Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Con ngời từ khi xuất hiện và tiến hoá trở thành xã hội loài ngời trải
qua biết bao thay đổi. Từ cuộc sống bầy đàn đến các thời kỳ đồ
đá, đồ đồng, đồ sắt cho đến khi con ngời phát hiện ra năng lợng
gió và nớc diễn ra với bao kỳ tích. Nhng đến thế kỷ XV - XVI và
đầu thế kỷ XVII nhân loại đã ghi nhận những thành tựu to lớn của
những con ngời tài năng và thiên tài. Đó là cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật - giai đoạn rạng rỡ thời Phục Hng sau những đêm dài trung
cổ. Tên tuổi của các nhà bác học lừng danh sáng mãi trong lịch sử
loài ngời nh: Lêônađvinxi, Pecma, Côpecnic, Galilê, Niutơn... đến
cuối thế kỷ XVIII nhiều tài năng mới lại xuất hiện và đợc ghi nhận
nh: Anhxtanh, PeriQuiri, Eđixơn, Menđen,.... cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật này có sự đóng góp rất tích cực và hiệu quả với tốc
độ rất lớn của những ngời có tài. Họ đã trở thành động lực tiên
phong thúc đẩy tốc độ phát triển của xã hội. Chính vì vậy, bất kỳ
quốc gia nào muốn có nền công nghiệp tiến bộ, muốn đất nớc
phồn vinh thì phải xác định cho mình chiến lợc "Nhân tài".
Lịch sử nớc ta, ở mọi thời kỳ phát triển đất nớc đều xuất hiện ngời tài giỏi mà không riêng chỉ ở dân tộc hay địa điểm nào. Trang
sử vẻ vang của dân tộc còn ghi dấu ấn của ngời tài đất Việt nh: Bà
Trng, Bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh,... Đặc
biệt ở những thập niên gần đây, cũng nh nhiều Quốc gia trên thế
giới, Việt Nam đã nhìn nhận và đánh giá đúng vai trò của "Nhân
tài". Đó chính là nguồn nhân lực quý báu của đất nớc, động lực
phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Điều này đã đợc ghi trong Văn
kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII: Dân trí, nhân
lực, nhân tài là ba mục tiêu phát triển chiến lợc giáo dục hay: Con
ngời là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Từ
những năm 90 vấn đề ngời tài (phát hiện và bồi dỡng) đã đợc đa
vào chơng trình nghiên cứu khoa học giáo dục tầm cỡ quốc gia và
đã đợc ghi trong Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là bớc chuyển mạnh trong chính sách "Nhân tài" của Đảng ta. Đến Nghị
phát triển từ những năm chín mơi trở lại đây nên còn rất nhiều
những yếu kém và bất cập.
Chính những lý do nêu ở trên tôi đã mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu
đề tài Những biện pháp tổ chức bồi dỡng học sinh giỏi ở trờng
THCS Mạo Khê II- Đông Triều - Quảng Ninhtrong giai đoạn mới.
Mong muốn đề tài nh một ý kiến nhỏ góp phần thiết thực trong
công tác tổ chức bồi dỡng học sinh giỏi ở các trờng THCS hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
2
Đề tài đóng góp những biện pháp có tính khả thi về công tác tổ
chức bồi dỡng học sinh giỏi ở trờng THCS Mạo Khê II .
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Nghiên cứu những cơ sở khoa học về tổ chức bồi dỡng học
sinh giỏi ở trờng THCS.
3.2. Phân tích và đánh giá thực trạng về tổ chức bồi dỡng học
sinh giỏi trờng THCS Mạo Khê II - Đông Triều- Quảng Ninh
3.3. Đề xuất một số biện pháp có tính khả thi nhằm tổ chức bồi
dỡng học sinh giỏi ở trờng THCS Mạo Khê II - Đông Triều- Quảng Ninh.
4. Khách thể và đối tợng nghiên cứu
4.1. Khách thể
Công tác chỉ đạo bồi dỡng học sinh giỏi của Phó Hiệu trởng trờng THCS Mạo Khê II- Đông Triều - Quảng Ninh
4.2. Đối tợng
Các biện pháp tổ chức bồi dỡng học sinh giỏi ở trờng THCS Mạo
Khê II -Đông Triều- Quảng Ninh
5. Phơng pháp nghiên cứu
5.1. Nhóm phơng pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu tài liệu.
B - Phần nội dung
Chơng I: Cơ sở khoa học của việc tổ chức bồi dỡng học sinh
giỏi ở trờng tHCS
1. Cơ sở lý luận
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Tổ chức là gì?
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về Tổ chức. Nhng
theo cuốn "Cơ sở khoa học quản lý" (Nhà xuất bản chính trị quốc
gia Hà Nội - 1997) đã xác định: Tổ chức là hoạt động hớng tới
hình thành cấu trúc tối u của hệ thống quản lý và phối hợp tốt nhất
giữa các hệ thống lãnh đạo và bị lãnh đạo (chấp hành).
Tuỳ theo mức độ và phạm vi quản lý, chức năng này có thể do
một cơ quan (ở Bộ do Vụ tổ chức cán bộ thực hiện), một phòngban (Phòng tổ chức cán bộ của Sở GD&ĐT), một tổ (ở Phòng GD)
hoặc một ngời thực hiện. Trong các trờng học, chức năng này do
chính Hiệu trởng đảm nhiệm.
1.1.2. Khái niệm về năng lực, năng khiếu
* Năng lực: Là những đặc điểm tâm lý cá nhân của con ngời đáp
ứng đợc yêu cầu của một loại hoạt động nhất định và là điều kiện
cần thiết để hoàn thành có kết quả tốt đẹp loại hoạt động đó.
Ngời ta phân ra ba trình độ của năng lực là:
- Năng lực (Capacity).
- Tài năng (Talent) là trình độ cao của năng lực.
- Thiên tài (Genius) là trình độ tột đỉnh của năng lực.
* Năng khiếu: Thờng đợc hiểu là mầm mống của tài năng. Nó là hệ
thống tiền đề bên trong dựa trên những t chất bẩm sinh di truyền
và những yếu tố đợc hình thành trong đời sống cá thể của con
ngời, cho con ngời khả năng giải quyết đợc một yêu cầu nhất định
nào đó. Năng khiếu đợc phát hiện sớm và bồi dỡng có hệ thống sẽ
phát triển và có thể đạt tới đỉnh cao của nó là tài năng. Hay nói
cách khác năng khiếu là tín hiệu của tài năng.
Bản và một phần ở Thụy Điển. Đặc trng bởi việc bồi dỡng đồng loạt
tất cả các học sinh mà ở đó cá nhân họ có quyền lựa chọn chơng
trình cho phù hợp với hứng thú và khả năng của mình. Con đờng
thứ hai đã và đang đợc thực hiện ở Israel, Anh, Pháp, Cộng hoà liên
bang Đức và phần lớn ở các nớc Tây Âu. Đặc trng bởi sự phân chia
khá rõ học sinh theo cấp độ đào tạo.
ở Mỹ việc xác định chuẩn đánh giá thế nào là trẻ em có năng
khiếu và tài năng. Có nhiều cách, song chung quy lại đó là những
trẻ em có thể làm đợc tất cả hơi sớm hơn, hơi nhanh hơn và thờng
6
là không giống trẻ em khác. Qua xác minh ngời ta thấy có từ 2 đến
3% học sinh hoàn toàn không có năng lực, còn lại là từ 97 đến 98%
có năng lực nào đó. Trong đó lại có từ 2 đến 3% trẻ có năng lực rất
cao đợc xếp vào loại có năng khiếu. Ngời Mỹ quan niệm rằng: Dù
thế nào đi chăng nữa, hệ thống giáo dục cũng cần chú ý trớc hết
đến việc xoá bỏ tính đồng nhất và phát triển tối đa những khả
năng của từng cá nhân. Vì vậy trong nhà trờng không cần có một
chơng trình duy nhất và yêu cầu đồng loạt về tri thức đối với học
sinh. Trẻ em có t chất và tốc độ phát triển khác nhau, vì thế mỗi trẻ
em cần có chơng trình học tập riêng của mình. Thực thi quan
điểm này ngời ta xây dựng những hệ thống chơng trình tự chọn
ở phổ thông và đại học. Tức là cho phép sử dụng các trờng phổ
thông bình thờng làm bộc lộ và phát triển toàn diện trẻ em có năng
khiếu. Quan tâm đến vấn đề này chính phủ Mỹ hàng năm dành
từ 6,5 đến 7% tổng thu nhập quốc dân chi cho giáo dục (khoảng
200 tỷ USD).
ở Israel, việc xác lập chuẩn đánh giá còn có nhiều ý kiến khác
nhau song nói chung lại đó là sự phát triển trí tuệ làm tiêu chuẩn
việt trong chính sách "Ngời tài" của nớc ta. "Ngời tài" trong nớc
không bị bỏ sót, đợc phát triển trong điều kiện tốt nhất của đất nớc. Cho nên nhiệm vụ phát hiện và bồi dỡng học sinh giỏi của các trờng, đặc biệt là trờng THCS là cần thiết và đợc coi là nhiệm vụ
song song với nhiệm vụ dạy học và giáo dục đại trà.
1.3. Cơ sở khoa học của việc phát hiện, tuyển chọn và bồi dỡng học
sinh giỏi
1.3.1. Tiêu chuẩn chung của một học sinh năng khiếu:
Tuyển chọn học sinh năng khiếu là bớc đầu tiên của quá trình
bồi dỡng tài năng. Khi nắm vững đợc tiêu chuẩn của một tài năng,
những biểu hiện của năng khiếu ta mới làm đợc công việc tuyển
chọn có hiệu quả. Qua nghiên cứu, phân tích nhiều tài năng khác
nhau trên nhiều lĩnh vực ngời ta thấy: ngoài năng lực đặc thù trên
từng lĩnh vực những ngời tài năng đều có một số nét chung giống
nhau, đợc quy vào ba tiêu chuẩn sau:
+ Thông tuệ: những ngời tài năng thờng thông minh trí tuệ
phát triển, có năng lực t duy tốt. Họ tiếp thu vấn đề nhanh, nhớ
lâu. Họ có khả năng suy diễn, quy nạp, khái quát hoá, trừu tợng
hoá, ... tốt.
+ Sáng tạo: Họ có óc t duy độc lập, có óc phê phán, không suy
nghĩ theo đờng mòn, luôn muốn đi vào bản chất tìm ra quy luật
của hiện tợng, sự kiện, có khả năng dự báo...
8
+ Có một số phẩm chất nổi bật nh: say mê, tò mò, hoạt động
có mục đích, trung thực, kiên trì vợt khó, giàu lòng vị tha và tinh
thần nhân văn, có ý chí vơn lên, vơn tới hoàn thiện... với tinh thần
chủ động.
Ba mặt thông tuệ, sáng tạo và một số phẩm chất nổi bật với
các biểu hiện cụ thể nêu trên tạo nên cấu trúc của tài năng. Ba tiêu
đoạn làm nảy sinh, bộc lộ, phát triển và xác lập năng lực. Trong giai
đoạn này, vai trò của môi trờng vi mô (gia đình, nhà trờng, xã hội)
nơi đứa trẻ sinh sống, học tập và giao tiếp hàng ngày là cực kỳ
quan trọng. Nhng ảnh hởng của bố mẹ, bạn bè và nhất là thầy cô
giáo có tính chất quyết định.
* Giai đoạn 3: từ 30 tuổi đến hết đời
Đây là giai đoạn tài năng đợc thể hiện, đợc sử dụng trong
thực tế mang lại kết quả các cống hiến cụ thể. Trong giai đoạn này
vài trò của môi trờng vĩ mô nh: đờng lối, chính sách, cơ chế, chế
độ, cách thức quản lý chỉ đạo... của nhà nớc, xu thế dân tộc và
thời đại đặc biệt có tác động và ảnh hởng tới việc phát triển sức
sáng tạo và cống hiến tài năng của mỗi ngời.
Ba giai đoạn trên đây kế tiếp, đan xen, tạo điều kiện cho
nhau phát triển. Vì vậy mỗi giai đoạn cần có chủ trơng, phơng
pháp, biện pháp tốt và tác động đúng lúc, kịp thời để năng lực
của từng cá nhân phát triển, nảy nở. Ngợc lại, nếu thực hiện không
tốt các mầm mống của năng khiếu và tài năng sẽ có nguy cơ bị thui
chột hoặc mai một đi.
2. Cơ sở pháp lý:
Trong Văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề cập
đến "Dân trí, nhân lực, nhân tài". ở các Đại hội Đảng khoá VIII và
khoá IX vấn đề "Ngời tài" càng đợc quan tâm và cụ thể hoá hơn.
Trong Luật giáo dục có nêu rõ Giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu, là sự nghiệp của nhà nớc và của toàn dân. Để phát triển
sự nghiệp giáo dục tăng cờng hiệu lực quản lý nhà nớc về giáo dục
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng nhân tài phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, đáp ứng yêu cầu xây
dựng và bảo vệ tổ quốc vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội
công bằng văn minh.
Nh vậy việc tổ chức bồi dỡng học sinh giỏi ở các nhà trờng là
huyện, trờng bán công. Dù ở nơi đã có trung tâm chất lợng cao hay
nơi cha có thì công tác bồi dỡng học sinh giỏi vẫn thờng xuyên chú
trọng từ trờng đến Phòng và Sở giáo dục. Hàng năm Sở giáo dục và
đào tạo Quảng Ninh thờng xuyên tổ chức kỳ thi học sinh giỏi THCS
cho khối lớp 9 (khối lớp 6; 7; 8 chỉ tổ chức thi Ôlimpic ở cấp huyện)
cuộc thi này thu hút đợc sự chú ý vơn lên trong công tác bồi dỡng
học sinh giỏi của các trờng. Nó còn là nguồn động viên học sinh,
phụ huynh học sinh cố gắng vơn lên tầm cao trong học tập không
phải chỉ vì thành tích, tiền thởng, ... mà nó còn là cái đích để
giáo viên và học sinh tự khẳng định mình. Trên cơ sở này tuỳ
điều kiện của mỗi địa phơng mà họ tổ chức bồi dỡng học sinh phù
hợp với khả năng của mình.
2. Đặc điểm chung của các trờng THCS:
Học sinh ở nơi này hay nơi khác có khác nhau về điều kiện
sống và học tập nhng trong các em đều chứa đựng tiềm tàng khả
năng phát triển. Thờng thì lớp học nào, trờng THCS nào cũng có học
sinh giỏi theo yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng các môn học.
Song cha phải nơi nào, trờng nào cũng có học sinh giỏi tầm cỡ quốc
gia. Điều đó cho thấy rằng, học sinh giỏi còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố nhng cơ bản nhất là công tác bồi dỡng học sinh giỏi của từng
nơi có đợc chú trọng hay không? Chú trọng nh thế nào? ...
Từ những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nớc bậc THCS ( lúc đó
gọi là cấp 2) đã tổ chức cuộc thi chọn học sinh giỏi toàn miền
Bắc. Nhiều học sinh đạt giải cao ở các môn thi Toán hoặc Văn. Sau
này dần dần việc tổ chức thi học sinh giỏi quốc gia từng môn riêng
rẽ đã biến cuộc thi từ phơng tiện để động viên học tập thành mục
đích của các lớp chuyên, trờng chuyên. Điều tai hại là học sinh ở
12
một số giải pháp mang tính chữa cháy, ngắn ngày, ăn sẵn theo
kiểu "Mì ăn liền".
3.3. Những vấn đề đặt ra trong công tác bồi dỡng học sinh giỏi
13
Trên cơ sở những tồn tại và kết quả nêu trên chúng tôi
thấy có 9 vấn đề cần đặt ra trong công tác bồi dỡng học
sinh giỏi là:
- Nâng cao nhận thức trong việc tổ chức bồi dỡng học
sinh giỏi.
- Tổ chức phát hiện, tuyển chọn học sinh giỏi.
- Tổ chức xây dựng đội ngũ giáo viên.
- Tổ chức xây dựng và bảo quản CSVC, trang thiết bị dạy
học bồi dỡng HSG.
- Tổ chức xây dựng và sử dụng tài liệu giảng dạy.
- Tổ chức dạy học cho đội tuyển học sinh giỏi.
- Tổ chức phân công lao động s phạm hợp lý.
- Huy động cộng đồng tham gia bồi dỡng học sinh giỏi.
- Tổ chức thi đua khen thởng về việc bồi dỡng học sinh
giỏi.
14
Chơng III: Những biện pháp tổ chức bồi dỡng học sinh giỏi ở
trờng tHCS Mạo Khê II - Đông Triều- Quảng Ninh
trong giai đoạn mới
Có thể nói kết quả học sinh giỏi là tinh hoa có đợc từ nhiều giải
pháp phát triển toàn diện nhà trờng. Việc tổ chức bồi dỡng học sinh
ra chiến lợc đào tạo nhân tài để góp phần đẩy mạnh sự phát triển
kinh tế xã hội ở mỗi nớc.
Đối với dân tộc Việt Nam ngay từ thời kỳ phong kiến đã rất coi
trọng "Ngời tài" và đến nay đã trở thành "Quốc sách hàng đầu".
Đối với trờng THCS Mạo Khê II, việc cần làm ngay là phải tổ chức
đợc các hội nghị chuyên đề bàn về vấn đề học sinh giỏi, có nhiều
hình thức tuyên truyền vận động ngay từ trong đội ngũ giáo viên
đến cha mẹ học sinh và toàn xã hội. BGH (đặc biệt Hiệu trởng)
phải là những ngời có đủ cả "tâm" và " tầm" để có sức thuyết
phục cao, khi t tởng thông thoáng sẽ khơi thông các con đờng đi
đến thành công.
2. Tổ chức phát hiện, tuyển chọn học sinh giỏi
Xuất phát từ thực tế không phải mọi học sinh có xếp loại học lực
giỏi đều là học sinh có năng khiếu cần bồi dỡng và ngợc lại những
học sinh có năng khiếu cha hẳn đã là học sinh có xếp loại học lực
giỏi. Cho nên làm thế nào để phát hiện đợc học sinh có năng khiếu
từ đó tuyển chọn và tiến hành bồi dỡng học sinh giỏi cho từng khối
lớp là công việc quan trọng. Phát hiện đúng giúp tuyển chọn dễ
dàng và nó còn mang một ý nghĩa định hớng phát triển đúng
đắn cho một nhân cách. Vì thế việc phát hiện và tuyển chọn đợc
học sinh nằng khiếu là bớc bản lề, là xuất phát điểm của việc bồi
dỡng học sinh giỏi. Đồng thời nó mang ý nghĩa giáo dục to lớn. Định
hớng sai khả năng phát triển của học sinh gây nên sự khiên cỡng, gò
bó rất có hại cho một nhân cách đang hình thành và phát triển.
Đây cũng là cái khó trong phát hiện và tuyển chọn học sinh năng
khiếu. Thờng bộc lộ sớm và sớm khẳng định mình là những năng
khiếu thuộc các lĩnh vực nghệ thuật, thể dục thể thao, các lĩnh
vực gắn liền với đời sống cảm xúc, với sự tinh tế của các giác quan
và sự mềm dẻo, uyển chuyển của cơ thể. Cho nên trong lĩnh vực
các môn khoa học năng khiếu bộc lộ muộn hơn vì nó đòi hỏi các
tốt, nề nếp, hàng năm số lợng HSG các cấp của trờng này thờng vào
"top ten" trong huyện, tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc tiếp tục
bồi dỡng HSG các bậc học trên. Việc tổ chức thi HSG cấp trờng cần
phải tổ chức thờng xuyên, liên tục để phát hiện, tuyển chọn HSG,
tuy nhiên không nhất thiết phải tổ chức cầu kỳ, tốn kém
3. Tổ chức xây dựng đội ngũ giáo viên
Cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng đã từng nói: Muốn có trò giỏi trớc
hết phải có thầy giỏi. Điều này cho thấy vai trò lớn lao của đội ngũ
giáo viên trong công tác bồi dỡng học sinh giỏi. Càng có ý nghĩa hơn
khi ngời giáo viên với vai trò dẫn dắt mẫu mực cho lứa tuổi đang
hình thành kỹ năng, kỹ xảo, thói quen và tình cảm của nhân
cách. Thực tế sinh động đã chứng minh, nơi nào có thầy giỏi, có
phong trào học sinh giỏi thì nơi đó có kết quả cao về học sinh
17
giỏi. Đội ngũ giáo viên là lực lợng trực tiếp bồi dỡng học sinh giỏi. Trên
cơ sở dạy toàn diện các môn học, đi sâu và nâng lên một bớc về
kiến thức kỹ năng cho những học sinh năng khiếu mà đội ngũ giáo
viên sẽ quyết định vấn đề có hay không có, cao hay thấp về chất
lợng học sinh giỏi của nhà trờng. Cho nên đòi hỏi ở đội ngũ giáo viên
có đủ cả trình độ chuyên môn, năng lực s phạm và kiến thức kinh
nghiệm thực tiễn. Xác định đợc các nội dung này việc tổ chức bồi
dỡng đội ngũ giáo viên cần đợc tiến hành thờng xuyên với nhiều
hình thức phù hợp. Một mặt liên tục nâng cao toàn diện cho đội
ngũ giáo viên để nhanh chóng bắt kịp với sự lớn mạnh, tiên tiến của
khoa học giáo dục. Một mặt đi sâu vào những mặt còn hạn chế
của từng giáo viên giúp họ tiến bộ, hoàn hảo hơn. Có thể chia ra các
mảng cần bồi dỡng cho đội ngũ giáo viên nh sau:
3.1. Bồi dỡng trình độ chuyên môn
học
59
0
16
42
1
62
0
20
42
0
18
Trung học
2008
2008 63
1
đề có hiệu quả theo đúng nghĩa của nó, đây là việc làm cần
thiết của đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn nhà trờng.
+ Hình thức dự giờ thăm lớp: là hoạt động thờng xuyên của ngời
giáo viên để tự nâng cao chất lợng giờ dạy của mình nhờ học hỏi
trực tiếp đồng nghiệp. Ngoài số lợng giờ dự bắt buộc, cần động
19
viên để những giáo viên tay nghề còn yếu tăng cờng công tác dự
giờ hơn các giáo viên khác. Dự giờ thăm lớp còn đợc thể hiện ở việc
cán bộ chuyên môn thờng xuyên dự giờ, đánh giá và rút kinh
nghiệm cho giáo viên trong trờng, giúp giáo viên thấy đợc cái gì cha
ổn về kiến thức và phơng pháp của mình để dần tiến bộ.
+ Hình thức câu lạc bộ ứng xử s phạm: là hình thức hấp dẫn
cuốn hút đợc sự tham gia của nhiều giáo viên. Qua các buổi sinh
hoạt học hỏi đợc cách đối xử với học sinh, xử lý các tình huống s
phạm. Cũng từ câu lạc bộ này giáo viên đợc trao đổi về cách dạy,
cách giải nhiều loại bài... Hình thức này nên tổ chức định kỳ mỗi
tháng 1 lần để tổng hợp những vấn đề gay cấn của tháng học sau
hoặc tổng kết những vấn đề đã xảy ra ở tháng học trớc. Nó sẽ
giúp giáo viên có thêm kinh nghiệm về năng lực s phạm cho mình.
Thực tế cho thấy, một trờng bạn (THCS Nguyễn Đức cảnh) đã làm
rất tốt vấn đề này nên chất lợng đội ngũ đợc cải thiện đáng kể
+ Hình thức chuyên gia: là cách thức mời các chuyên gia đầu
ngành, chuyên gia có từ lực lợng phụ huynh học sinh, là các giáo viên
có nhiều thành tích của trờng hoặc của đơn vị bạn để phổ biến,
nói chuyện với giáo viên trong trờng. Cách làm này nhằm nắm bắt
nhanh nhất những thông tin mới cho từng năm học hay những kinh
nghiệm đợc đúc rút ra trong giảng dạy giúp giáo viên học hỏi tự
trang bị cho mình.
hội họp, hội thảo,... của nhà quản lý trờng học. Đòi hỏi ở nhà quản lý
phải thờng xuyên cập nhật các tin tức thời sự đặc biệt thời sự về
khoa học giáo dục. Hơn nữa mỗi giáo viên cần có sổ tay chi chép
các thông tin, giải các bài toán, bài tiếng Việt khó bậc THCS. Việc
làm này giúp kiến thức của giáo viên thờng xuyên đợc hâm nóng,
đợc bổ trợ là chỗ dựa vững chắc cho sự ham hiểu biết của học
sinh. Kiến thức khoa học luôn đợc đi kèm với kiến thức thực tiễn là
cửa ngõ giúp học sinh thực hiện đợc nguyên lý của việc học. Kiến
thức thực tế giúp bài viết, bài làm của học sinh thêm sinh động, tự
nhiên, dễ thuyết phục trớc ngời khác.
Kinh nghiệm thực tế đợc thể hiện ở kinh nghiệm dạy bồi dỡng,
kinh nghiệm ôn tập bài cho học sinh giỏi qua từng năm học, từng
giai đoạn. Những kinh nghiệm này thờng do giáo viên tự mày mò
đúc rút. Song nếu đợc tổ chức thảo luận giữa những giáo viên giỏi
để đi đến cách sắp xếp chơng trình, chia tách khối lợng kiến
thức theo chiều ngang hay bổ dọc... là những kinh nghiệm bổ ích
cho mỗi giáo viên. Ngoài vấn đề về chơng trình thì kinh nghiệm
thực tế còn thể hiện ở việc nắm bắt về thời gian các kỳ thi, mức
độ đề thi qua các năm để giáo viên có trọng tâm giảng dạy.
21
Tuy nhiên, với THCS Mạo Khê II công tác này cần phải tăng cờng
và thờng xuyên hơn bởi thực tế đội ngũ giáo viên hiện có thiếu
những giáo viên "gạo cội"; "cây đa-cây đề"; giáo viên dạy giỏi cấp
tỉnh trở lên. Công tác bồi dỡng giáo viên còn hạn chế bởi kinh
nghiệm và năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn
thực sự còn yếu, mới chỉ đảm bảo cho việc "dàn quân theo hàng
ngang" để hoàn thành nhiệm vụ.
ra kế hoạch dạy bồi dỡng cho mình phù hợp. Căn cứ vào chơng trình
chung, giáo viên đề ra kế hoạch cụ thể cho mình, duyệt qua Hiệu
trởng. Sau khi đã thống nhất ngời quản lý lấy đó mà kiểm tra đôn
đốc giáo viên.
- Xây dựng tủ sách chung và tủ sách cá nhân phục vụ bồi dỡng
học sinh giỏi. Nhà trờng có lợng sách lu trữ, tài liệu giảng dạy bồi dỡng học sinh giỏi. Tủ sách này thờng xuyên đợc bổ xung mỗi khi
xuất hiện những đầu sách hay trên thị trờng. Với giáo viên dạy bồi
dỡng cần có thêm tủ sách riêng cho mình, ngoài những loại sách
dùng chung họ còn phải tìm tòi, su tầm các loại sách quý phục vụ
cho việc dạy bồi dỡng thông qua mạng internet. Song dù là tủ sách
chung hay tủ sách cá nhân thì việc sử dụng những loại sách của
nhà xuất bản nào cho có hiệu quả là điều ta cũng đáng quan
tâm. Thờng thì các loại sách của Nhà xuất bản giáo dục, Nhà xuất
bản Hà Nội có độ tin cậy lớn hơn về kiến thức cũng nh phơng pháp
nêu trong tài liệu.
- Sau khi đã có đợc tài liệu thì việc tổ chức sử dụng tài liệu
cũng rất bổ ích. Với giáo viên phải hiểu và giải đợc các bài tập trong
tài liệu, hơn nữa họ phải biết sắp xếp các bài tập theo từng dạng
phù hợp với tiến độ của chơng trình đại trà.
6. Tổ chức dạy học cho đội tuyển học sinh giỏi
Để việc tổ chức dạy học cho đội tuyển học sinh giỏi có hiệu
quả cao trớc hết ngời giáo viên trực tiếp dạy phải tạo đợc hứng thú
học tập cho học sinh. Muốn vậy giáo viên cần hiểu đợc tâm lý của
ngời học nói chung và của học sinh THCS nói riêng. Đây cũng chính
là nghệ thuật s phạm trong dạy học, giáo viên nên kết hợp nhiều
hình thức dạy học (ở lớp, ở nhà, cả lớp, nhóm, cá nhân...). Có thể tổ
chức các câu lạc bộ toán học hoặc các trò chơi trong dạy học vừa
phát triển trí thông minh cho học sinh đồng thời tạo tâm lý thoải
Đây cũng là công việc quan trọng trong công tác tổ chức của
ngời quản lý. Sắp xếp giáo viên nào vào vị trí nào để họ lao động
với năng xuất, hiệu quả cao nhất? Đòi hỏi ngời quản lý phải có căn cứ
chính xác. Việc phối hợp các căn cứ để bố trí giáo viên vào đúng vị
trí của họ có thể nói là phép dùng ngời mà ngời Hiệu trởng cần
tính đến trớc mỗi năm học. Dựa vào năng lực của từng giáo viên trờng mình mà bố trí vào từng khối lớp, môn học có thể coi là lựa
chọn vòng 1. ở vòng thứ hai là việc sắp xếp giáo viên dạy tốt nhất
trong tổ, khối dạy bồi dỡng học sinh giỏi. Trong thực tế dạy bồi dỡng
học sinh giỏi cần có chiến lợc lâu dài, chắt chiu từ nhiều năm mới
có đợc. Cho nên trong sắp xếp lao động s phạm có hai cách sắp
xếp nh sau:
7.1. Phân công chuyên
24
Giáo viên dạy ổn định nhiều năm ở một khối lớp sẽ giúp họ
chuyên sâu về kiến thức các môn khối lớp đó. Nhng không phải mãi
mãi giáo viên có thể ổn định dạy ở một khối lớp, họ có nhiều lý do
nh: thuyên chuyển, nghỉ ốm, nghỉ thai sản,... do đó ta còn có cách
phân công thứ hai.
7.2. Phân công luân phiên
Là cách phân công hỗ trợ cho cách phân công chuyên. Nếu nh ở
cách phân công chuyên giúp giáo viên có điều kiện đi sâu và
nắm chắc kiến thức ở một khối lớp thì phân công luân phiên giúp
giáo viên có đợc cái nhìn tổng thể xuyên suốt chơng trình của bậc
THCS. Giúp giáo viên có điều kiện nắm đợc mức độ yêu cầu về
kiến thức của từng khối lớp. Đây là cơ sở của việc dạy học tránh quá
tải và đổi mới phơng pháp dạy học. Khi giáo viên nắm đợc kiến
thức nào học sinh đã học, kiến thức nào sẽ học sau đó thì họ sẽ