VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG TIẾN DŨNG
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐỊNH HƢỚNG THEO
CHUỖI TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG TIẾN DŨNG
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐỊNH HƢỚNG THEO
CHUỖI TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh
tế Mã số:60 34 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA
HỌC: TS. LÊ ANH VŨ
Hà Nội, 2017
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP ĐỊNH HƢỚNG THEO CHUỖI ........................................................ 9
1.1. Khái niệm và sự cần thiết phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi
9
1.2.
Nội
dung
phát
triển
nông
nghiệp
định
hƣớng
theo
chuỗi ........................ 14 1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến phát triển nông nghiệp
định hƣớng theo chuỗi . 20 1.4. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp định
hƣớng
theo
hƣớng
theo
chuỗi
tại
huyện
Ba
Vì .......................................................... 30 2.2. Thực trạng phát triển nông
nghiệp định hƣớng theo chuỗi huyện Ba Vì 38 2.3. Đánh giá thực
trạng .................................................................................. 56
Chƣơng
3:
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP
ĐỊNH
HƢỚNG
THEO
CHUỖI
Biểu 2.1. Sự thay đổi về tăng trƣởng kinh tế huyện giai đoạn 2012 – 2016
.. 33 Bảng 2.1. Vùng chuyên canh tập trung theo chuỗi huyện Ba
Vì.................... 43 Bảng 2.2. Số lƣợng các trang trại nông nghiệp trên địa
bàn
huyện
Ba
Vì
giai
đoạn
2012
–
2016 ............................................................................................ 45 Bảng 2.3.
Mức độ thực hiện các nội dung phát triển thị trƣờng tiêu thụ cho các sản
phẩm nông sản theo chuỗi trên địa bàn huyện Ba Vì......................... 53 Bảng
2.4. Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến phát triển nông nghiệp định
hƣớng
theo
chuỗi
trên
hƣớng phát triển nông nghiệp mới nhằm nâng cao chất lƣợng sản phẩm và
năng suất nông nghiệp từ đó tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp.
Để đáp ứng đƣợc yêu cầu đặt ra thì phát triển nông nghiệp định hƣớng theo
chuỗi là phù hợp và cần thiết.
Ba Vì là một huyện có địa bàn rộng với tổng diện tích tự nhiên là
42.402 ha, dân số trên 270 ngàn ngƣời, cách trung tâm Thành phố Hà Nội
khoảng 60 km. Sau khi tỉnh Hà Tây sáp nhập về Hà Nội (tháng 8/2008), Ba
Vì là huyện miền núi của Thủ đô Hà Nội. Trong tƣơng lai xu thế phát triển
của Hà Nội trở thành thành phố thông minh, hiện đại và đặc biệt là thành phố
một trung tâm cung cấp thực phẩm xanh, sạch cho thị trƣờng nội thành.
Chính vì vậy, hiện nay Ba Vì đang xây dựng và phát triển khá nhiều mô
hình sản
1
xuất nông nghiệp xanh, nhƣng còn nhiều khó khăn, hạn chế và thách thức rất
lớn. Đó là đất sản xuất nông nghiệp manh mún, đất đai phân tán, chia cắt
thành nhiều khu vực; ngành trồng trọt còn chiếm tỷ lệ khá cao trong đó chủ
yếu là cây lƣơng thực. Các loại nông sản hàng hóa nhƣ: lúa gạo, ngô,
khoai, rau, cây ăn quả, thịt lợn, thịt bò, chƣa có giá trịcao, chƣa trở thành
đặc sản quý hiếm. Trong khí đó, huyện chƣa tìm đƣợc chiến lƣợc đầu tƣ
đồng bộ, gắn chặt chẽ các khâu sản xuất, chế biến và thị trƣờng tiêu thụ sản
phẩm, nên sản xuất thiếu tính ổn định, bị động và hiệu quả kinh tế hạn chế.
Những lúng túng và chƣa hình thành rõ nét trong việc tạo ra các vùng
sản xuất hàng hóa tập chung theo cơ chế thị trƣờng đã hạn chế và chƣa phát
huy hết các tiềm năng, và lợi thế so sánh của huyện, do vậy thu nhập ngƣời
lao động còn thấp, đa số các hộ dân chƣa có tích lũy để tái đầu tƣ.
Từ những hạn chế nêu trên dẫn đến sức cạnh tranh của các sản phẩm từ
có một số nghiên cứu sâu sắc hơn về quan điểm phát triển nông nghiệp trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Trong cuốn “Thương mại hóa nông
nghiệp, chuỗi giá trị và giảm nghèo” (2004) [12], do Ngân hàng phát triển
Châu Á phát hành, cho rằng những nƣớc đang phát triển sau khi đạt đƣợc an
ninh lƣơng thực quốc gia thì cần chuyển đổi nền nông nghiệp từ chỗ dựa vào
sản xuất lƣơng thực là chính sang một nền nông nghiệp có khả năng đáp ứng
nhu cầu của chuỗi thực phẩm toàn cầu trong khi vẫn đảm bảo an ninh lƣơng
thực quốc gia, tạo thêm thu nhập cho ngƣời nông dân và chuyển dần nền kinh
tế sang hoạt động phi nông nghiệp.
Trong tác phẩm “Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát
triển nông nghiệp Việt Nam” (2008) [16] do TS. Nguyễn Từ chủ biên, cho
rằng nông nghiệp phải tận dụng những cơ hội thị trƣờng từ hội nhập kinh tế
quốc tế, đây là cơ hội để nông nghiệp phát triển theo hƣớng lấy thị trƣờng
toàn cầu làm căn cứ để phát triển.
Một trong những nghiên cứu mới nhất về phát triển nông nghiệp của
các tỉnh miền Trung, luận án tiến sĩ “Phát triển bền vững nông nghiệp tỉnh
3
KonTum” (2007) của Hà Ban cho rằng “nông nghiệp và nông thôn bền vững
là một nhân tố của phát triển bền vững” [1], và sự bền vững ở đây theo khái
niệm kinh tế chỉ mối quan hệ ổn định và cân đối giữa sản xuất nông nghiệp
và tiêu dùng.
Theo Sykuta và Parcell (2003), sản xuất theo hợp đồng trong
nông nghiệp đƣa ra những luật lệ cho việc giao dịch nông sản qua việc phân
bổ thật rõ ba yếu tố chính: lợi ích, rủi ro, và quyền quyết định. Thực hiện
nông nghiệp hợp đồng là hệ giải pháp dựa trên bằng chứng thực tiễn là nông
dân thiệt thòi trong quan hệ với doanh nghiệp chế biến và doanh nghiệp thu
mua. Hệ giải pháp thực hiện nông nghiệp hợp đồng mang tính đồng thuận
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực
trạng phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi, đề xuất đƣợc giải pháp
thúc đẩy phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi ở huyện Ba Vì.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa lý luận liên quan đến phát triển nông nghiệp định hƣớng
theo chuỗi
- Phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi
ởhuyện Ba Vì; qua đó đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên
nhânhạn chế trong phát triển nông nghiệp ở huyện Ba Vì theo chuỗi.
- Đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp định hƣớng theo
chuỗi ở huyện Ba Vì trong thời gian tới
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi tại huyện Ba
Vì thành phố Hà Nội
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nông nghiệp là một ngành có phạm vi rất rộng, gồm
nhiều ngành sản xuất các sản phẩm khác nhau tạo nên sự đa dạng của nông
5
nghiệp nhiệt đới.Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, tác giả tập trung
nghiên cứu các vấn đề phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi
của ngành trồng trọt và chăn nuôi. Chuỗi trong nghiên cứu này hiểu là chuỗi
sản phẩm
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Ba Vì, Hà Nội.
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp định hƣớng
theo chuỗi tại huyện Ba Vì thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016, đề xuất
giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi tại huyện Ba
diện cho vùng nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi
trƣờng, văn hóa.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
Để thu thập các dữ liệu phục vụ nghiên cứu, đề tài thiết kế mẫu phiếu
khảo sát (Phụ lục 1) hƣớng tới các đối tƣợng:
+ Cán bộ phụ trách nông nghiệp các xã, thị trấn và huyện Ba Vì: 20
phiếu.
+ Hộ nông dân: điều tra bằng bảng hỏi với 170 hộ trồng trọt, chăn nuôi
ở 5 xã Vạn Thắng, Phong Vân, Cổ Đô, Chu Minh, Tiên Phong.
+ Cán bộ khoa học nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì:10 phiếu (kỹ
sƣ của xí nghiệp giống cây trồng trung ƣơng tại Ba Vì).
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Đề tài phỏng vấn trực tiếp 10 ngƣời: 02 chủ doanh nghiệp; 02 kỹ sƣ; 02
cán bộ quản lý huyện Ba Vì và 04 hộ nông dân tham gia sản xuất theo chuỗi.
Mẫu phiếu phỏng vấn (Phụ lục 2).
- Kết quả khảo sát: Tổng số phiếu khảo sát hợp lệ là 186/200 (Chiếm
93%)
5.2.3. Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp xử lý số liệu: Luận văn sử dụng phần mềm Excel để xử
lý số liệu.
7
- Phương pháp thống kê so sánh : Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng chủ
yếu để mô tả, phân tích và so sánh kết quả thực hiện liên kết giữa các chủ thể
thông qua các chỉ tiêu định tính (các hình thức liên kết, trách nhiệm và lợi ích
của các bên...) và định lƣợng (thời gian tham gia liên kết, tỷ lệ tham gia liên
kết...).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tƣ liệu và
nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lƣơng thực thực phẩm và một số
nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao
gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa
rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản”
Phát triển nông nghiệp hiện nay của Việt Nam, luận văn cho rằng xã
hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi
làm tƣ liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lƣơng thực thực phẩm
và một số nguyên liệu sản xuất manh mún, nhỏ lẻ sang nền nông nghiệp có
quy mô sản xuất rộng lớn; hàng hóa nông nghiệp đƣợc nâng cao cả về chất và
số lƣợng đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng mang lại hiệu quả về kinh tế và
xã hội.
Chuỗi sản phẩm nông nghiệp
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi sản phẩm
nói chung, chuỗi nông sản nói riêng theo nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau và
có nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo Filière (2005), khái niệm chuỗi sản phẩm đƣợc nhận thức chủ yếu
bằng kinh nghiệm thực tế và đƣợc sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động
của hàng hóa và xác định những ngƣời tham gia vào các hoạt động.
9
Theo GTZ Eschborn (2007), chuỗi sản phẩm là một loạt các hoạt động
kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các giá trị
đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó; đến sơ chế, chuyển đổi, marketing,
cuối cùng là bán sản phẩm đó cho ngƣời tiêu dùng, hay chuỗi sản phẩm là
một loạt quá trình mà các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức
năng chủ yếu của mình để sản xuất, chế biến và phân phối một sản phẩm cụ
thể nào đó. Các doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một loạt các giao dịch
Nhƣ vậy, liên kết chuỗi nông sản bao gồm tất cả các khâu từ cung cấp
đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ sản phẩm đến tay ngƣời tiêu
dùng; các chủ thể trong chuỗi nông sản không chỉ bao gồm nhà cung cấp đầu
vào, nhà sản xuất, nhà chế biến, mà còn liên quan đến hoạt động thƣơng mại,
kinh doanh, bán hàng và ngƣời tiêu dùng.
Phát triển nông nghiệp định hướng theo chuỗi
Hiện nay chƣa có một định nghĩa chính thức nào đƣợc đƣa ra về khái
niệm phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi tuy nhiên từ khái niệm
phát triển nông nghiệp và khái niệm về chuỗi sản phẩm nông nghiệp; tác giả
mạnh dạn đƣa ra khái niệm về phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi
(Trong luận văn này chuỗi đƣợc hiểu là chuỗi sản phẩm nông nghiệp) nhƣ
sau: Phát triển nông nghiệp theo chuỗi là Phát triển nông nghiệp trên cơ sở
liên kết chuỗi nông sản bao gồm tất cả các khâu từ cung cấp đầu vào, sản
xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ sản phẩm đến tay người tiêu dùng với công
nghệ phù hợp, có hiệu quả về kinh tế, không tổn hại đến môi trường và được
xã hội chấp nhận nhằm đảm bảo duy trì và thỏa mãn nhu cầu của con người
cả thế hệ hiện tại và tương lai”.
1.1.2. Sự cần thiết của phát triển nông nghiệp định hướng theo chuỗi
Thứ nhất, hiện nay, sản xuất và kinh doanh hàng nông sản của nƣớc ta
còn manh mún, nhỏ lẻ, tự phát, sự liên kết giữa sản xuất - kinh doanh - chế
11
biến - tiêu thụ còn lỏng lẻo từ đó sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản thấp,
giá thành cao. Bên cạnh đó nông nghiệp hiện nay dƣới tác động của kinh tế
thị trƣờng, ngƣời dân đã biết kết hợp giữa kinh nghiệm truyền thống với
khoa học kỹ thuật hiện đại trong canh tác, tạo nên sự đa dạng về chủng
loại, gia tăng sản lƣợng và giá trị kinh tế. Thế nhƣng, một thực tế là, càng
tăng sản lƣợng nông sản, ngƣời dân lại càng lo tình trạng “đƣợc mùa rớt
Để phát triển nông nghiệp theo định hƣớng chuỗi thì các chủ thể đóng
vai trò hết sức quan trọng. Các chủ thể chính tham gia vào sản xuất nông
nghiệp theo chuỗi giá trị là: Nhà nƣớc, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và
nhà nông tham gia vào chuỗi giá trị nông nghiệp.
Nhà nước là nhạc trƣởng để tạo ra một hành lang pháp lý phù hợp, đảm
bảo cho sự liên kết 3 nhà còn lại chặt chẽ và hiệu quả. Cần có những cơ chế
hợp lý trong việc giải quyết tranh chấp trong liên kết giữa các nhà, đặc biệt là
hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữa nhà doanh nghiệp và nhà nông.
Cần có một chế tài phù hợp để hỗ trợ giải quyết tranh chấp hợp đồng thu mua
giữa doanh nghiệp và ngƣời sản xuất. Đối với những trƣờng hợp thiệt hại do
các nguyên nhân bất khả kháng, cần có chính sách cụ thể để hỗ trợ thiệt hại
cho các bên tham gia liên kết.
Nhà khoa học có vai trò quan trọng trong việc tạo “đầu vào” có chất
lƣợng cao, giảm giá thành nhờ công nghệ… nhƣng hiện nay việc liên kết
với các “nhà” còn lại còn lúng túng và hiệu quả chƣa cao. Nhất là việc liên
kết với ngƣời nông dân để “xã hội hóa” các công nghệ hiệu quả.
Đối với doanh nghiệp, là “đầu tàu”, là động cơ của mối liên kết. Doanh
nghiệp giữ vai trò quan trọng liên kết 3 nhà còn lại để hình thành vùng
nguyên liệu sản xuất; hỗ trợ đầu vào và thu mua sản phẩm cho nông dân; từng
bƣớc tiến tới xây dựng thƣơng hiệu sản phẩm nông sản. Tuy nhiên, hiện nay
các doanh nghiệp đang còn ngần ngại đầu tƣ cho sản xuất, kinh doanh nông
-lâm - ngƣ nghiệp do vốn đầu tƣ lớn nhƣng lại rủi ro cao và thu hồi chậm.
13
Đối với nông dân,đây là bộ phân tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuát nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi, họ sẽ thực thi những chính sách của
Nhà nƣớc, áp dụng khoa học công nghệ và bán sản phẩm cho các doanh
nghiệp. Đồng thời một bộ phận nông dân còn hạn chế trong nhận thức về
việc liên kết giữa các doanh nghiệp, liên kết giữa các khâu trong chuỗi sản
phẩm từ sản xuẩ, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm tạo ra sức mạnh tập thể, hỗ
trợ lẫn nhau đôi bên cùng có lợi. Từ đó tạo ra sản phẩm có chất lƣợng cao,
giá thành thấp nâng cao tính cạnh tranh trên thị trƣờng.
Phát triển chuyên môn hóa và tập trung hóa sản xuất nông nghiệp.
Chuyên môn hóa sản xuất là quá trình tập trung các yếu tố sản xuất của một
đơn vị để sản xuất một hay một số sản phẩm hàng hóa phù hợp điều kiện sinh
thái vùng, nguồn lực có sẵn và với nhu cầu của thị trƣờng. Chuyên môn hóa
sản xuất nông nghiệp tất yếu dẫn đến tập chung hóa. Tập trung hóa sản xuất
nông nghiệp là việc tập trung các yếu tố sản xuất của đơn vị sản xuất để sản
xuất ra sản phẩm hàng hóa, làm cho quy mô của đơn vị sản xuất nông nghiệp
ngày càng phát triển không chỉ tăng qui mô về đất đai mà cả việc tập trung
các nguồn lực khác trên một đơn vị sản xuất hàng hóa. Trong điều kiện Việt
Nam, chuyên môn hóa và tập trung hóa phải thỏa mãn điều kiện: nắm bắt các
điều kiện tự nhiên của vùng để lựa chọn các cây trồng, vật nuôi có lợi thế; xây
dựng vùng chuyên canh phải xuất phát từ nhu cầu của thị trƣờng; phát triển hạ
tầng nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo điều kiện cho lƣu thông nông sản,
hạ chi phí sản xuất và giao dịch; phát triển hệ thống công nghiệp và dịch vụ
liên kết với nông nghiệp.
1.2.2. Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng tham gia vào chuỗi
Tổ chức sản xuất trong nông nghiệp là việc phối hợp các nguồn lực,
điều kiện của sản xuất nông nghiệp thông qua việc thiết lập các hình thức
kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của sản xuất nông
nghiệp. Phát triển có tổ chức sản xuất nông nghiệp, chính là phát triển các
15
hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với qui mô và trình độ sản xuất nông
nghiệp nhằm không chỉ tạo ra sản lƣợng cao mag còn đem lại giá trị kinh tế