Đánh giá tình hình giao đất giao rừng nhằm phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp tại xã nghĩa long, huyện nghĩa đàn, tỉnh nghệ an - Pdf 45

Đề tài: Đánh giá tình hình giao đất giao rừng nhằm phát triển sản xuất
nông, lâm nghiệp tại xã Nghĩa Long, Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của loài người, là điều kiện cần để
sinh tồn, để sản xuất, nó không thể thiếu được. Nó là nguồn tài nguyên vô cùng
quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho cuộc sống và trở thành một tài nguyên quý
giá của mỗi quốc gia. Là nguồn lực để phát triển đất nước, là một loại tư liệu sản
xuất đặc biệt của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp để đáp ứng điều kiện cơ bản tối
thiểu của đời sống xã hội loài người đảm bảo cho quá trình sản xuất, xã hội tồn tại
và phát triển. Ngoài ra nó còn là giá đỡ của thực vật, nơi sinh tồn của động vật, vi
sinh vật.
Luật đất đai sửa đổi năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/07/1993
có hiệu lực ngày 15/10/1995 đã thừa nhận 5 quyền cơ bản của người sử dụng đất,
quan hệ sản xuất nông lâm nghiệp được xác lập trên cơ sở giao đất cho các hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài đã trở thành động lực thúc đẩy quá trình
nông, lâm nghiệp phát triển. Hiệu quả sử dụng đất được nâng cao so với giai đoạn
trước.
Ngoài ra Chính phủ còn cho ra đời một số Nghị định như: Nghị định
64/CP ngày 27/09/1993 quy định: “Giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá
nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp”. Nghị định
02/CP ngày 15/01/1994 quy định: “ Giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp”. Nghị định
163/1999/NĐ – CP ban hành ngày 16/11/1999 bổ sung và thay thế một số điều
trọng nghị định 02/CP.

1


Gần đây Quốc hội nước ta đã đưa ra luật đất đai số 13/2003/QH. Luật này

sự cho phép của Nhà trường tôi đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “ Đánh giá
tình hình giao đất giao rừng nhằm phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp tại xã
Nghĩa Long, Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An”.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1. Chính sách đất đai ở Thái Lan
Tại Thái Lan bước sang chế độ quân chủ, luật ruộng đất được ban hành
năm 1954 đã thúc đẩy mạnh mẽ chích sách kinh tế xã hội của đất nước. Luật
ruộng đất đã công nhận toàn bô đất đai bao gồm đất khu dân cư đều có thể được
mua, tẩu lại từ cá thể. Các chủ đất có quyền tự do chuyển nhượng, cầm cố một
cách hợp pháp, từ đó Chính phủ có được toàn bộ đất trồng ( có khả năng trồng
trọt được) và nhân dân đã trở thành người làm công trên đất ấy. Tuy nhiên, trong
giai đoạn này luật ruộng đất quy định chế độ định canh ngắn, chế độ luân canh
vừa. Bên cạnh đó việc thu địa tô cao, dân số tăng nhanh, tình trạng thiếu đất do
việc phân hóa giàu nghèo, đã dẫn đến việc đầu tư trong nông nghiệp thấp. Từ đó,
năng suất cây trồng trên đất phát canh thấp hơn trên đất tự canh. Bước sang năm
1974 Chính Phủ Thái Lan ban hành chính sách cho thuê đất lúa, quy định rõ việc
bảo vệ người làm thuê, thành lập các tổ chức người địa phương làm việc theo sự
điều hành của trại thuê mướn, Nhà nước tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình
phát triển. Luật cải cách ruộng đất năm 1975 quy định các điều khoản với mục
tiêu biến tá điền thành chủ sở hữu ruộng đất, trực tiếp sản xuất trên đất Nhà Nước
quy định hạn mức đối với đất trồng trọt là 3,2 ha (50 rai), đối với đất chăn nuôi
6,4 ha (100 rai), đối với những trường hợp quá hạn mức Nhà nước tiền hành
trưng thu để chuyển giao cho tá điền, với mức đền bù hợp lý.
Đối với đất rừng, để đối phó với vấn đề suy thoái đất, xâm lấn rừng. Bắt
đầu từ năm 1979 Thái Lan thực hiện chương trình giấy chứng nhận quyền hoa lợi,

3




trong thời gian qua quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp ở Trung Quốc đã đạt
được những kết quả đáng ghi nhận:
Đất canh tác được Nhà Nước bảo hộ đặc biệt, khống chế nghiêm ngặt việc
chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp sang đất khác. Mỗi hộ nông dân chỉ được
dùng một nơi làm đất nông nghiệp sang đất khác. Mỗi hộ nông dân chỉ được dùng
một nơi làm đất ở với diện tích giới hạn trong định mức quy định tại địa phương.
Đất thuộc sở hữu tập thể thì không được chuyển nhượng, cho thuê và mục đích
phi nông nghiệp. Đối với đất lâm nghiệp trước những năm 1970, Chính Phủ
Trung Quốc đã chỉ đạo nông dân trồng cây bằng biện pháp hành chính, nên hiệu
quả trồng rừng thấp, chưa có sự phối hợp giữa lợi ích cộng đồng với lợi ích của
người dân. Để khắc phục tồn tại đó bước sang giai đoạn cải cách nền kinh tế,
Chính phủ Trung Quốc đã quan tâm khuyến khích hỗ trợ nông dân kinh doanh
lâm nghiệp phát triển, bên cạnh đó coi trọng vấn đề bảo vệ rừng.
Theo hiến pháp của Nhà Nước vào đầu những năm 80, chính quyền Nhà
nước Trung ương đến tỉnh và huyện bắt đầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho tất cả các chủ rừng là các tổ chức nhà nước, tập thể và tư nhân. Mỗi hộ
nông dân được phân phối một diện tích đất rừng để sản xuất kinh doanh ‘ Luật
lâm nghiệp quy định đơn vị tập thể và nông dân trồng cây trên đất mình làm chủ
thì hoàn toàn được hưởng sản phẩm trên mảnh đất đó”. Sau khi được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, Chính Phủ đã áp dụng chính sách nhảy bén thúc
đẩy phát triển trang trại rừng và kinh doanh đa dạng để có lợi trước mắt và lâu
dài. Đồng thời với việc cải cách và mở cửa, ngành lâm nghiệp Trung Quốc đã
được chuyển dịch từ chỗ chỉ thực hiện chế độ sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể
sang thực hiện nhiều thành phần tham gia kinh doanh lâm nghiệp (Nhà nước, tập
thể, cá nhân, liên doanh, hợp tác…). Nhiều chính sách về đất lâm nghiệp được
thực hiện, đặc biệt là chính sách “tam định”, trong đó định rõ 3 vấn đề: Quyền sử
dụng đất đồi núi, quyền sử dụng rừng và quy hoạch đất, diện tích đất lâm nghiệp


6


Như vậy, qua hai lần cải cách ruộng đất bằng những chính sách cụ thể đã
làm thay đổi quan hệ sở hữu cũng như kết cấu sở hữu ruộng đất ở Nhật Bản đó là:
Nhà nước đã khẳng định được vai trò kiểm soát đối với việc quản lý và sử dụng
đất đai, người dân thực sự đã làm chủ đất để yên tâm đầu tư phát triển sản xuất.
1.1.5. Chính sách ở Philippin.
Chính sách lâm nghiệp xã hội “Institutional Social Forestry Program”
(ISFP) năm 1980 của Chính Phủ nhằm dân chủ hóa việc sử dụng đất rừng công
cộng và khuyến khích việc phân chia một cách hợp lý các lợi ích của rừng.
Chương trình đã đề cập nhiều vấn đề, trong đó có chứng chỉ hợp đồng
quản lý và bản thỏa thuận quản lý lâm nghiệp xã hội: bộ phận lâm nghiệp xã hội
chịu trách nhiệm xử lý và phát hành chứng chỉ hợp đồng quản lý “Certificates for
Stewardship Contracts” (CSC) và bản thỏa thuận quản lý lâm nghiệp xã hội
“Community Forestry Stewardship Agreements” (CFSA).
Giấy chứng chỉ CSC do Chính Phủ cấp cho người dân sống trên đất rừng
đã có đủ tư cách pháp nhân được hưởng các thành quả trên mảnh đất đó. Chứng
chỉ CSC cho phép sử dụng diện tích đang ở hay đang canh tác nhưng không quá 7
ha. Đơn xin chứng chỉ CSC được nộp và lưu trữ tại văn phòng phát triển lâm
nghiệp huyện. Các cán bộ lâm nghiệp của văn phòng cấp huyện được ủy quyền
cấp các CSC với diện tích từ 5-7 ha, còn trên 7 ha do Tổng giám đốc văn phòng
phát triển lâm nghiệp.
Khác với các giấy chứng chỉ CSC, bản thỏa thuận lâm nghiệp xã hội
(CFSA) là một hợp đồng giữa Chính Phủ và một cộng đồng hay một hội lâm
nghiệp kể các nhóm bộ lạc. Sự khác nhau cơ bản giữa CSC và CFSA là: CFSA
đất không được nhượng cho cá nhân mà chỉ giao cho cộng đồng hay hiệp hội và
các thành viên của nó với sự thỏa thuận trước để sử dụng trên phạm vi một xã.
Diện tích giữa các xã cũng khác nhau và các đơn vị xin CFSA thường phải nộp và



Thực hiện chủ trương đó, ngày 12/11/1968, hội đồng Chính Phủ ban hành
quyết định 179/CP nhằm: “Đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng và giao đất
lâm nghiệp cho HTX kinh doanh”.

8


-

Ngày 3/10/1979, hội đồng Chính Phủ ban hành quyết định số 272/CP quy
định “Chính sách đối với HTX mở rộng diện tích sản xuất nông, lâm ngư
nghiệp, xây dựng vùng kinh tế mới, thực hiện chương trình định canh định
cư”.
Trong giai đoạn này hầu hết ruộng đất của xã viên được đưa vào HTX để

thống nhất sử dụng, hàng năm xã viên được hưởng một phần hoa lợi tính trên số
ruộng đất mà họ góp vào HTX. Tuy nhiên, mỗi xã viên được phép để lại một
phần diện tích đất để trồng rau, trồng cây ăn quả, chăn nuôi. Nhưng không vượt
quá 5% diện tích bình quân của mỗi người trong xã. Khi đã chia xong rồi là ổn
định, số người giảm trong hộ không phải trả ra, số người tăng không được chia
thêm.
Do không giống nhau về trình độ quản lý, điều kiện kinh doanh nghề rừng, sự
quan tâm chỉ đạo không thống nhất ( nơi tốt, nơi xâu ), nên trong giai đoạn này đã
hình thành ba loại hình HTX sau.
-

Loại hình HTX đã thực sự đưa rừng và đất rừng vào sản xuất dạng tự doanh,
loại hình này đã thực sự coi trọng nghề rừng, có đầu tư thích đáng cho nghề
rừng như (phân bón, giống cây trồng, lao động…). Song loại hình này còn quá

tư nhân). Sở hữu toàn dân và tập thể có xu thế ngày càng mở rộng, sở hữu tư
nhân có chiều hướng thu hẹp dần.

-

Ý nghĩa khẩu hiệu “người cày có ruộng” bị mờ nhạt dần vì người nông dân
trực tiếp làm ruộng đã từng bước gián tiếp quản lý ruộng đất theo xu hướng
phát triển từ HTX bậc thấp lên bậc cao, cuối cùng chỉ thực sự làm chủ mảnh
đất 5% của mình.

-

Chính sách ruộng đất và thực hiện HTX nông nghiệp tuy có làm cho sản xuất
chậm phát triển nhưng thuận lợi cho việc động viên sức người, sức của cho
công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

1.2.2. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1986.
Đây là giai đoạn Nhà Nước ta tiến hành cải cách nền kinh tế đất nước bằng
các hình thức như: cải tiến việc quản lý các HTX nhằm đảm bảo việc phát triển
sản xuất, nâng cao hiểu quả kinh tế, bên cạnh đó thực hiện hình thức khoán sản
phẩm đến nhóm người lao động nhằm phát huy tích cực vai trò năng lực của của
người lao động.
Đối với sản xuất nông nghiệp: Tại hội nghị lần thứ I của Ban Chấp hành
TW Đảng tháng 12/1980 đã quyết định: “Mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện
các hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp”. Chỉ thị 100-CT/TW ngày

10


13/01/1981 của BCH TW Đảng đã chỉ rõ nguyên tác khoán với nội dung khoán

xác định rõ giao đất, giao rừng gắn liền với việc tổ chức bảo vệ và kinh doanh
rừng, sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc theo phương thức nông
lâm kết hợp. Gắn trách nhiệm cụ thể cho từng người sử dụng đất, coi đay là một
cuộc vận động cách mạng mang nội dung kinh tế chính trị sâu sắc.
Nghị quyết đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 là điểm
mốc quan trọng để bước sang một giai đoạn mới xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu bao cấp, chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN. Từ đó, công tác quản lý và sử dụng đất được Đảng và Nhà nước ta
quan tâm hơn trước. Nhiều chủ trương, chính sách đất đai được ban hành để điều
chỉnh quan hệ sở hữu và sử dụng đất đai một cách hoàn thiện hơn. Nhằm khai
thác tốt tiềm năng, giá trị của đất, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi
trường. Hàng loạt các văn bản luật và dưới luật thuộc thẩm quyền Quốc hội ( các
bộ luật), UBTVQH ( các Pháp lệnh, Nghị quyết). Chính Phủ ( các Nghị định, Chỉ
thị, Quyết định…), các Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW ( Chỉ thị, Nghị quyết,
Quyết đinh…) đã được soạn thảo và ban hành liên quan tới licnhx vực quản lý đất
đai như: giao đát, giao rừng và cấp GCNQSDĐ, giải quyết các vi phạm pháp luật
và tranh chấp đất đai, di dân, di chuyển lao động, định canh định cư, khai hoang
đất để sản xuất lương thực, trồng rừng bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái…
Quá trình thực hiện chích sách giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, các
nhân sử dụng ổn định lâu dài theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993, chính sách
giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, các nhân sử dụng ổn đinh, lâu
dài vào mục đích lâm nghiệp theo Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994, Nghị
định 163/CP ngày 16/11/1999, chính sách giao khoán đất sự dụng và mục đích
sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước
theo Nghị định số 01/CP ngày 04/01/1995. Đã đáp ứng yêu cầu quản lý và sử
dụng đất phù hợp với phù hợp với ý chí nguyện vọng của toàn dân, tạo nên động

12




năm 1993 đã có một số điểm không đáp ứng yêu cầu đó. Do vậy năm 1998, năm
2001, năm 2003, luật đất đai được sửa đổi quan trọng để đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế xã hội trong thời đại mới: Quy định thời gian sử dụng đất, phân cấp
thẩm quyền quản lý đất đai, thực hiện chủ trương giao đất nông lâm cho hộ gia
đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp, nuôi
trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước theo quy định số 01/CP vào ngày
16/11/1999. Hơn nữa các quyền sử dụng đất: Chuyển đổi, chuyển nhượng cho
thuê, thừa kế, thế chấp được luật đất đai năm 2003 sửa đổi quy định rõ, tạo cơ sở
pháp lý về những lợi ích cụ thể giúp người dân thực hiện được làm chủ được về
quá trình sử dụng cũng như kinh doanh trên diện tích được giao.
1.2.4.1. Chính sách giao đất nông nghiệp.
Được thực hiện theo nghi định 64/CP ngày 27/09/1993 đối với hộ gia đình
cá nhân như sau:
- Đối tượng được giao đất:
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản,
làm muối mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất
đó thì được nhà nước giao trong hạn mức để sử dụng ổn định lâu dài vào sản
xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không thu tiền sử dụng đất
nhân khẩu được giao đất nông nghiệp thường trú tại địa phương, kể cả người làm
nghĩa vụ quân sự.
- Hộ gia đình cá nhân được nhà nước giao đất làm nhà ở.
- Qũy đất nông nghiệp để giao:
Đất nông nghiệp đang sử dụng được giao hết cho hộ gia đình, cá nhân trừ
đất đã được giao cho tổ chức, đất làm muối cũng được giao cho hộ gia đình cá
nhân sản xuất.
- Nguyên tắc giao đất:

14



chính sách khuyến khích, tạo điều iện thuận lợi để sử dụng đất này vào sản xuất
nông nghiệp.
1.2.4.2. Chính sách giao đất lâm nghiệp.
Theo nghị định số 02/CP ngày11/01/1994 của chính phủ quy định: “Giao đất
lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”
-

Đối tượng được giao đất, cho thuê: Các tổ chức, hộ gia đình cư trú tại

địa phương. Những nơi có tập quán sống cộng đồng, suy tôn già làng, trưởng bản
đại diện cho cộng đồng, họ tộc những vùng núi cao thì đất lâm nghiệp sẽ được
giao cho già làng, trưởng bản.
-

Căn cứ để giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp: Quỹ đất lâm nghiệp của

từng địa phương; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt; hiện trạng
quản lý sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; hạn mức đất
giao, cho thuê đất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật và nhu cầu sử dụng đất
lâm nghiệp của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.
-

Quỹ đất lâm nghiệp để giao ổn định lâu dài: Toàn bộ đất có rừng tự

nhiên, đất có rừng trồng và đất chưa có rừng đã được quy hoạch để trồng cây gây
rừng, khoanh nuôi bảo vệ thảm thực vật, không phân biệt độ dốc được tính vào
quỹ đất lâm nghiệp để giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài.


được phê duyệt, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể hạn mức đất lâm
nghiệp được giao cho các đối tượng dựa trên nguyên tác mọi tổ chức, hộ gia đình
cá nhân có nhu cầu và khả năng sử dụng đất lâm nghiệp hoặc theo nhiệm vụ được
giao quản lý của các dự án. Đảm bảo các đối tượng sử dụng đất lâm nghiệp coa
hiệu quả cao nhất.
-

Khoán đất lâm nghiệp sử dụng vào mục đích lâm nghiệp
+ Đối tượng được giao khoán sử dụng vào mục đích lâm nghiệp là tổ chức

được Nhà nước giao đất lâm nghiệp sử dụng vào mục đích lâm nghiệp có quyền
giao khoán đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đang làm việc cho tổ chức, hộ
gia đình cá nhân cứ trú tại địa phương được UBND cấp xã xác nhận, tổ chức hộ
gia đình cá nhân ở địa phương khác có vốn đầu tư và sản xuất theo quy hoạch của
các đơn vị giao khoán.

17


+ Căn cứ để giao khoán là quỹ đất lâm nghiệp đã được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền quyết định giao cho các đơn vị giao khoán. Dự án khả thi dự án đầu
tư hoặc dự án đầu tư đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Vốn
lao động của bên nhận khoán, các chính sách đầu tư hỗ trở vốn của Nhà nước và
các chính sách lao động xã hội khác có liên quan.
+ Nguyên tắc giao khoán và nhaank khoán: Bỏa đảm lợi ích của bên giao
khoán bên nhận khoán. Khoán ổn định, lâu dài theo quy hoạch và dự án khả thi
hoặc dự án đầu tư. Giao khoán đất gắn liền với cây trồng, vật nuôi và các giá trị
tài sản khác trên đất, việc giao nhận khoán phải thông qua hợp đồng.
+ Thời hạn giao khoán đất lâm nghiêp: Rừng phòng hộ và rừng đặc dụng là 50

+ Rừng nghèo: 12.589.718 m3
+ Rừng hỗn giao: 3.327.956 m3
+ Rừng phục hồi có trữ lượng: 6.748.932 m3
- Rừng tre nứa: 1.029.475 ngàn cây
* Rừng trồng:
+ Rừng gỗ: 1.512.879 m3
+ Rừng mét: 20.220 ngàn cây
1.3.2. Công tác giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất
lâm nghiệp
1.3.2.1. công tác giao đất theo nghị định 02/CP của Chính phủ
Ngày 15/01/1994, Chính phủ đã ban hành nghị định 02/NĐ – CP về việc giao
đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Từ năm 1994 đến ngày
15/03/2000, UBND tỉnh đã bàn giao cho ngành kiểm lâm sở nông nghiệp và phát
triển nông thôn chủ trì để thực hiện giao đất lâm nghiệp ở thực địa và cấp quyết
định giao đất kèm theo số lâm bạ.

19


Theo báo cáo của chi cục kiểm lâm đến năm 2000, ngành kiểm lâm và ngành
nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tổ chức giao đất lâm nghiệp được 368.628
ha cho 58.063 hộ và 190 tổ hức, đoàn thể.
Việc giao đất lâm nghiệp trong giai đoạn này cần nhiều vấn đề:
-

Các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức mới được giao đất ở thực địa, chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như: thế chấp, chuyển nhượng.

-


1.3.2.2. Công tác giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm

nghiệp theo nghị định 163/NĐ-CP của Chính phủ.
Từ thực trạng của công ty giao đất lâm nghiệp theo Nghị định 02/CP, sau khi
Chính phủ ban hành Nghị định 163/NĐ-CP. UBND tỉnh đã ban hành quyết định

20


số 190/QĐ-UB ngyaf 16/03/2000 giao cho ngành địa chính chủ trì tổ chức thực
hiện việc đo đạc giao đất lâm nghiệp.
Thực hiện nhiệm vụ giao đất, sở tài nguyên và môi trường đã tiến hành các
nôi dung sau:
-

Tham mưu để UBND tỉnh thành lập ban chỉ đạo thực hiện nghị định 163 của
tỉnh, thành lập ban chỉ đạo cấp sở, chỉ đạo các huyện thành lập ban chỉ đạo
cấp huyện.

-

Tham mưu cho UBND tỉnh ban hành kiểu văn bản chỉ đạo đôn đốc, trực tiếp
ban hành hàng chục văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ

-

Tổ chức quán triệt chủ trương tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện
Nghị định 163 cho toàn tỉnh.

-

-

Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp đến ngày 30/08/2003.

-

Trên cơ sở hồ sơ giao đất lâm nghiệp theo nghị định 02/CP. Một số huyện đã
tiến hành bổ sung hồ sơ, cấp giấy chứng nhận theo Nghị định 163/1999/NĐCP cho hộ gia đình, cá nhân được giao đất đang sử dụng ổn định không tranh
chấp, với kết quả cấp giấy chứng nhận đạt 15.676 hộ, với diện tích là 18.252
ha.

Bao gồm:
+ Đô Lương cấp giấy chứng nhận cho: 4.166 hộ
+ Yên Thành cấp giấy chứng nhận cho:5.867 hộ
+ Diễn Châu cấp giấy chứng nhận cho:3.061 hộ
+ Quỳ Hợp cấp giấy chứng nhận cho: 1.168 hộ
+ Hưng Nguyên cấp giấy chứng nhận cho: 74 hộ
+ Nam Đàn cấp giấy chứng nhận cho: 1.322 hộ
Biểu 1.1: Kết quả giao đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An
DT ĐO ĐẠC
TT

TÊN HUYỆN

BĐĐC

GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP
SỐ HỘ

DIỆN

26.440

4

Quỳ Châu

105.613

5.334

43.660

5

Quế Phong

157.534

3.373

63.403

6

Con Cuông

153.309

4.885


2.1.2. Mục tiêu cụ thể:
- Tổng kết kết quả thực hiện công tác giao đất giao rừng tại xã Nghĩa Long.
- Đánh giá được những tác động chủ yếu về kinh tế, xã hội và môi trường của
công tác giao đất giao rừng tới quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình và môi
trường tại xã Nghĩa Long.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả về công tác giao đất
giao rừng và quản lý sử dụng đất đã được giao.
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình giao đất, giao rừng, tình hình quản lý
đất đai, quản lý tài nguyên rừng, điều tra tình hình sử dụng đất của nông hộ sau
khi giao đất, giao rừng trên địa bàn xã Nghĩa Long, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ
An.
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Nội dung nghiên cứu tập trung và đánh giá các vấn đề sau:

23


+ Điều tra, đánh giá khái quát tình hình tự nhiên – kinh tế - xã hội của khu
vực nghiên cứu
+ Điều tra tình hình trước và sau khi thực hiện chính sách giao đất, giao
rừng trên địa bàn xã
+ Đánh giá tác động hiệu quả của công tác giao đất, giao rừng trên địa bàn
xã.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa
bàn xã
2.4. Phương pháp nghiên cứu chuyên đề.
2.4.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu:
Để đảm bảo tính khoa học, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển
trong quản lý và sản xuất, cung cấp các thông tin có tính chất tổng quát thời sự

+ Các hộ được lựa chọn
Số hộ phỏng vấn được xác định trên cơ sở phân loại kinh tế hộ gia đình
( nghèo, trung bình, giàu) quỹ đất đai mà hộ đang sử dụng ( ít, trung bình, nhiều),
đảm bảo đầy đủ các thành phần dân tộc đang sống trên địa bàn.
- Thu thập thông tin bằng phương pháp chuyên gia, chuyên khảo sát và kế thừa
thông tin sẵn có.
+ Trên cơ sở đó đi khảo sát ngoại nghiệp rà soát lại các thông tin thu thập được để
điều chỉnh lại cho phù hợp với thực tế.
+ Áp dụng phương pháp thống kê kinh tế, để so sánh các chỉ tiêu đánh giá ở hai
thời điểm trước và sau khi giao đất.
2.4.3. chỉnh lý và tổng hợp số liệu.
Trong quá trình điều tra xử lý số liệu ngoại nghiệp hoặc trực tiếp phỏng
vấn các hộ gia đình, qua đó tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của người dân sau đó
tổng hợp bảng biểu để làm cơ sở cho quá trình phân tích số liệu.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status