già, viết cả khi trong
nhà tù và viết trong cái đói thƣờng trực.Tựa nhƣ ông dốc cạn cuộc đời ra để
viết, vắt kiệt mình ra để viết. Hơn bốn mƣơi năm lao động nghệ thuật bền bỉ
và sáng tạo say sƣa, đầy ý thức trách nhiệm, những tác phẩm của Nguyên
Hồng chiếm một vị trí quan trọng, có bản sắc riêng trong nền văn học hiện đại
khóc; Bỉ vỏ đã viết xong trong một đêm lạnh lẽo, âm thầm mà mọi vật nhƣ
đều rung lên cùng với lòng thƣơng yêu của một đứa trẻ con ham sống dạt dào
trong những bụi mƣa thấm thía” (Lời đề tựa trong cuốn Bỉ vỏ - 1938)[4,8].
Khi viết về những ngƣời lao động cùng khổ, Nguyên Hồng không nhìn
họ bằng sự thƣơng hại hoặc tô vẽ cho cuộc sống lao động cực khổ một vẻ dịu
dàng nên thơ, mà ông đã xoáy sâu đến tận cùng những tấn bi kịch của tầng
lớp ngƣời dƣới đáy xã hội. Nếu nhƣ các nhà văn khác hƣớng tới những ngƣời
nghèo khổ mà viết với tấm lòng thƣơng cảm thì Nguyên Hồng đã đứng trong
lao khổ để viết lên những sự thật thật khốc liệt. Ông viết về họ nhƣ chính viết
11
về cuộc sống của bản thân mình, bằng tất cả sự đồng cảm, chia sẻ, thấm thía
từ tấm lòng trƣớc mọi nỗi buồn lo, xót xa, quằn quại của lớp ngƣời dƣới đáy
xã hội.
Bỉ vỏ là cuốn tiểu thuyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp
sáng tác văn học của Nguyên Hồng. Tác phẩm ra đời năm 1938, khi ông đang
chập chững những bƣớc đi đầu tiên trên con đƣờng nghệ thuật. Ngay sau đó,
tác phẩm đƣợc in báo và nhận giải thƣởng của Tự lực văn đoàn. Điều đó
chứng tỏ giá trị không nhỏ mà tác phẩm đem lại cho bạn đọc thời ấy và ngày
nay càng đƣợc khẳng định rõ hơn.
Bỉ vỏ là cuốn tiểu thuyết về cuộc đời trụy lạc của bọn ăn cắp nửa tình
cảm, nửa xã hội, làm cho ngƣời đọc phải suy ngẫm và cảm động. Qua cuộc
đời chìm nổi, éo le của Tám Bính, một cô gái thôn quê thật thà, hƣớng thiện,
giàu tình yêu thƣơng và đức hi sinh, tác giả đã phơi bày bộ mặt xấu xa, bất
công của xã hội đƣơng thời. Bính là cô gái thôn quê xinh đẹp, chấp phác
nhƣng gặp nhiều bi kịch trong cuộc đời. Vì nhẹ dạ cả tin Bính trao thân cho
tên sở khanh và sinh ra đứa con trai. Bố mẹ Bính ruồng rẫy, bán đứa con của
cô đi. Sau đó, cô lên Hải Phòng kiếm sống và gặp những biến cố khác, cô bị
13
CHƢƠNG 2
THẾ GIỚI NHÂN VẬT VÀ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT BỈ VỎ CỦA NGUYÊN HỒNG
2.1. Thế giới nhân vật
2.1.1. Khái niệm nhân vật
Đối tƣợng chung của văn học là cuộc đời, trong đó con ngƣời luôn giữ vị
trí trung tâm. Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên
nhiên, những lời bình luận… đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho
tác phẩm vật nhƣng cái quyết định chất lƣợng tác phẩm văn học chính là việc
xây dựng nhân vật. Đọc một tác phẩm văn học, đọng lại sâu sắc nhất là số
phận, tình cảm, cảm xúc, suy tƣ của những con ngƣời đƣợc nhà văn thể hiện.
Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi nói rằng: Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết
thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác.
Nhân vật văn học là thuật ngữ chỉ hình tƣợng nghệ thuật về con ngƣời,
một trong những dấu hiệu về sự tồn tại của con ngƣời trong nghệ thuật ngôn
từ. Bên cạnh con ngƣời, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, loài cây,
các sinh hể hoan đƣờng đƣợc gắn cho những đặc điểm giống với con ngƣời.
Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ƣớc lệ, không đồng
nhất với con ngƣời có thật, ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật với những
nét rất gần với nguyên mẫu có thật. Ý nghĩa của nhân vật văn học chỉ có đƣợc
trong một hệ thống tác phẩm cụ thể. Tác phẩm văn học không thể thiếu nhân
vật bởi đó là hình thức cơ bản, qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình
tƣợng và là phƣơng tiện giúp nhà văn thể hiện thái độ, lập trƣờng tƣ tƣởng
trƣớc cuộc sống và con ngƣời đồng thời thể hiện tƣ duy nghệ thuật của mình.
Các tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm: “Nhân vật văn
học là con ngƣời cụ thể đƣợc miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn
15
đề, tƣ tƣởng và đến lƣợt mình nó lại đƣợc các yếu tố có tính chất hiện thực
của tác phẩm tập trung khắc họa. Đọc tác phẩm cần phải hiểu hết nội dung đời
sống và nội dung tƣ tƣởng của tác giả gửi gắm qua nhân vật. Vì vậy, việc tìm
hiểu nhân vật là chìa khóa để đi vào tác phẩm văn học.
Nhân vật văn học có vị trí không thể thiếu trong một tác phẩm, chính vì
thế mà nó có vai trò rất quan trọng. Nhân vật có chức năng khái quát những
tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc
đời. Với tƣ cách là cơ sở tạo nên thế giới nghệ thuật, nhân vật là yếu tố đầu
tiên đƣợc xem xét đầu tiên khi muốn tìm hiểu tác phẩm văn học.Tiểu thuyết
là tác phẩm tự sự điển hình nhất, nó có những ƣu thế nổi bật. Tiểu thuyết có
thể khắc họa tỉ mỉ các phƣơng diện, khi khắc họa nhân vật không bị giới hạn
về không gian, thời gian, ngôn ngữ lại rất phong phú, nhà văn có thể miêu tả
diễn biến tâm lí tình cảm, ý thức của từng nhân vật. Tiểu thuyết khi viết về
nhân vật có thể vận dụng ngôn ngữ của nhân vật, lại có thể vận dụng ngôn
ngữ trần thuật. Có thể thay đổi không gian một cách tự do, vận dụng đầy đủ
hoàn cảnh nhân vật, tâm lí, tính cách nhân vật khiến cho nhân vật hiện rõ
trong tâm tƣởng của bạn đọc.
2.1.2. Nhân vật trong tiểu thuyết Bỉ vỏ
2.1.2.1. Nhân vật bi kịch
Nhà văn Nguyên Hồng luôn đặc biệt chú ý đến tới số phận của ngƣời
phụ nữ lao động, họ phải chịu bao bất hạnh, đau đớn, và bị khinh rẻ. Nhân vật
nữ trong các tác phẩm của Nguyên Hồng nhƣ sinh ra để gánh lấy những đau
khổ, uất ức trên đời, họ là hiện thân của tinh thần chịu nạn. Khi viết về họ,
ông không ngợi ca, mà xây dựng hình tƣợng nhân vật với nỗi oan khổ hay gặp
những cảnh đời éo le qua đó khẳng định vẻ đẹp của họ. Nhân vật Tám Bính
trong tiểu thuyết Bỉ vỏ đƣợc Nguyên Hồng xây dựng là một nhân vật tiêu biểu
trang mới với những màu sắc tối tăm, ê chề, nhục nhã, sống một kiếp ngƣời
bất hạnh nơi nhà thổ nhơ bẩn. Tại nhà thổ của mụ Tài Xế Cấu, Bính gặp Hai
17
Liên, cô giúp đỡ Tám Bính nhiều lần. Sau đó, Bính đƣợc Hai Liên giới thiệu
cho Năm Sài Gòn - một tay “anh chị” trong giới giang hồ, Năm chuộc Tám
Bính ra ngoài và cƣới cô làm vợ. Bính tƣởng chừng sẽ đƣợc sống cuộc sống
của con ngƣời bình thƣờng nhƣng số phận lại một lần nữa đùa giỡn với cô.
Khi Bính biết chồng cô là một tay anh chị khét tiếng hung dữ và đáng sợ,
đứng đầu trong phe trộm cắp. Bính nhiều lần khuyên can chồng hoàn lƣơng
nhƣng không đƣợc. Năm không thể dứt bỏ cuộc sống hiện tại, cuộc sống mà
Năm đã quen từ nhỏ, đầy mạo hiểm nhƣng thú vị, uy quyền của một vị vua
không đánh đổi bằng cuộc sống tay làm nuôi miệng đƣợc. Cuối cùng Bính
phải theo Năm, bàn tay của Bính đã “nhúng chàm”, cô đã giúp Năm lấy trộm
đồ của một ngƣời dân lƣơng thiện và trở thành một “bỉ vỏ” có tay nghề. Tuy
sống bằng nghề bất lƣơng nhƣng trong lòng Bính luôn âu lo và Bính luôn hi
vọng về một cuộc sống tốt đẹp sẽ đến với mình. Nhƣng Năm “đứng đầu hẳn
những du côn anh chị nhất” là hạng ngƣời mà “hết thảy mọi ngƣời đều xa
lánh, ghê sợ”. Bính không thể bỏ Năm, tấm lòng chan chứa yêu thƣơng của
Năm đối với Bính không ai có đƣợc. Bính sợ hãi cho tƣơng lai của mình và
những đứa con sau này. Thật không gì chua xót bằng khi con ngƣời muốn
lƣơng thiện nhƣng cuộc đời cứ xô đẩy họ vào vũng đời đen tối mà họ không
tài nào tìm đƣợc đƣờng ra.
Một lần hiểu lầm và ghen tuông, Năm đã đuổi Bính đi. Cuộc đời thật
bất công khi cứ dành mọi sự đau khổ cho Tám Bính. Giờ đây Bính chỉ còn
một thân một mình không biết đi đâu về đâu, cô quyết định trở về với cảnh
đời “tay làm hàm nhai, dù vất vả lam lũ lại sáng rực rỡ lên một cảnh khác
thƣờng”. Tƣởng chừng bất hạnh của Bính sẽ qua đi ấy mà sóng gió lại ập đến.
thật tàn nhẫn với Bính chỉ vì chút nhẹ dạ của mình để rồi cuối cùng phải trả
cái giá quá đắt. Phải chăng viết về cuộc đời Tám Bính nhà văn Nguyên Hồng
muốn phơi bày tất cả hiện thực xã hội lúc bấy giờ?
19
Miêu tả cuộc đời nhân vật Tám Bính, Nguyên Hồng đã phơi bày tất cả
những mặt trái của xã hội từ nông thôn đến thành thị đâu đâu cũng đầy rẫy
những bất công ngang trái, sự lên ngôi của đồng tiền, danh vọng, sự thối nát
trong bộ máy cƣờng quyền. Chính xã hội đã đẩy một cô gái trong trắng, lƣơng
thiện xuống tận bùn đen không thể ngóc đầu lên đƣợc. Điều này đƣợc giáo sƣ
Nguyên Đăng Mạnh khẳng định: Tác giả đã phân tích cả một chuỗi nguyên
nhân xã hội từ nông thôn đến thành thị với cơ cấu xã hội duy trì những phong
tục vô cùng nhân đạo, với những tổ chức chính trị, những công cụ bạo lực
bênh vực cho bọn có tiền, đẩy Tám Bính vào cuộc sống nhơ bẩn và cực nhục
mà cô không sao vƣợt nổi. Có thể nói, nông thôn là những vùng quê bình
lặng, ở nơi đó chúng ta thấy sự chất phác của ngƣời dân lao động. Nhƣng
cũng chính nông thôn là nơi lễ giáo phong kiến và các hủ tục lạc hậu còn đang
ngự trị. Nó là nguyên nhân phá hoại biết bao con ngƣời, đặc biệt là những
ngƣời phụ nữ. Nguyên Hồng đã cho thấy hiện thực phũ phàng này khi Bính
rung mình nhớ lại hình ảnh của chị Minh chỉ vì nhẹ dạ cả tin nên phải đèo
bồng con bị làng phạt vạ “phải quỳ giữa sân đình, nón không có, bế đứa con
mới đƣợc mƣời ngày giữa trời nắng chang chang” còn bọn Hƣơng lý, chức
dịch thì ngồi trong đình “chè chén no nê” rồi khệnh khạng phạt vạ. Bọn này
chỉ nhân cơ hội này mà “nhấm nháp cho sƣớng miệng, sống chết mặc ai”. Đại
diện cho luân lí là thế cho nên những ngƣời dân lao động đặc biệt là ngƣời
phụ nữ yếu đuối họ không thể phản kháng đƣợc. Ngay cả đến cha mẹ cũng vì
sĩ diện mà họ nhẫn tâm “ cạo trọc đầu, bôi vôi trắng hếu, úp rế lên đầu đứa
con gái tội nghiệp của mình mà rong khắp làng”. Chính luật lệ hà khắc đó là