Nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2015 2020 - Pdf 45

1

1
1

A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề án
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi
nhận. Quyền khiếu nại, tố cáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các
quyền công dân, quyền con người. Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là thực
hiện quyền dân chủ trực tiếp. Một mặt, quyền khiếu nại, tố cáo là quyền tự vệ,
phản kháng hợp pháp trước các hành vi vi phạm pháp luật; mặt khác, thông
qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo công dân tham gia vào quá trình
kiểm tra, giám sát xã hội; kiểm tra, giám sát nhà nước. Như vậy, bằng việc
phản hồi thông tin trực tiếp cho các chủ thể quản lý, thực hiện quyền khiếu
nại, tố cáo còn là sự tham gia của công dân vào quản lý nhà nước, quản lý xã
hội. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đóng góp vai trò to lớn
trong việc mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, góp phần tích cực vào việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và
kỷ luật nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân là một trong những biện pháp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của nhân dân, bảo vệ lợi ích Nhà nước, phát hiện và khắc phục những sai lầm
thiếu sót trong hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời củng cố mối quan hệ
và giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác tiếp dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo; trong những năm qua cấp ủy và chính quyền địa
phương huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã tích cực triển khai quán triệt các
chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác giải
quyết khiếu nại tố cáo, tăng cường ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai,
thực hiện các nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền nhằm nâng cao
hơn nữa chất lượng công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo ở địa

giải quyết khiếu nại tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, tôi xây
dựng Đề án: “Nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải
quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn
2015 - 20120”, nhằm đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác
tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện
giai đoạn 2015 - 2020.
2


3

3
3

2. Giới hạn của đề án
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề án tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về
tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo và tình hình, kết
quả hoạt động Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn trong tổ
chức thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại,
tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
2.2. Không gian nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư
và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Thu thập số liệu, phân tích, đánh giá thực trạng công tác tiếp công dân,
giải quyết khiếu nại, tố cáo của huyện Bắc Sơn từ năm 2010 đến tháng 5 năm
2015 nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân,
giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện giai đoạn 2015 - 2020.
3. Mục tiêu của đề án

chức và công dân, hạn chế việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài.
- Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức tiếp công dân
và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo. Nâng cao vai trò trách nhiệm của cả hệ
thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ giám sát, tuyên truyền các chính
sách pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đề xuất, kiến
nghị người có thẩm quyền giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo đúng quy định của
pháp luật.
- Nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của công dân về
pháp luật tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo, giúp người dân nắm được quyền và
nghĩa vụ của mình khi thực hiện việc khiếu nại, tố cáo.

4


5

5
5

B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
1. Cơ sở xây dựng đề án
1.1. Cơ sở khoa học
Khiếu nại, tố cáo là sản phẩm cuộc đấu tranh của nhân loại được hình
thành và phát triển bởi nguồn gốc bất bình đẳng về quyền lợi kinh tế, chính
trị. Nó thể hiện bằng hình thức trong lịch sử, như đánh trống kêu oan, đến
công đường kêu kiện hoặc viết đơn gửi hệ thống chính quyền các cấp để giải
bày oan ức mong được giúp đỡ. Tuy chủ thể khiếu nại, tố cáo là cá nhân hay
tổ chức hoặc một bộ phận cộng đồng thì khiếu nại, tố cáo vẫn là sự đòi hỏi
quyền lợi thiết thực về sự công bằng của giai cấp bị trị đối với giai cấp thống
trị, do đó bản chất nó bao giờ cũng mang tính giai cấp và tồn tại khách quan

cáo của nhân dân. Trong bài nói chuyện với cán bộ Thanh tra tại Hội nghị
Thanh tra toàn miền Bắc ngày 5/3/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:
“Đồng bào có oan ức mới khiếu nại, tố cáo, hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách
của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại, tố cáo. Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì
đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ,
do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được củng cố
tốt hơn”. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giải quyết khiếu nại, tố cáo của
dân chính là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố mối quan hệ
giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, củng cố lòng tin của nhân dân vào
Đảng và Nhà nước. Trong trường hợp các khiếu nại, tố cáo được các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết kịp thời và thỏa đáng thì những
người dân đi khiếu nại, tố cáo và thậm chí cả những người sống xung quanh
họ sẽ cảm thấy Nhà nước đã tôn trọng, lắng nghe ý kiến của họ, quan tâm, lo
lắng đến quyền lợi của họ và cũng tự nhiên họ thấy Nhà nước gần gũi, gắn bó
với họ và đã thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhưng ngược lại
nếu các khiếu nại, tố cáo, các kiến nghị của dân được các cơ quan, cán bộ Nhà
nước đón nhận bằng một thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm thì cũng chính
6


7

7
7

những người dân đó sẽ hình thành tâm trạng thiếu tin tưởng và có xu hướng
xa lánh các cơ quan quản lý. Vì vậy, việc giải quyết nhanh chóng, đúng pháp
luật các khiếu nại, tố cáo của công dân, gắn liền với nó là việc khôi phục kịp
thời quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý nghiêm minh những người
sai phạm, tất yếu sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chủ trương,

định chi tiết thi hành một số điều của Luật tố cáo; Thông tư 06/2013/TTTTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định về quy trình giải
quyết tố cáo; Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra
Chính phủ quy định về quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Nghị định
64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Tiếp công dân; Thông tư số 46/2012/TTLT-BTC-TTCP ngày
16/3/2012 của Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ quy định chế độ bồi dưỡng đối với
cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh.
1.2.3. Cơ sở thực tiễn
Trong giai đoạn từ năm 2010 - 2015 là giai đoạn cả nước tăng cường
đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, thực hiện các chính sách đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng, quan tâm đầu tư cho các địa phương vùng kinh tế xã hội đặc
biệt khó khăn. Đối với huyện Bắc Sơn, trong những năm qua được Đảng, Nhà
nước đầu tư các chương trình dự án cho các xã đặc biệt khó khăn, xã An toàn
khu, kinh tế xã hội từng bước phát triển đổi mới, song song với phát triển kinh
tế dẫn đến phức tạp về tình hình đơn thư phát sinh trên địa bàn huyện có chiều
hướng gia tăng, nhiều vụ việc có tính chất phức tạp về thu hồi đất, bồi thường
giải phóng mặt bằng, vấn đề ô nhiễm môi trường gây sự phản kháng, bức xúc
trong nhân dân; một số vụ việc giải quyết khó khăn do lịch sử để lại: như
tranh chấp đất đai, lấn chiếm đất để xây dựng công trình trên đất, tranh chấp
ranh giới sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...
Nguyên nhân phát sinh đơn thư xuất phát từ công tác quản lý, các văn
bản chưa kịp thời điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, sự phát triển kinh tế,
làm thay đổi đời sống của nhân dân nông thôn và cũng làm xuất hiện những
mâu thuẫn, bất đồng nảy sinh do bồi thường giải phóng mặt bằng, các mâu
8


9


9


10

10
10

lĩnh vực được chú trọng xây dựng và hoàn thiện. Cơ chế giải quyết khiếu nại,
tố cáo là một trong những thể chế rất quan trọng thuộc lĩnh vực quan hệ giữa
Nhà nước và nhân dân. Hoàn thiện cơ chế này sẽ góp phần nâng cao hiệu lực,
hiệu quả của hoạt động hành chính công, đồng thời tăng cường việc thực thi
các quyền dân sự, chính trị của người dân.
Quyền khiếu nại, tố cáo của người dân đối với hoạt động hành chính
của Nhà nước được pháp luật công nhận và bảo hộ. Hiến pháp năm 2013 quy
định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
(Khoản 1 Điều 30).
Trong một thời gian dài, pháp luật khiếu nại, tố cáo đã được sửa đổi, bổ
sung hoàn thiện nhiều lần, nhưng thực tiễn cho thấy, công tác giải quyết đơn
khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước ngày càng bộc lộ nhiều
khó khăn, bất cập và ngày càng gia tăng số lượng các đơn thư khiếu nại, tố
cáo của người dân về các quyết định, hành vi hành chính của các cơ quan nhà
nước, ở tất cả các cấp chính quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ
quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và trên hầu
hết các lĩnh vực dân sinh: đất đai, môi trường, y tế, giao thông, xây dựng,
kinh doanh, chế độ chính sách ... Tính chất và nội dung khiếu kiện ngày càng
phức tạp, nó đặt ra một yêu cầu cấp bách là phải giải quyết hiệu quả, nhanh
chóng những đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
Từ những hạn chế bất cập về cơ chế, chính sách cũng như trình độ,

Đối với các phòng, ban chuyên môn việc bố trí bàn làm việc và tổ chức
tiếp công dân còn khó khăn, nơi làm việc chật hẹp, cũng ảnh hướng đến việc
tiếp công dân theo quy định. Đối với cấp xã, chưa bố trí được phòng tiếp công
dân riêng, việc tiếp công dân được thực hiện chung với bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả, cán bộ, công chức kiêm nhiệm làm công tác này trình độ năng lực
còn chế, chế độ đãi ngộ đối với công chức chưa được thực hiện; Công tác
tuyên truyền gặp nhiều khó khăn, do trình độ dân trí trên địa bàn huyện không
đồng đều, nhiều đồng bào dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa, khả năng tiếp
cận và hiểu pháp luật hạn chế; từ việc chưa hiểu chính sách pháp luật cũng
dẫn đến việc công dân thờ ơ, thiếu trách nhiệm, một số quyết định ban hành
11


12

12
12

có hiệu lực pháp luật chưa được công dân chấp hành, có thái độ chống đối cơ
quan nhà nước; một số đồng bào dân tộc H.Mông di cư tự do từ nơi khác đến
sống tại những nơi vùng sâu, vùng xa của huyện cũng có những tiềm ẩn gây
bất đồng, mất ổn định, khó khăn cho việc triển khai các quy định của pháp
luật ... Những hạn chế bất cập trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa
phương trong những năm qua, cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động
tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới.
2.2. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở huyện Bắc Sơn
2.2.1. Đặc điểm tự nhiên xã hội của huyện
Bắc Sơn, là huyện nằm ở phía Tây của tỉnh Lạng Sơn, cách trung tâm
thành phố Lạng Sơn 86 km. Huyện Bắc Sơn có 19 xã và 01 thị trấn, với 119
thôn và khối phố, trong đó: khu vực I gồm 08 xã: (thị trấn Bắc Sơn, xã Hữu

của công dân.
2.2.2. Những kết quả đạt được
* Kết quả công tác tiếp công dân
Tiếp
công
dân

2010

Biểu số 01
5 tháng
2015

(lượt/
công dân)

2011

2012

2013

2014

(lượt/
công dân)

(lượt/
công dân)



43/50

29/34

08/10

Tổng

221/221

163/165

235/238

68/75

84/89

10/12

(lượt/
công dân)

(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn)

Qua theo dõi thống kê nắm tình hình thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân
trên địa bàn huyện, thì công dân đến kiến nghị, phản ánh trực tiếp với cơ
quan, người có thẩm quyền qua các năm như sau: năm 2010: 221 lượt/221
công dân chủ yếu phát sinh tiếp công dân tại Uỷ ban nhân dân cấp xã (209

2012

2013

2014

5 tháng
2015

Tổng số đơn
tiếp nhận

183

177

202

153

159

112

Số đơn thuộc
thẩm quyền

157

138


13

6

25

22

(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn)

- Cấp xã: năm 2010 số đơn thuộc thẩm quyền: 157/183 đơn; năm 2011:
138/177 đơn; năm 2012: 165/202 đơn; năm 2013: 135/153 đơn; năm 2014:
115/159 đơn; 5 tháng đầu năm 2015: 98/112 đơn.
- Cấp huyện: năm 2010 số đơn thuộc thẩm quyền: 19/33 đơn; năm 211:
25/25 đơn; năm 2012: 13/33 đơn; năm 2013: 6/44 đơn; năm 2014: 25/54 đơn;
05 tháng đầu năm 2015: 22/48 đơn.
* Kết quả giải quyết đơn thuộc thẩm quyền(Biểu 03, 04, 05)

14


15

15

Kết quả giải quyết đơn kiến nghị, đề nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã
thuộc huyện Bắc Sơn theo lĩnh vực từ năm 2010 đến tháng 5 năm 2015
Biểu số: 03
Phân

quyết

Tỷ lệ
(%)

Tổng
số

Số đã
giải
quyết

Tỷ lệ
(%)

Tổng
số

Số đã
giải
quyết

Tỷ lệ
(%)

Tổng
số

Số đã
giải

71

71

48

68

65

25

38

53

24

45

37

09

24

Dân sự

21


03

50

Hôn
nhân và
gia đình

26

23

88

08

08

100

26

25

96

36

08


68

55

81

20

09

45

10

05

50

12

03

25

Tổng

157

146


19

(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn)
15


16

16

Kết quả giải quyết đơn kiến nghị, đề nghị thuộc thẩm quyền theo lĩnh vực
của UBND huyện Bắc Sơn từ năm 2010 đến tháng 5 năm 2015
Biểu số: 04
2010
Năm

2011

2012

2013

5 tháng đầu năm
2015

2014

Số
vụ
việc

Tỷ
lệ
(%)

Số
vụ
việc

Số
vụ
đã
giải
quyế
t

Tỷ lệ
(%)

Số
vụ
việ
c

Số
vụ
đã
giải
quyế
t


50

10

09

90

06

05

83

19

11

58

21

13

62

Dân sự

0


03

01

01

100

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0


04

04

100

0

0

19

17

89%

25

14

56%

13

12

92%

06



17

17

Kết quả giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND
huyện Bắc Sơn từ năm 2010 đến tháng 5 năm 2015
Biểu số: 05
Năm

2010
Tổng
số

Phân loại
Khiếu nại
Tố cáo
Tổng

Số đã
giải
quyết

2011
Tỷ lệ

Tổng

(%)


quyết

5 tháng đầu năm 2015

2014
Tỷ lệ

Tổng

(%)

số

Số đã
giải
quyết

Tỷ lệ

Tổng

(%)

số

Số đã
giải

Tỷ lệ


50

01

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0


92

02

01

50

03

02

67

01

0

0

(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn)

17

(%)


18

18


19

19

hoạch số 1130/KH-TTCP ngày 10/5/2012; Kế hoạch số 2100/KH-TTCP ngày
19/9/2013 của Thanh tra Chính phủ về việc kiểm tra, rà soát các vụ việc khiếu
nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài, qua rà soát thống kê trên địa bàn huyện
không phát sinh vụ việc cần tiếp tục chỉ đạo giải quyết, đảm bảo ổn định tình
hình xã hội, không phát sinh điểm nóng về khiếu nại.
Việc công dân đến kiến nghị, phản ánh tại nơi tiếp công dân ở cấp xã có
chiều hướng giảm so với những năm trước đây, nhưng có sự gia tăng về số
lượng tiếp công dân tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Nội dung chủ yếu là
tranh chấp đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chế độ, chính
sách ... Từ thực trạng trên cho thấy chất lượng tiếp công dân ở cơ sở còn hạn
chế, một số đơn vị chưa quan tâm đến công tác này, gây bức xúc và thiếu tin
tưởng của công dân đối với chính quyền cấp xã mà có xu hướng đến cơ quan
cấp trên để yêu cầu, kiến nghị, phản ánh. Mặt khác thể hiện trình độ dân trí,
năng lực nhận thức, ý thức pháp luật của công dân còn hạn chế, có tâm lý yêu
cầu cơ quan cấp trên xem xét thì sẽ được giải quyết nhanh chóng.
Việc xem xét, giải quyết đơn kéo dài, chậm thời hạn còn nhiều; tỷ lệ
giải quyết đơn đạt thấp, cấp xã đạt 59% vụ việc giải quyết và hòa giải thành,
cấp huyện đạt 76% số đơn đề nghị. Đơn khiếu nại, tố cáo ít phát sinh, nhưng
các vụ việc đều có tính chất phức tạp, văn bản áp dụng giải quyết có nhiều bất
cập, thường xuyên thay đổi, các vụ việc hầu hết cần phải xin ý kiến cơ quan
cấp trên; năng lực trình độ, của một một phận cán bộ, công chức chưa đáp
ứng được yêu cầu.
2.2.3. Những tồn tại cần giải quyết
Từ đánh giá thực trạng kết quả tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tổ
cáo trong những năm qua trên địa bàn huyện và dự báo xu hướng khiếu nại, tố

- Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực như đất đai, tài chính
ngân sách, chính sách xã hội ở một số nơi còn lỏng lẻo, tùy tiện để cán bộ lợi dụng
làm trái chế độ chính sách gây thất thoát lãng phí, tạo bức xúc trong nhân dân.
- Công tác phối hợp xem xét, xử lý, giải quyết đơn thư giữa các cơ quan, đơn
vị còn hạn chế, nhất là cấp xã chưa chủ động trao đổi, xin ý kiến tư vấn dẫn đến nhiều
vụ việc giải quyết chưa đảm bảo về quy trình, thủ tục và chậm được giải quyết.
20


21

21

- Việc xây dựng quy chế, lịch tiếp công dân ở một số đơn vị chưa được
ban hành, việc tổ chức tiếp công dân và mở sổ theo dõi việc tiếp công dân chưa
được thống kê đầy đủ, khó khăn cho việc kiểm tra, theo dõi; việc tiếp công dân
của một số lãnh đạo cấp xã chưa được ghi biên bản và thông báo kết quả tiếp
công dân định kỳ.
- Công tác phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, xác định nội dung
và thẩm quyền giải quyết của cán bộ một số cơ quan, đơn vị và cấp xã còn
yếu, lúng túng, chồng chéo. Đối với cấp xã hồ sơ giải quyết lưu trữ chưa đầy
đủ, chưa lập danh mục hồ sơ lưu trữ theo quy định; quy trình thẩm tra xác minh
giải quyết đơn thuộc thẩm quyền còn hạn chế, bất cập, chưa thể hiện rõ căn cứ
pháp lý làm căn cứ đề xuất việc giải quyết tại báo cáo xác minh, tại biên bản tổ
chức hòa giải thuộc thẩm quyền.
- Các xã, thị trấn từ năm 2013 đến nay chưa thực hiện chi trả chế độ bồi
dưỡng đối với cán bộ, công chức thực hiện công tác tiếp công dân theo quy
định tại Thông tư 46/2012/TT- LTLT-BTC-TTCP ngày 16/3/2012 của Bộ Tài
chính và Thanh tra Chính phủ quy định chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ, công
chức làm công tác tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo,

khăn ở cơ sở.
2.2.4. Nguyên nhân của những tồn tại
* Nguyên nhân khách quan
- Một số văn bản hướng dẫn về quy trình, thủ tục tiếp công dân, tiếp
nhận xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo còn nhiều bất cập, chậm được
ban hành, thiếu cơ chế đồng bộ cho việc xử lý, giải quyết.
- Lĩnh vực tranh chấp, khiếu nại, tố cáo diễn ra nhiều lĩnh vực trong đời
sống xã hội, chịu sự điều chỉnh tác động của nhiều văn bản quản lý khác
nhau, nhiều văn bản bản chậm được sửa đổi, bổ sung dẫn đến chồng chéo,
trùng lắp gây khó khăn, lúng túng cho việc áp dụng giải quyết ở địa phương.
- Nhiều vụ việc khiếu kiện có nội dung phức tạp, đan xen giữa khiếu nại,
tố cáo và kiến nghị, phản ánh thời gian phát sinh từ lâu, hồ sơ lưu trữ không
đầy đủ hoặc bị thất lạc, gây khó khăn trong quá trình thẩm tra, xác minh, giải
quyết dẫn đến chậm thời gian so với quy định.
22


23

23

- Một số vụ việc giải quyết, xử lý có căn cứ pháp luật, tuy nhiên khi tổ
chức thực hiện lại thiếu tính khả thi; dẫn đến làm giảm hiệu lực, hiệu quả giải
quyết của cơ quan nhà nước, gây nghi ngờ bức xúc cho người khiếu kiện.
* Nguyên nhân chủ quan
- Nhận thức của lãnh đạo một số đơn vị trong đó có cả người đứng đầu
chưa đúng mức về ý nghĩa tầm quan trọng của công tác tiếp công dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Chưa xác định công tác tiếp công dân,
giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân là một trong những nhiệm vụ chính
trị trọng tâm, thường xuyên trong tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm

việc giải quyết đơn thư khiếu nại của công dân còn hạn chế dẫn đến đơn thư
khiếu nại, tố cáo còn tồn đọng, kéo dài.
- Việc kiểm tra thực hiện các quyết định, kết luận giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo còn nhiều hạn chế, bất cập dẫn đến việc thực hiện quyết
định, kết luận chưa nghiêm. Công tác xử lý đối với cán bộ có sai phạm còn nể
nang, chưa triệt để.
- Ý thức, am hiểu về pháp luật của một bộ phận công dân khi thực hiện
quyền khiếu nại, tố cáo còn hạn chế, có những vụ việc đã có quyết định, kết
luận giải quyết cuối cùng nhưng công dân cố tình đeo bám khiếu kiện, không
thực hiện việc khởi kiện ra tòa án, có trường hợp lợi dụng quyền tự do, dân
chủ của công dân để khiếu nại, tố cáo sai sự thật, kích động, lôi kéo người nhẹ
dạ cả tin đi khiếu kiện gây phức tạp thêm tình hình.
- Kinh phí từ ngân sách cấp huyện cấp cho Hội đồng phối hợp phổ biến
giáo dục pháp luật còn hạn hẹp từ năm 2010 đến nay trung bình mỗi năm
được cấp 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng), nên việc tổ chức tuyên truyền các
quy định của pháp luật nói chung và luật khiếu nại, tố cáo cho các tầng lớp
nhân dân số cuộc tuyên truyền ít, chất lượng chưa cao.
2.3. Nội dung cụ thể của đề án cần thực hiện
Nhằm giải quyết căn bản những tồn tại hạn chế trong thực hiện công
tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian
qua trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, góp phần ổn định tình hình
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển
24


25

25

kinh tế xã hội trong thời kỳ mới, đề án đề ra mục tiêu cần đạt được trong giai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status