i hc Quc gia H Ni
Trng i hc Khoa hc xó hi & nhõn vn
V Th Hong Oanh
ti: Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã ph-ờng trong những năm 1986 - 2001
Lun vn ThS Lch s
Chuyờn ngnh: Lch s ng
Nm 2005
1
Mục Lục
Trang
1
Mở đầu:
Ch-ơng 1:
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã, ph-ờng trong 5 năm đầu
của thời kỳ đổi mới (1986 - 1990).
1.1.Nhận thức về vai trò của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở và
thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã ph-ờng
của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa tr-ớc đổi mới ( 1975 1985).
1.2. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xã ph-ờng trong 5 năm đầu của thời kỳ
79
79
88
95
Kết luận.
Tài liệu tham khảo.
98
102
Phụ lục.
2
3
Mở đầu
1- Lý do chọn đề tài:
Xây dựng đội ngũ cán bộ luôn luôn là nhiệm vụ quan trọng của Đảng. Hồ Chí Minh
đã nói: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, "công việc thành công hay thất bại
đều do cán bộ tốt hay kém.[23.269,240]
Cán bộ có vai trò quan trọng ở mọi cấp, mọi ngành, nhất là ở cơ sở. Cấp chính
quyền cơ sở xã, ph-ờng là nơi đ-ờng lối, chủ tr-ơng chính sách của Đảng và Nhà
n-ớc đ-ợc trực tiếp đ-a vào cuộc sống, đây là nơi ng-ời cán bộ của Đảng sống gần
dân nhất. Uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng đ-ợc biểu hiện một cách cụ thể đối
với dân thông qua ng-ời cán bộ cơ sở. Mọi tâm t-, nguyện vọng, tình cảm của quần
chúng nhân dân đ-ợc Đảng nắm bắt tr-ớc hết là từ cán bộ cơ sở. Việc nghiên cứu
Trên các tạp chí tiêu biểu có các bài: Bố trí đúng cán bộ chủ chốt, phong trào chuyển biến, của Hoàng Đức Hiền (Tạp
chí Xây dựng Đảng, 9-1987); Bàn về năng lực của ng-ời bí th- cơ sở của Lê Duy Thái (Tạp chí Giáo dục lý luận, 3-1989); Đào
tạo, bồi d-ỡng phục vụ công tác quy hoạch cán bộ của Tô Huy Rứa (Tạp chí Cộng sản, 21-1991); "Đánh giá, bố trí, sử dụng cán
bộ" của Tiến Hải (Tạp chí Cộng sản, 15- 1998)...
Sách đã xuất bản có: Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ của PGS. PTS Đức Vượng (NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1995); "Đổi mới để tiến lên" của Nguyễn Văn Linh (Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1998); Luận án Phó tiến sĩ có: "Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo quá trình xây dựng đ ộ i n g ũ c á n b ộ c h ủ c h ố t t r o n g h ệ t h ố n g c h í n h t r ị c ấ p c ơ s ở t ừ 1 9 7 5 1993" của Bùi Thị Hồng Tiến (Hà Nội, 1994)...
Trong các bài viết, các công trình nghiên cứu đó, các tác giả đã đề cập đến vấn đề vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp cơ sở, sự cần thiết phải đổi mới công tác cán bộ, quy hoạch đào tạo, bồi d-ỡng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở; xác định cơ
cấu, tiểu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị; đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở. Song ch-a có tác giả nào nghiên cứu đến quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã ph-ờng ở Thanh Hoá từ năm 1986
đến năm 2001 d-ới góc độ lịch sử Đảng. Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả kế thừa một cách có chọn lọc những nội
dung cơ bản đã nêu trên, đồng thời tập hợp các t- liệu ở Thanh Hóa để nêu lên kết luận, nhận xét, rút ra các kinh nghiệm từ kết quả
nghiên cứu cụ thể các vấn đề ấy trên địa bàn Thanh Hoá.
3 - Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một lĩnh vực hoạt động quan
trọng của Đảng bộ tỉnh Thanh hoá: hoạt động lãnh đạo xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong những năm 1986 - 2001, để góp phần vào
việc nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Thanh Hóa thời kỳ này; đồng thời qua đó rút
ra một số kinh nghiệm phục vụ yêu cầu thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt xã ph-ờng ở Thanh Hóa hiện nay.
Nhiệm vụ của luận văn là trình bày một cách có hệ thống quá trình
Đảng bộ Thanh Hoá lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
từ 1986 đến 2001; nêu lên vai trò của cán bộ chủ chốt xã ph-ờng trong
hoạt động thực tiễn và các thành tựu, hạn chế của Đảng bộ Thanh Hóa
lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ph-ờng trong những
5
6
6 - Đóng góp của luận văn.
Thông qua việc hệ thống hóa, phân tích các sự kiện, t- liệu lịch sử, luận văn góp
phần làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ
cấp xã ph-ờng từ năm 1986 đến 2001; qua đó nêu lên thực trạng mạnh, yếu của đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Thanh Hoá.
Rút ra một số kinh nghiệm về lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
ph-ờng của Đảng bộ Thanh Hoá để góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử Đảng bộ
tỉnh Thanh Hóa và đổi mới công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã
ph-ờng ở Thanh Hóa hiện nay.
7- Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo. luận văn chia thành 3 ch-ơng 6 tiết.
Ch-ơng 1: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã, ph-ờng trong 5 năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986 1990).
Ch-ơng 2: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã, ph-ờng trong những năm đẩy mạnh công cuộc đổi
mới thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1991 - 2001).
Ch-ơng 3: Nhận xét chung và những kinh nghiệm chủ yếu.
7
A. Ch-ơng 1
Đảng bộ tỉnh thanh hoá lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã, ph-ờng trong 5 năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986 -1990)
1. 1. Nhận thức chung về vai trò cán bộ chủ chốt cấp cơ sở và thực trạng công tác xây
kỳ lịch sử của mình. Nghĩa là công tác cán bộ cũng phải vận động và phát triển
theo sự vận động của cách mạng.
B-ớc lên vũ đài chính trị trong những hoàn cảnh mới từ cuộc đấu tranh
giai cấp của giai cấp vô sản, V.I.Lênin không chỉ là ng-ời kế tục xuất sắc về
mặt lý luận học thuyết của Mác, bảo vệ chủ nghĩa Mác tr-ớc sự tấn công của
kẻ thù, mà còn là nhà thực tiễn lỗi lạc, đã làm đ-ợc công việc vĩ đại là đ-a lý
luận cách mạng vào phong trào công nhân, tổ chức ra đảng kiểu mới của giai
cấp vô sản, lãnh đạo thực hiện thành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
đầu tiên trong lịch sử nhân loại, biến những t- t-ởng của C.Mác và
Ph.Ăngghen trở thành hiện thực.
Cuộc đời hoạt động sôi nổi không mệt mỏi của V.I.Lênin là minh chứng
hùng hồn cho vai trò của cán bộ và công tác đào tạo, bồi d-ỡng cán bộ.
V.I.Lênin đã chỉ ra một cách sâu sắc và khoa học tầm quan trọng của vấn đề
cán bộ trong việc thực hiện các mục tiêu có tính c-ơng lĩnh của Đảng. Trong
mọi thời kỳ cách mạng, vai trò này bắt nguồn từ sứ mệnh lịch sử khách quan
của đảng cộng sản - lãnh tụ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
trong cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới, xã
hội chủ nghĩa.
Ngay từ khi thành lập Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân V.I.Lênin đã
đặc biệt chú ý đến vấn đề cán bộ. Người khẳng định: Trong lịch sử ch-a hề có
giai cấp nào giành đ-ợc quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra đ-ợc trong
hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ
khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [19.473];
9
Lênin còn nhấn mạnh rằng trong đội ngũ cán bộ nói chung thì đội ngũ
cán bộ chủ chốt giữ vị trí hết sức quan trọng, vì họ là hạt nhân, là những ng-ời
lãnh đạo chủ yếu, những ng-ời đ-ợc giao trách nhiệm quan trọng nhất trong
mỗi tổ chức của Đảng và Nhà n-ớc. Và từ việc phân tích sâu sắc những bài
dạy của Lênin Học, học nữa, học mãi và đòi hỏi cán bộ phải học tập theo yêu
cầu và nội dung mới.
Trong hội nghị bàn về công tác huấn luyện học tập năm 1950, Hồ Chí
Minh căn dặn: Ai lãnh đạo ngành hoạt động nào thì phải biết chuyên môn về
ngành đó mới có thể lãnh đạo mới sát [24.47]. Người yêu cầu cán bộ, đảng
viên phải chịu khó học tập chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật để nâng cao
năng lực kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân ngày càng
ấm no, vui t-ơi. Ng-ời khẳng định vấn đề có ý nghĩa quyết định là cán bộ, cho
nên phải đào tạo thật nhiều cán bộ. Chỉ có nh- thế chúng ta mới xây dựng
thắng lợi chủ nghĩa xã hội[26.313].
Và trong bản Di chúc lịch sử, Ng-ời còn căn dặn chúng ta tr-ớc lúc đi xa:
Đảng là Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên, cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo
đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô t-; phải giữ gìn
Đảng thật trong sạch, phải xứng đáng là ng-ời lãnh đạo, là ng-ời đầy tớ thật
trung thành của nhân dân.
T- t-ởng của Hồ Chí Minh về cán bộ có ý nghĩa cách mạng sâu sắc,
Người cho rằng: người cán bộ, đảng viên phải vừa hồng vừa chuyên; phải
không ngừng học tập trau dồi lý t-ởng cách mạng, chuyên môn, nghiệp vụ, tri
thức mới, phong cách làm việc khoa học. Để luôn xứng đáng với vai trò lãnh
đạo của Đảng. Đồng thời chỉ ra yêu cầu hàng đầu là phẩm chất của ng-ời
11
lãnh đạo chính trị vừa nói lên phẩm chất chỉ có ở ng-ời lãnh đạo của giai cấp
vô sản là tính quần chúng. Chính điều đó làm cho ng-ời cán bộ không đứng
trên quần chúng mà phục vụ quần chúng, là đầy tớ của nhân dân chứ không
phải là quan cách mạng.
Thấm nhuần t- t-ởng của Hồ Chí Minh, Đảng ta từ Trung -ơng đến cơ
sở đã luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực để hoàn
thành nhiệm vụ. Trong quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng
tế - xã hội cuối những năm 70 đầu những năm 80. Khi đánh giá tình hình
Thanh Hoá thời kỳ này, văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh Thanh Hoá lần thứ XII
(1986) viết: ...Trong việc thực hiện nhiệm vụ hai chiến l-ợc còn những nh-ợc
điểm, khuyết điểm, nổi lên là kinh tế phát triển chậm ch-a toàn diện, chất l-ợng
hiệu quả còn thấp, có những mặt còn yếu kém nh- kinh tế rừng, kinh tế biển,
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xuất khẩu. Công tác quốc phòng an ninh
ch-a đ-ợc xây dựng thực sự vững mạnh từ cơ sở. Nguyên nhân là do: cán bộ
chủ chốt và các cơ quan lãnh đạo, quản lý kinh tế còn nặng chủ quan, giản
đơn và bảo thủ. Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện còn quan liêu, hành chính bao
cấp nặng, ch-a bám sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết. Tổ
chức bộ máy và cán bộ còn nhiều chỗ chưa phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ
[14].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) đánh dấu một
b-ớc ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở n-ớc ta, cũng chỉ ra
nguyên nhân của những sai lầm, khuyết điểm trong thời gian qua: Những sai
lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, xã hội bắt nguồn từ những khuyết
điểm trong hoạt động t- t-ởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng, do sự
13
lạc hậu về nhận thức lý luận và sự vận dụng các quy luật đang hoạt động trong
thời kì quá độ [9.27].
Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh: Chúng ta nhận thức sâu
sắc rằng nếu không kiên quyết đổi mới về tổ chức bộ máy và cán bộ thì không
một chủ tr-ơng, chính sách nào thực hiện đ-ợc tốt. Nhiệm vụ đổi mới tổ chức
bộ máy và cán bộ vẫn tiếp tục là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của
chúng ta hiện nay và sắp tới [18.132], và Đại hội VI xác định: Đổi mới đội ngũ
cán bộ có nghĩa là đánh giá, lựa chọn, bố trí lại đi đôi với đào tạo, bồi d-ỡng
để có đ-ợc một đội ngũ cán bộ có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và
lần về thăm Thanh Hoá lần thứ hai (13-6-1957), Hồ Chí Minh đã khen ngợi
Bây giờ tiếng Việt nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện
Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hoá cũng có một phần vinh dự đến đó
[ 25.400].
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu n-ớc(1954 - 1975), Thanh
Hoá còn là hậu ph-ơng lớn cung cấp sức ng-ời, sức của cho chiến tr-ờng
Miền Nam. Đặc biệt là qua hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ,
mặc dù bị tàn phá rất nặng nề nh-ng nhân dân Thanh Hoá đã có những
đóng góp to lớn rất đáng tự hào cho cuộc kháng chiến anh dũng của cả
dân tộc. Những con ng-ời -u tú của Quê h-ơng Thanh Hoá đã lần l-ợt lên
đ-ờng đi chiến đấu và nhiều ng-ời đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến tr-ờng.
Tính từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 10 năm 1995, Thanh Hoá có 391.657
ng-ời đi bộ đội, 41.863 ng-ời đi thanh niên xung phong. Toàn tỉnh có 6.559
liệt sĩ, 32.146 th-ơng binh, 25 đơn vị và 71 cá nhân đ-ợc tuyên d-ơng anh
hùng lực l-ợng vũ trang nhân dân, có 1.125 bà mẹ Việt Nam anh hùng,
2 đơn vị và 16 cá nhân đ-ợc tuyên d-ơng Anh hùng lao động. Đó là những
con số biết nói, nói lên truyền thống đánh giặc, bảo vệ và xây dựng của
quê h-ơng Thanh Hoá.
Bên cạnh đó thời kỳ tr-ớc đổi mới Thanh Hoá còn một số vấn đề phải
quan tâm hơn nh-: Tỷ lệ dân số ở mới là quá cao (2,3%). Số ng-ời đến tuổi
15
lao động mỗi năm tăng thêm 31.000 ng-ời nh-ng ch-a đủ việc làm. Phân
bố lao động lên trung du, miền núi chậm. Trên d-ới 15% số hộ nông dân
còn thiếu ăn. Đời sống của những ng-ời ăn l-ơng, h-ởng trợ cấp xã hội, lực
l-ợng vũ trang, một số gia đình liệt sỹ, th-ơng binh còn nhiều khó khăn do
giá cả tăng vọt, tiền l-ơng thực tế giảm sút nhanh. Một bộ phận cán bộ
công nhân viên, thanh niên bị cuốn hút vào chủ nghĩa thực dụng tầm
th-ờng, sa sút về phẩm chất và nếp sống.
3) Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện còn quan liêu, hành chính bao cấp
nặng, ch-a bám sát cơ sở, thiếu kiểm tra đôn đốc, sơ kết, tổng kết. Tổ
chức bộ Tài liệu tham khảo
1. Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam (1996): Báo cáo
tổng kết công tác xây dựng Đảng thời kỳ 1975 - 1995, NXB CTQG, Hà Nội.
2. Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam: Thông báo số 74 TB/TW về việc kiểm tra một số vấn đề ở tỉnh Thanh Hoá.
3. Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam (1992): Văn kiện hội
nghị BCH TW lần thứ III (Khoá VII) - L-u hành nội bộ,
4. Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam (1997): Văn kiện hội
nghị BCH TW lần thứ III (Khoá VIII), NXB CTQG, Hà Nội.
5. Ban tổ chức Tỉnh uỷ Thanh Hoá (2000): Báo cáo tổng hợp đề tài KX.
05 - 11 TH cơ cấu tiêu chuẩn cán bộ chủ chốt các cấp tỉnh Thanh Hoá trong
sự nghiệp đổi mới đến năm 2010.
6. Ban tổ chức Tỉnh uỷ Thanh Hóa (1998): Báo cáo tổng hợp đề tài KX. 05
- 11 TH cơ cấu tiêu chuẩn cán bộ chủ chốt thôn, bản, khối phố thuộc các xã,
ph-ờng, thị trấn tỉnh Thanh Hoá và đề xuất chính sách trong thời kỳ đổi mới.
7. Phí Văn Chỉ (1998): Quy hoạch đội ngũ cán bộ sơ cấp xã, ph-ờng, thị
trấn. Tạp chí Cộng sản số 24 - 1998.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ V. Tập III, NXB ST, Hà Nội.
17
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI. NXB ST, Hà Nội.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VII. NXB ST, Hà Nội.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991): C-ơng lĩnh đất n-ớc trong thời kỳ
29. Lê Duy Thái (1989): Bàn về năng lực của ng-ời Bí th- cơ sở, Tạp chí
giáo dục lý luận 3 - 1989.
30. Bùi Thị Hồng Tiến (1994): Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo quá
trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp cơ sở từ
1975 - 1993 luận án PTS khoa học lịch sử Hà Nội.
31. Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1991): Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh. Lần thứ
VIII. NXB Thanh Hoá.
32. Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1996): Văn kiện Đảng bộ tỉnh. Lần thứ XIV l-u
hành nội bộ.
33. Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1987): Chỉ thị số 03 - CT/TU ngày 01 / 4 / 1987.
34. Tỉnh uỷ Thanh Hoá(1987): Nghị quyết số 08 - NQ/TU 12 / 7 / 1987.
35. Tỉnh uỷ Thanh Hoá(1987): Nghị quyết số 10 - NQ/TU 18/ 8 / 1987.
36. Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1988): Chỉ thị số 05 - CT/TU ngày 9/ 5 /1988.
37. Tỉnh uỷ Thanh Hoá: Báo cáo một số vấn đề công tác cán bộ ở Thanh
Hoá.
38. Tỉnh uỷ Thanh Hoá: Nghị quyết số 21 - NQ/TU về đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế Nông - Lâm nghiệp trung du miền núi.
39. Tỉnh uỷ Thanh Hoá: Báo cáo sơ kết thực hiện thông báo số 74 TB/TW.
19
40. Tỉnh uỷ Thanh Hoá: Nghị quyết số 24 - NQ/TU về thực hiện cuộc vận
động Tăng c-ờng củng cố tổ chức cơ sở Đảng, làm trong sạch và nâng cao
sức chiến đầu của đội ngũ cán bộ Đảng viên.
41. Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1984): Báo cáo tình hình năm 1984.
42. Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1985): Báo cáo tình hình đợt sinh hoạt tự phê và
phê bình trong Đảng bộ.
43. Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1985): Báo cáo tình hình và nhiệm vụ đối với
một số vấn đề cấp bách của công tác xây dựng Đảng trong thời gian tr-ớc mắt.