BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
DƯƠNG VĂN MINH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TẠI XÃ SƠN KIM 1
HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
DƯƠNG VĂN MINH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TẠI XÃ SƠN KIM 1
HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
phương. Để QHSDĐ, PTSX nông lâm nghiệp có hiệu quả, cần thực hiện từ những
đơn vị hành chính nhỏ nhất như cấp xã bởi cấp xã có vị trí quan trọng trong việc ổn
định xã hội và phát triển kinh tế trên địa bàn nông thôn Việt Nam nói chung và
miền núi nói riêng. Trên một đơn vị xã thường tồn tại song song nhiều dân tộc anh
em khác nhau cùng sinh sống và làm ăn. Mỗi dân tộc đều có tâm lý, phong tục tập
quán, trình độ phát triển, văn hoá, kinh nghiệm sản xuất khác nhau. Vì vậy việc tổ
chức, quản lý sao cho phù hợp với từng địa bàn cụ thể, đảm bảo SDĐ đai, tài
nguyên hợp lý, có hiệu qủa, bền vững và an toàn sinh thái chính là nhiệm vụ của
QHSDĐ, PTSX nông, lâm, ngư nghiệp..
2
Trong phát triển KTXH của NTMN nước ta, QHSDĐ, PTSX nông lâm nghiệp
cấp xã có sự tham gia của người dân giữ một vị trí hết sức quan trọng nhằm giúp
người dân có thể tự QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp của mình một cách hợp lý,
có hiệu quả, trên nguyên tắc bền vững, bảo đảm hài hoà giữa lợi ích kinh tế với lợi
ích xã hội và MTST. Tuy nhiên, có thể thấy QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp cấp
xã hiện nay vẫn còn một số tồn tại về phương pháp tiếp cận, công tác điều tra cơ
bản và cơ sở thực tiễn của đất đai.
Một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta gần đây như: Nghị
quyết 26/TƯ về nông nghiệp ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Khoá X
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Thông báo 238-TB/TƯ ngày 7/4/2009 của
Ban bí thư về chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa; Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày
16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn
mới; Thông tư số 07/2010/TT-BNN ngày 8/2/2010 của Bộ Nông nghiệp & PTNT
V/v: Hướng dẫn quy hoạch PTSX nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới, đã tác động một cách đáng kể đến hoạt động QHSDĐ, PTSX nông,
lâm, nghiệp trong phạm vi cả nước.
nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong một thời gian bỏ hoá (Conklin,
(1957). Du canh được xem là PTCT cổ xưa nhất nó ra đời vào cuối thời kỳ đồ đá, khi
con người đã tích luỹ được những kiến thức ban đầu về tự nhiên. Loài người đã vượt
qua thời kỳ này bằng cuộc cánh mạng về kỹ thuật và trồng trọt. Mãi đến gần đây du
canh vẫn còn được vận dụng trên các rừng Vân Sam ở Bắc Âu (Cox và Atkinss (1979);
Russell (1968); Ruddle và Manshard (1981). Mặc dù hạn chế nhiều mặt về MTST,
song phương thức này vẫn được sử dụng khá phổ biến ở các vùng nhiệt đới. Về chiến
lược phát triển kinh tế bền vững, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan
quốc tế coi trọng bởi vì du canh được coi như là sự phí phạm về sức người, tài nguyên
đất đai, là nguyên nhân chính gây ra xói mòn và thoái hoá đất.
Sau du canh là sự ra đời của các phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới.
Taungya được xem như một dấu hiệu báo trước cho các phương thức SDĐ sau này
(Nair, 1978). Theo Blanford thì nguồn gốc của phương thức này được xuất phát từ
một địa phương, để chỉ phương thức du canh. Sau đó được miêu tả về phương pháp
phục hồi rừng ở Miến Điện vào những năm 1850 - 1858, do nhà tư bản Anh Quốc
Dictaich Brandis vận dụng trong nghiên cứu tái sinh rừng Tếch (Blanford, 1958).
Từ khi Dictaich Brandis cho những người dân sở tại (làm thuê) được tiến hành
trồng cây nông nghiệp ngắn ngày, kết hợp dưới rừng Tếch, ông đã rút ra kết luận là
có thể trồng rừng Tếch với giá rất thấp. Sau đó 2 thập kỷ, HTCT Taungya được cải
tiến sửa đổi và dần dần được hoàn thiện, phổ biến trên toàn thế giới và được coi như
là một hệ thống SDĐ có hiệu quả kinh tế lẫn MTST. Theo thông báo của FAO năm
1990, đến nay đã có tới 117 nước trên thế giới áp dụng phương thức này.
- Hệ thống Taungya được mọi người biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, ở
một số nước các tên gọi được biểu thị cho sự đặc biệt của phương thức du canh, ở
5
Inđônêxia người ta gọi là Tumbansang, ở Philippin là Kaigining; ở Malayxia là La
dang; ở Srilanka là China... Theo Von Hesmen (1966; 1970) và King (1979), hầu
với phân tích HTCT cho QHSDĐ (LEFA). Theo Erwin năm 1999, phân tích HTCT là
công cụ cho phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại HGĐ để xác định mục tiêu
quy hoạch, xác định các kiểu SDĐ hiện tại và phương pháp SDĐ mới, đánh giá
phương án SDĐ khác nhau nhằm mục đích lựa chọn phương án một cách tốt nhất.
Việc tìm tòi các giải pháp nhằm nâng cao sản lượng lương thực và khắc phục
tình trạng thiếu hụt về lượng ngũ cốc đã thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu giải
pháp SDĐ bền vững. Một trong những nghiên cứu thành công là tìm ra hệ thống kỹ
thuật canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng ổn định bền vững trên đất dốc đã
được Trung tâm đời sống nông thôn ở Bapstit Mindanao Philippin tổng kết hoàn
thiện và phát triển từ giữa những năm 1970 đến nay là mô hình SALT1, SALT2,
SALT3, SALT4 . . . đã và đang được áp dụng.
Vào năm 1990, khi nghiên cứu HTCT, FAO đã xuất bản cuốn "Phát triển
HTCT" (Farming system development). Công trình đã chỉ rõ phương pháp tiếp cận
nông thôn trước đây là phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống, đã không
phát huy được tiềm năng nông trại và cộng đồng nông thôn. Thông qua nghiên cứu
và thực tiễn, ấn phẩm đã nêu lên phương pháp tiếp cận mới đó là phương pháp tiếp
cận có sự tham gia của người dân, nhằm phát triển hệ thống trang trại trong cộng
đồng nông thôn trên cơ sở bền vững.
Về phương pháp luận đã sử dụng đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia
của người dân vào việc nghiên cứu các HTCT. Theo Robert Chambers, các cách
tiếp cận chủ yếu là:
- Tiếp cận Son deo của Peter Hildebrand (Hildebrand, 1981).
- Tiếp cận "nông thôn - trở lại - về nông thôn" của Robert Rhoades (Rhoades, 1982).
- Cách sử dụng cụm kiến nghị của L.W.Harrington (1984)
- Cách tiếp cận tài liệu của Robert Chambers: "Nghiên cứu nông nghiệp cho
nông dân nghèo"
- Cách tiếp cận "chẩn đoán và thiết kế của ICRAF", (Raintree).
- Chương trình nông nghiệp quốc tế - bản phân tích theo vùng các hệ canh tác
của trường Đại học Cornel (Garrett và cộng sự, 1987).
(Topiacal RRA)
+ RRA giám sát
(Monitoring RRA)
Trong đó cùng tham gia là giai đoạn chuyển đổi đầu tiên sang PRA. Cũng
trong thời điểm 1988, tại hai địa điểm trên thế giới cũng thực hiện hai chương trình
phát triển nông thôn, trong đó PRA cũng được tham gia sử dụng tương tự như RRA.
(1) Ở Kenya, Văn phòng môi trường quốc gia hợp tác với Đại học Clack thực
hiện PRA ở Mbuasayi, một cộng đồng ở huyện Machakos. Một kế hoạch quản lý tài
8
nguyên cấp thôn, bản được xây dựng tháng 9/1988. Sau đó người ta mô tả RRA này
như một PRA và đưa ra phương pháp trong hai cuốn sổ tay hướng dẫn.
(2) Chương trình hỗ trợ phát triển nông thôn Agkhan (Ấn Độ), bắt đầu sử
dụng PRA, có sự tham gia của người dân.
Như vậy PRA được hình thành vào cùng một thời điểm tại Kenya và Ấn Độ.
Từ năm 1990 - 1991, cuộc bùng nổ sử dụng PRA tại Ấn Độ vào các chương
trình dự án phát triển nông thôn, LNXH và các nước khác ở Châu Á, Châu Phi, các
dự án phát triển nông thôn như: Thái Lan, Trung Quốc, Nepal, Philippin.
Đến năm 1994 đã có hai cuộc hội thảo quốc tế về PRA tại Ấn Độ, đến nay đã
có hơn 30 nước đã và đang áp dụng PRA vào phát triển các lĩnh vực như:
+ Quản lý tài nguên thiên nhiên.
+ Nông nghiệp.
+ Các chương trình xã hội và xoá đói giảm nghèo.
+ Y tế và an toàn lương thực.
Trên đây là những dẫn liệu và tài liệu liên quan đến vấn đề đất đai, hệ thống
và trung du. Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong chương trình tập huấn hỗ
trợ LNXH của trường Đại học Lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệ thống SDĐ và
đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật SDĐ bễn vững trong điều kiện Việt Nam.
Trong đó, các tác giả đã đi sâu phân tích về:
- Quan điểm về tính bền vững.
- Khái niệm tính bền vững và PTBV.
- Hệ thống SDĐ bền vững.
- Kỹ thuật SDĐ bền vững.
- Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật SDĐ.
Nghiên cứu HTCT ở nước ta được đẩy mạnh hơn từ sau khi đất nước thống
nhất, Tổng cục địa chính [17] đã tiến hành quy hoạch đất 3 lần vào các năm 1978,
1985 và 1995. Căn cứ vào điều kiện đất đai, ngành lâm nghiệp đã phân chia đất đai
toàn quốc thành 9 vùng sinh thái lâm nghiệp (vùng Tây Bắc, vùng Trung tâm Bắc
bộ, vùng Đông Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ, vùng Nam
Trung bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam bộ, vùng Tây Nam bộ).
Công tác QHSDĐ trên quy mô cả nước giai đoạn 1995 - 2000 đã được Tổng
cục Địa chính xây dựng vào năm 1994. Trong đó việc lập kế hoạch giao đất nông
10
nghiệp, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác cũng được đề cập tới.
Báo cáo đánh giá tổng quát hiện trạng SDĐ và định hướng phát triển đến năm 2000
làm căn cứ để các địa phương, các ngành thống nhất triển khai công tác quy hoạch
và lập KHSDĐ.
Phương pháp tiếp cận nông thôn có người dân tham gia được đề cập trong
chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH của trường Đại học Lâm nghiệp. Các tác
giả: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên và Trần Ngọc Bình
(1997) đã phối hợp với các chuyên gia trong và ngoài nước biên soạn tài liệu với
những vấn đề chính như sau:
PGS. TS Trần Hữu Viên (2005) đã tổng kết những nội dung cơ bản: Cơ sở lý
luận của QHSDĐ gồm các khái niệm về đất đai và vai trò của nó đối với sự tồn tại
và phát triển của xã hội loài người; nghiên cứu các khái niệm về QHSDĐ, bản chất
và quy luật phát triển của QHSDĐ, QHSDĐ cấp vĩ mô, chi tiết những nội dung và
trình tự xây dựng QHSDĐ cấp vĩ mô; QHSDĐ cấp vi mô gồm nội dung QHSDĐ
cấp xã, phương pháp thực hiện các nội dung công việc trong QHSDĐ, QHSDĐ cấp
vi mô theo phương pháp PRA.
TS. Đoàn Công Quỳ (2006) đã xây dựng cơ sở khoa học của công tác QHSDĐ
bao gồm những vấn đề chung về QHSDĐ, trình bày công tác điều tra cơ bản phục
vụ QHSDĐ, vấn đề QHSDĐ cấp xã và đã đưa ra 3 bài tập về tổng hợp kết quả điều
tra cơ bản, xây dựng bản đồ hiện trạng SDĐ và bản đồ QHSDĐ, dự báo nhu cầu
SDĐ phục vụ QHSDĐ cấp xã.
TS. Nguyễn Đình Hợi (2006) đã khái quát hoá vai trò của đất đai đối với sự
phát triển KTXH, trình bày và phân tích chế độ quản lý nhà nước về đất đai ở nước
ta, trình bày nội dung quản lý một số loại đất, nêu cơ sở lý luận chung về quy hoạch
đất đai và nêu nội dung của QHSDĐ.
Các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cũng chính là cơ sở lý luận được
chúng tôi kế thừa có chọn lọc và áp dụng trong đề tài này.
1.2.2. Một số nghiên cứu về việc vận dụng phương pháp QHSDĐ, PTSX nông
lâm nghiệp vào thực tiễn ở Việt Nam
Nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về QHSDĐ, giao đất lâm nghiệp cấp xã được
thực hiện từ năm 1993 tại xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, xã Hang Kia, Pà Cò huyện
Mai Châu, tỉnh Hoà Bình do Dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp thực
12
hiện. Sau đó, dự án đã tổng hợp những bài học kinh nghiệm và rút ra được công tác
QHSDĐ được coi là một nội dung chính cần được thực hiện trước khi giao đất trên
cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và
- Đảm bảo PTBV;
- Đảm bảo nguyên tắc cùng tham gia;
- Kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng.
Khi thử nghiệm phương pháp này cho các tỉnh Thừa Thiên Huế và Gia Lai,
Vũ Văn Mễ và Desloges cho rằng quy hoạch cấp xã phải dựa trên tình trạng SDĐ
hiện tại, tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước và nhu cầu nghĩa
vụ của nhân dân. Xem xét mọi vấn đề liên quan đến đất đai và sử dụng tài nguyên
cho thấy cách tiếp cận tổng hợp và toàn diện này phù hợp và xu thế chung của thế
giới hiện nay về áp dụng các phương pháp quy hoạch tổng hợp. Trong 2 năm 1996
và 1997, trong quá trình triển khai dự án quản lý nguồn nước hồ Yên Lập có sự
tham gia của người dân tại huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh. Tác giả thử nghiệm
phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân để quy hoạch lâm - nông
nghiệp cho 3 xã: Bằng Cả, Quảng La và Dân Chủ, phương pháp PRA được sử dụng
để quy hoạch lâm - nông nghiệp và xây dựng dự án cấp xã, thôn cho 5 lĩnh vực:
Quy hoạch lâm nghiệp, cây ăn quả cho quản lý rừng phòng hộ, quy hoạch trồng trọt,
quy hoạch chăn nuôi và đồng cỏ, kế hoạch phát triển thuỷ lợi lập kế hoạch mạng
lưới tín dụng thôn bản hỗ trợ của dự án xã. Sau 3 năm thực hiện cho thấy bản quy
hoạch phù hợp với tình hình hiện tại là cơ sở vững chắc cho lập kế hoạch tác nghiệp
hàng năm. Tuy nhiên những hạn chế do thiếu nghiên cứu về đất, phân tích HTCT
đến việc lựa chọn cây trồng chưa hợp lý.
Năm 1996, trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm nhiều nơi Cục kiểm lâm cho ra
tài liệu hướng dẫn “Nội dung, biện pháp và trình tự tiến hành giao đất lâm nghiệp
trên địa bàn xã”. Đây là tài liệu sửa đổi lần thứ 2 có nhiều bổ sung vào tài liệu năm
1994, nó đáp ứng phần nào về những hướng dẫn cơ bản về nội dung và nguyên tắc.
Những yêu cầu về chuyên môn và phương pháp trong hướng dẫn này còn mang
nhiều phương pháp điều tra truyền thống, phù hợp với điều tra rừng trước đây. Bản
hướng dẫn này cần hoàn thiện theo hướng dừng lại ở những nguyên tắc và phương
pháp cơ bản, không nên có bản hướng dẫn chi tiết dẫn đến ngộ nhận rằng quy hoạch
Nông Lâm nghiệp cấp địa phương theo một chu trình cứng.
15
1.2.3. Đánh giá ban đầu về vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam và địa phương
Đánh giá, phân tích các nghiên cứu và thử nghiệm về QHSDĐ, PTSX NLN ở
Việt Nam trong thời gian qua có thể rút ra một số kết luận sau :
- Hiện tại Việt Nam chưa có nghiên cứu đầy đủ về QHSDĐ, PTSX NLN cấp địa
phương, đặc biệt là cấp xã. Phương pháp quy hoạch hiện tại còn chưa thống nhất và
được vận dụng rất khác nhau. Mặt khác công tác quy hoạch nhiều khi còn dựa trên ý
kiến chủ quan của các nhà quy hoạch, thiếu sự đóng góp và tham gia của người dân.
- Phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất đai, ít xét đến tiềm năng
đất đai, nhu cầu và khả năng của cộng đồng.
- Các công trình nghiên cứu và thử nghiệm đã thu được những kết quả nhất
định trong việc tiến hành QHSDĐ, PTSX NLN cấp địa phương. Tuy nhiên các
nghiên cứu này chưa được tổng kết, đánh giá và phát triển thành phương pháp luận.
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc QHSDĐ, PTSX nông, lâm, ngư nghiệp cấp
xã mặc dù đã được nhiều tác giả nghiên cứu và phát triển, tuy nhiên chưa tiến hành
trên diện rộng mà mới chỉ được tiến hành ở một số xã nhất định. Đặc biệt sau khi
Thủ tướng Chính phủ ban hành “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” và Bộ
Nông nghiệp & PTNT ban hành “Thông tư hướng dẫn quy hoạch PTSX nông
nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” thì vấn đề nghiên cứu cơ
sở lý luận và thực tiễn cho việc QHSDĐ, PTSX nông, lâm, ngư nghiệp cấp xã vẫn
cần được tiếp tục tiến hành nghiên cứu để ngày càng hoàn thiện hơn, nhằm thúc đẩy
phát triển bền vững KTXH NTMN.
16
Chương 2
- Vấn đề QHSDĐ: Dựa trên các kết quả kế thừa tài liệu thứ cấp, các văn bản
pháp luật của địa phương, các kết quả PRA.
- Vấn đề quy hoạch PTSX nông, lâm, ngư nghiệp: Đánh giá hiệu quả tổng
hợp trên 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Trong đó tập trung đánh giá hiệu quả
về mặt kinh tế, xã hội còn hiệu quả về MTST chủ yếu là mô tả. Về hiệu quả kinh tế,
đề tài đưa ra dự đoán triển vọng giới hạn trong phạm vi 01 ha đất và chỉ tính toán
cho một/một số loại cây trồng chính trên diện tích đất đó.
- Địa điểm tiến hành nghiên cứu thu thập số liệu: Trên cơ sở phân tích các tài
liệu thứ cấp có liên quan đến các đặc điểm tự nhiên, dân sinh, KTXH và kết quả
điều tra khảo sát theo phương pháp PRA trên toàn diện tích xã Sơn Kim 1, 3 thôn
điển hình được chọn để tiến hành nghiên cứu. Từ các số liệu thu thập được tổng hợp
và xử lý làm căn cứ đề xuất phương án PTSX nông, lâm, ngư nghiệp chung cho cả
xã.
2.3. Nội dung nghiên cứu
(1) Cơ sở lý luận của QHSDĐ, PTSX nông, lâm, ngư nghiệp trên địa bàn xã
Sơn Kim 1.
- Các chính sách, pháp luật liên quan đến QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp
trên địa bàn xã Sơn Kim 1.
- Nguyên tắc và yêu cầu của QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp trên địa bàn xã
Sơn Kim 1.
(2) Điều kiện cơ bản của xã Sơn Kim 1
- Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội
- Hiện trạng quản lý, SDĐ, thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp và thị trường
nông, lâm xã Sơn Kim 1
- Phân tích, đánh giá tiềm năng đất đai, mô hình SDĐ điển hình, nhu cầu SDĐ
đến năm 2020 của xã Sơn Kim 1
18
2.4.1.2. Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA)
Bằng các công cụ phỏng vấn và tiếp xúc lãnh đạo các ban ngành liên quan tại
huyện, xã, thôn và hộ nông dân. Sử dụng công cụ này để thu thập những thông tin
cơ bản, xác định sơ bộ các vấn đề để xây dựng đề cương nghiên cứu và phương
pháp thu thập số liệu.
2.4.1.3. Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân
Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân là phương pháp có khả năng
khuyến khích, hỗ trợ mọi khả năng hiện có của cộng đồng để họ xác định chính xác yêu
cầu của họ, đề ra các mục tiêu rồi kiểm tra và đánh giá chúng
Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA): PRA là
phương pháp tiếp cận và cũng là phương pháp học hỏi cùng với người dân, từ người
dân và bằng người dân về đời sống và điều kiện nông thôn.
Khái niệm trên được Robert Chamchers (1994) phát triển như sau:
''Một loạt các phương pháp tiếp cận cho phép người dân nông thôn cùng chia
sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để
lập kế hoạch và hành động''.
- Sử dụng công cụ phân tích xu hướng cho các cây trồng chính trong thôn.
- Sử dụng công cụ vẽ sơ đồ hiện trạng thôn, bản có sự tham gia của người dân
và thảo luận trên sơ đồ.
- Đi lát cắt (công cụ điều tra tuyến) để đánh giá hiện trạng SDĐ và phân tích
HTCT.
- Sử dụng phương pháp SWOT (Strongth, Weakness, Oppotunity, Threat) –
phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để đánh giá hiện
trạng SDĐ.
- Thảo luận nhóm với cán bộ xã, thôn, hộ nông dân về các vấn đề ranh giới các
loại hình SDĐ, nhu cầu SDĐ và xu hướng PTSX nông, lâm, ngư nghiệp trong thời
gian tới tại địa phương; Phân loại, xếp hạng, cho điểm cây trồng, vật nuôi; Phân
loại, xếp hạng cho điểm để đánh giá hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường của các
phương án quy hoạch. Trên cơ sở đó lựa chọn được phương án phù hợp nhất.
+ SDĐ: có đầy đủ các kiểu SDĐ NLN, thuỷ sản đại diện cho toàn xã, có mô
hình điển hình về sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
21
- Mỗi thôn chọn ngẫu nhiên 15 hộ gia đình trong đó có 5 hộ có thu nhập thấp,
5 hộ có thu nhập trung bình, 5 hộ có thu nhập khá giả. Danh sách các nhóm hộ
nghèo, trung bình, khá giàu do trưởng thôn cung cấp.
2.4.2 . Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu và đánh giá hiệu quả SDĐ
2.4.2.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
- Các thông tin về điều kiện tự nhiên, KTXH được tổng hợp và phân tích theo
các nhóm sau:
+ Các thông tin liên quan đến các điều kiện tự nhiên như: vị trí địa lý, địa hình
địa vật, khí hậu thuỷ văn, thổ nhưỡng, thực vật tự nhiên được thu thập chắt lọc từ tài
liệu gốc của xã, huyện và tỉnh.
+ Các thông tin về điều kiện KTXH như: Dân cư (dân số, thành phần dân tộc);
Cơ cấu xã hội: (xã, thôn, nhóm hộ, HGĐ); Nghề nghiệp, việc làm các dịch vụ xã hội
và CSHT (y tế, giáo dục, giao thông, thông tin liên lạc, thị trường giá cả . . .) được
tổng hợp theo mục đích của đề tài.
+ Hệ thống thông tin liên quan đến tổ chức và thể chế được tổng hợp và phân
tích bằng phương pháp SWOT. Phương pháp phân tích tập trung vào các chỉ tiêu:
Tổ chức cộng đồng, dịch vụ khuyến lâm, khuyến nông, quản lý và bảo vệ rừng, dịch
vụ thú y, hoạt động tín dụng cộng đồng…
- Phân tích, tổng hợp thông tin điều tra chuyên đề:
+ Thông tin thu thập được để phục vụ quy hoạch PTSX nông, lâm, ngư nghiệp
được tổng hợp theo phương pháp tối ưu hoá mục tiêu và phân tích đa tiêu chuẩn áp
dụng cho xây dựng kế hoạch. Bài toán phân tích kinh tế được sử dụng cho việc lựa
chọn các phương án.
+ Trong quá trình xử lý tài liệu, tiến hành chỉnh lý và sắp xếp các thông tin
(2.2)
+ Hiệu quả vốn đầu tư:
Pv
P
100
Vđt
(2.3)
Trong đó:
P : Tổng lợi nhuận trong một năm
Tn: Tổng thu nhập trong một năm.
Cp: Tổng chi phí kinh doanh trong một năm.
Vđt : Vốn đầu tư trong năm.
- Phương pháp động: Xem xét chi phí và thu nhập trong mối quan hệ động với
mục tiêu đầu tư, thời gian và giá trị đồng tiền, các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và
tính toán theo các hàm số: NPV, BCR, IRR… Phương pháp này dùng để tính hiệu
quả kinh tế của các PTCT có chu kỳ dài như: Rừng trồng, vườn cây ăn quả,
NLKH…
23
+ Tính giá trị hiện tại của thu nhập ròng (NPV): NPV là hiệu số giữa giá trị
thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất sau khi đã tính chiết khấu để
quy về thời điểm hiện tại.
BCR
Trong đó:
t 0
n
(1i)
t 0
(2.5)
Bt
t
(1i )
Ct
BPV
CPV
t
BCR là tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (đồng).
BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng).
CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng).
Các ký hiệu khác được giải thích ở công thức (2.4)
Nếu hoạt động sản xuất nào có BCR > 1 thì có hiệu quả kinh tế, BCR càng lớn thì
hiệu quả kinh tế càng cao. Ngược lại BCR < 1 thì việc sản xuất không có hiệu quả.