B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR
TRƯƠNG VĂN BảY
PHáT TRIểN NĂNG LựC GIáO DụC NHÂN CáCH
CủA Sĩ quan chỉ huy cấp phân đội
QUâN độI NHâN DâN VIệT NAM HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Ch ngha duy vt bin chng v duy vt lch s
Mó s:
92 29 002
LUậN áN TIếN Sĩ TRIếT HọC
NGƯời hớng dẫn khoa học:
1. gs, ts Nguyễn Văn Tài
2. ts Đỗ Văn Ngoan
H NI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, trích
dẫn trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ
ràng và không trùng lặp với những công trình
đã được công bố.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
NHÂN CÁCH CỦA SĨ QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Kết hợp đổi mới đào tạo với bồi dưỡng sĩ quan chỉ huy cấp
phân đội đáp ứng yêu cầu hoạt động giáo dục nhân cách ở
cấp phân đội hiện nay
3.2. Phát huy tính tích cực, sáng tạo của sĩ quan chỉ huy cấp phân
đội trong nhận thức và thực tiễn nhằm phát triển năng lực
giáo dục nhân cách
3.3. Xây dựng và phát huy vai trò của môi trường ở đơn vị cơ sở
trong phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ
huy cấp phân đội hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
5
9
27
27
50
78
78
108
123
123
146
157
Chữ viết tắt
CTQG
CNXH
CNH, HĐH
CTĐ, CTCT
H
Nxb
QĐND
XHCN
5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài luận án: "Phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ
huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" được tiếp cận dưới góc
độ triết học. Đây là một công trình khoa học nghiên cứu độc lập của nghiên cứu
sinh, dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối, quan điểm của Đảng ta về vấn đề con người, về giáo dục và đào tạo, lý luận
dạy học và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội trong thời kỳ mới; thực tiễn đào tạo,
bồi dưỡng phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân
đội QĐND Việt Nam những năm qua, những trải nghiệm của chính tác giả trên
cương vị cán bộ, giảng viên ở nhà trường đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội. Đề
tài luận án tập trung luận giải, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển
năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội; đề xuất những giải
pháp cơ bản phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân
đội QĐND Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm cơ
sở khoa học cho các cấp lãnh đạo, quản lý ở các đơn vị trong quân đội, cụ thể hóa,
hoàn thiện các nội dung, quyết sách giải quyết vấn đề phát triển năng lực giáo dục
Tuy nhiên, trước sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ trong giai đoạn
mới, yêu cầu về phẩm chất, năng lực sĩ quan chỉ huy cấp phân đội, xét ở từng
thời điểm, từng đối tượng cụ thể, sĩ quan chỉ huy cấp phân đội đã dần bộc lộ
những hạn chế, bất cập. Trong thực tế, nhận thức của một bộ phận cán bộ về
vị trí, vai trò của sĩ quan chỉ huy chưa đầy đủ, có sĩ quan chỉ huy còn xem nhẹ
công tác giáo dục nhân cách, cho đó là trách nhiệm của cán bộ chính trị; chưa
kết hợp chặt chẽ, thường xuyên và hiệu quả giữa huấn luyện quân sự với giáo
dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện tác phong người quân nhân cách mạng cho
cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, dẫn đến chất lượng, hiệu quả giáo dục bộ đội ở
một số phân đội chưa cao. Vấn đề tất yếu, cấp bách đặt ra cần nghiên cứu cơ
bản, hệ thống “Phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy
cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, để luận giải cơ sở khoa
7
học vấn đề phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp
phân đội, góp phần nâng cao chất lượng chỉ huy, quản lý, giáo dục bộ đội của
đội ngũ sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong giai đoạn mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất một số giải pháp phát
triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt
Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ những vấn đề lý luận phát triển năng lực giáo dục nhân cách
của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với phát
triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND
Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất giải pháp cơ bản phát triển năng lực giáo dục nhân cách của
quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam.
- Làm rõ vấn đề có tính quy luật phát triển năng lực giáo dục nhân cách
của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản, phù hợp có tính khả thi để phát
triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND
Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Luận án góp phần làm cơ sở khoa học cho các cấp lãnh đạo, quản lý ở
các đơn vị trong quân đội, đặc biệt là những trung đoàn đủ quân, các nhà
trường quân đội cụ thể hóa vào hoàn thiện các nội dung, quyết sách giải quyết
vấn đề phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân
đội QĐND Việt Nam hiện nay. Ngoài ra, luận án có thể dùng làm tài liệu
tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập các vấn đề liên quan ở các
học viện, nhà trường quân đội hiện nay.
8. Kết cấu của luận án
Kết cấu luận án gồm: Mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, ba chương (7
tiết), kết luận, danh mục các công trình liên quan đề tài của tác giả đã được công
bố, danh mục tài liệu tham khảo được trích dẫn, sử dụng trong luận án và phụ lục.
9
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN
1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
1.1. Những công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến năng lực
của sĩ quan chỉ huy trong quân đội
Tác giả A.A.Grêscô, với công trình“Các lực lượng vũ trang của Nhà
nước Xô Viết” [39], một công trình khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn cao
về xây dựng quân đội, đã chỉ ra vấn đề cần thiết phải nâng cao chất lượng đội
tin của mình vào tương lai, vào chính mình, vào đơn vị mình” [48, tr.7].
Tác giả Lê Quang Hòa, trong công trình “Kỷ luật quân đội và trách nhiệm
của người chỉ huy” [50], đã phân tích làm rõ vai trò của kỷ luật - một yếu tố quan
trọng tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân đội ta, đồng thời tác giả cũng nhấn
mạnh: “trách nhiệm hàng đầu của người chỉ huy là làm cho đơn vị luôn luôn ở tư
thế sẵn sàng chiến đấu, bất kỳ ở đâu, lúc nào cũng không bao giờ để bị bất ngờ”
[50, tr.28]; Theo tác giả, vấn đề quan trọng đối với người chỉ huy là tổ chức duy
trì nghiêm kỷ luật quân đội, đó không chỉ là trách nhiệm và còn là vấn đề có tính
nguyên tắc trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. “Người chỉ huy
phải tìm mọi cách giáo dục đơn vị mình hiểu thật đúng, thật cặn kẽ kẻ thù, cả về
tinh thần, ý chí, năng lực hành động đến thủ đoạn và hành động cụ thể” [50, tr.2829]; “người chỉ huy có năng lực, bản lĩnh, biết chỉ huy đơn vị là người luôn luôn
lấy yêu cầu của chiến đấu để quản lý, chỉ huy bộ đội” [50, tr.31].
Tác giả Phạm Xuân Nguyên, với công trình “Năng lực ra quyết định
của Sư đoàn trưởng trong chỉ huy chiến đấu” [94], đã làm rõ những đặc trưng
cơ bản của hoạt động chỉ huy sẵn sàng chiến đấu, các yêu cầu đối với việc ra
các quyết định chiến đấu dưới góc độ khoa học tâm lý. Theo tác giả, những
phẩm chất cơ bản giúp người chỉ huy quân sự đưa ra quyết định chính xác,
tức thời, tối ưu như: bản lĩnh chỉ huy, trí thông minh, kiến thức khoa học quân
sự, nghệ thuật quân sự và nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy, tư duy, ý chí, tình cảm,
tính sáng tạo, chủ động quyết đoán, trực giác, kinh nghiệm chiến đấu. Trên cơ
11
sở luận giải tác giả đã đề xuất các biện pháp tâm lý phát triển năng lực ra
quyết định của Sư đoàn trưởng trong chỉ huy chiến đấu.
Tác giả Ngô Minh Tuấn, trong công trình “Năng lực người cán bộ, sĩ quan
quân đội theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [137], đã khái quát, hệ
thống và phân tích những tư tưởng của Hồ Chí Minh về năng lực người cán bộ
quân đội; vai trò của yếu tố xã hội trong sự hình thành năng lực, đồng thời tác giả
đã chỉ rõ con đường bồi dưỡng phát triển năng lực của người sĩ quan quân đội đáp
mục đích của hoạt động; khả năng sử dụng có hiệu quả các lực lượng, phương
tiện; khả năng phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn; khả năng kiểm tra đánh giá
kết quả… Tác giả khẳng định, để nâng cao năng lực thực tiễn của người cán bộ,
cần tập trung vào giải quyết ba vấn đề cơ bản đó là: cơ chế chính sách; giáo dục đào tạo và phát huy vai trò nhân tố chủ quan của người cán bộ.
Tác giả Bùi Mạnh Hùng, trong công trình “Chú trọng bồi dưỡng, rèn
luyện để nâng cao khả năng trực giác cho cán bộ chỉ huy các cấp” [57], từ những
nhận định về lĩnh vực hoạt động quân sự với tính chất khẩn trương, mau lẹ, đầy
các tình huống và các yếu tố bất ngờ đan xen, luôn đặt con người vào trạng thái
căng thẳng về tâm lý để tác giả khẳng định: “người chỉ huy cần thiết phải có trực
giác tốt để phân tích một cách nhanh chóng tìm ra phương hướng trong tất cả tính
phức tạp của các hiện tượng xung quanh, dừng lại ở cái chủ yếu nhất và trên cơ sở
đó có được những nhận định, phán đoán chính xác, đưa ra những kết luận, chủ
trương, quyết tâm chiến đấu đúng đắn, nhanh chóng, thậm chí có những quyết
định làm thay đổi toàn bộ cục diện chiến trường” [57, tr.23]. “Trực giác giúp cho
người chỉ huy nắm được thời cơ, chớp thời cơ giải quyết được nhiều tình huống
bất ngờ có tính chất ngẫu nhiên trong các hoạt động quân sự, nâng cao hiệu năng
chiến đấu… giảm đáng kể sự hy sinh xương máu của cán bộ, chiến sĩ trong chiến
đấu; giảm hao tổn của cải trong chiến tranh” [57, tr.24]. Từ đó, tác giả kết luận:
“có thể nói, khó có lĩnh vực nào mà vai trò trực giác lại được đề cao như trong
lĩnh vực quân sự và khó có hoạt động nào mà vai trò của trực giác được phát huy
rộng rãi như trong hoạt động của đội ngũ cán bộ chỉ huy quân sự” [57, tr. 24].
1.2. Những công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến năng lực
giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy trong quân đội
13
Tác giả V. Utskin, trong công trình “Đặc điểm công tác giáo dục trong các
lực lượng vũ trang Mỹ, Anh, Pháp” [147], đã chỉ ra: “Các nhà quân sự Mỹ thường
hiểu “giáo dục” nghĩa là “giáo dục chính trị”, “xây dựng tinh thần phẩm chất”, v.v...
Họ coi việc giáo dục trong quân đội là một công việc có mục đích rõ ràng, không
Tác giả Lê Quý Trịnh với công trình: “Phát triển năng lực trí tuệ của
sĩ quan trẻ trong QĐND Việt Nam hiện nay” [129], đã quan niệm năng lực trí
tuệ của con người là những khả năng bên trong được thể hiện trong hoạt động
thực tiễn hàng ngày của họ như: khả năng hoạt động của trí tuệ trong việc tìm
kiếm, khám phá, tích luỹ tri thức và vận dụng tri thức vào giải quyết những
nhiệm vụ cuộc sống đặt ra, bảo đảm cho hoạt động của con người đạt chất lượng
và hiệu quả cao. Tác giả cũng đã chỉ ra cấu trúc cơ bản của năng lực trí tuệ gồm
các yếu tố tri thức, phương pháp tư duy và khả năng sáng tạo của con người.
Công trình luận giải làm rõ bản chất của năng lực trí tuệ, phân tích đặc điểm,
những vấn đề có tính quy luật phát triển năng lực trí tuệ của sĩ quan trẻ. Trên cơ
sở đánh giá thực trạng, những yêu cầu khách quan, tác giả đã đề xuất một số giải
pháp cơ bản phát triển năng lực trí tuệ của sĩ quan trẻ hiện nay.
Tác giả Nguyễn Văn Tài, trong công trình “Tích cực hóa nhân tố con
người của đội ngũ sĩ quan trong xây dựng QĐND Việt Nam hiện nay” [109], đã
vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống hoạt động - giá trị - nhân cách để góp
phần xác định rõ khái niệm nhân tố con người, tích cực hóa nhân tố con người của
đội ngũ sĩ quan. Từ cơ sở lý luận, nội dung và phương pháp tiếp cận của mình, tác
giả quan niệm: “Tích cực hóa nhân tố con người của đội ngũ sĩ quan là một quá
trình phát hiện, bồi dưỡng, kích thích phát triển, đồng thời phát huy và sử dụng
đúng đắn, có hiệu quả tính tích cực, tự giác, sáng tạo của đội ngũ sĩ quan, tạo động
lực phát triển của sự nghiệp xây dựng QĐND Việt Nam theo phương hướng cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại” [109, tr. 147].
Tác giả Nguyễn Hữu Công, với công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
phát triển con người toàn diện” [10], đã khẳng định: “Với quan niệm và cách
15
nhìn nhận con người toàn diện như là một thể thống nhất, sự kết hợp chặt chẽ
giữa các yếu tố, các mặt: thể lực, trí tuệ, trình độ thẩm mỹ, đạo đức cách
mạng..., Hồ Chí Minh cho rằng phát triển con người toàn diện trước hết phải
càng hiện đại cho quân đội, phải đặc biệt chú ý xây dựng yếu tố chính trị - tinh
thần cho cán bộ, chiến sĩ, trong đó xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và
quyết thắng phải được nâng lên một trình độ cao hơn, góp phần tạo ra sức
mạnh tổng hợp của quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới” [97, tr. 29]; “ý chí quyết tâm chiến đấu và quyết thắng của cán
bộ, chiến sĩ quân đội thể hiện ở tư tưởng cốt lõi: “dám đánh, biết đánh và quyết
đánh thắng” thông qua hành động chiến đấu dũng cảm, kiên cường, mưu trí,
sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn gian khổ để giành thắng lợi” [97, tr. 30];
“cùng với đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chính trị - tư tưởng, cần
phải đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện quân sự” [97, tr. 31].
Tác giả Nguyễn Văn Việt (chủ biên), công trình “Nghiên cứu giải pháp
nâng cao năng lực CTĐ, CTCT cho cán bộ chỉ huy tham mưu cấp phân đội trong
tình hình mới” [149], đã phân tích, làm rõ những vấn đề cơ bản về năng lực và
nâng cao năng lực CTĐ, CTCT của cán bộ chỉ huy tham mưu cấp phân đội trong
tình hình mới; đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, xác định yêu cầu và đề
xuất những giải pháp cơ bản nâng cao năng lực CTĐ, CTCT của cán bộ chỉ huy
tham mưu cấp phân đội trong tình hình mới. Các tác giả quan niệm: “cán bộ chỉ
huy tham mưu cấp phân đội là một bộ phận cán bộ trong quân đội, được đào tạo
theo chuyên ngành chỉ huy tham mưu, có quân hàm từ thiếu úy đến trung tá, giữ
chức vụ từ trung đội trưởng đến tiểu đoàn trưởng hoặc các chức vụ tương đương,
trực tiếp chỉ huy, quản lý, huấn luyện, giáo dục bộ đội theo chức trách, nhiệm vụ
được quy định trong điều lệnh, điều lệ QĐND Việt Nam” [149, tr.7].
Tóm lại, dù có những cách luận giải khác nhau, nhưng các tác giả đều
thống nhất cho rằng, năng lực là thuộc tính bản chất của con người, năng lực
không tách rời hoạt động và đó là toàn bộ khả năng của con người, giúp cho
con người đạt hiệu quả cao trong nhận thức và hành động ở từng lĩnh vực cụ
17
thể của đời sống xã hội. Các công trình trên cũng cho thấy, cấu thành năng lực
thường xuyên giáo dục cho cán bộ dưới quyền mình” [115, tr.192]. “Cần có
kế hoạch huấn luyện cán bộ hàng năm, quy định nội dung tỷ lệ thời gian, bố
trí xen kẽ với các kế hoạch công tác khác” [115, tr.192].
Tác giả Đào Văn Tiến, với công trình: “Nâng cao năng lực tư duy sáng
tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội QĐND Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”
[121], đã nghiên cứu luận giải bản chất, vai trò và chỉ ra những đặc điểm tư duy
sáng tạo; những vấn đề có tính quy luật trong việc nâng cao năng lực tư duy sáng
tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội. Theo tác giả, năng lực tư duy sáng tạo của
con người có được không chỉ nhờ có sự nhanh nhạy của bộ óc, của cơ quan cảm
giác mà còn là kết quả của quá trình khổ luyện học tập và rèn luyện trong thực
tiễn. Trên cơ sở đã luận chứng, tác giả đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu
nâng cao tư duy sáng tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội để đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới.
Tác giả Hoàng Ngọc Tú, với công trình: “Nâng cao năng lực chính trị
của người sĩ quan chỉ huy cấp phân đội Binh chủng Tăng - thiết giáp QĐND
Việt Nam hiện nay” [135], đã nghiên cứu và xây dựng khái niệm năng lực
chính trị của người sĩ quan cấp phân đội ở Binh chủng Tăng - thiết giáp; khái
quát một số đặc điểm hình thành phát triển của năng lực chính trị người sĩ quan
phân đội Tăng - thiết giáp. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, công trình đã khái
quát được một số mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết để nâng cao năng lực chính
trị cho người sĩ quan phân đội Tăng - thiết giáp trong tình hình hiện nay.
Tác giả Nguyễn Xuân Trường, trong công trình“Phát triển giá trị văn hoá
trong nhân cách sĩ quan trẻ hiện nay” [133], đã chỉ rõ, đội ngũ sĩ quan trẻ hiện nay
có khả năng tư duy chính trị khá tinh tế và nhạy cảm. Việc xử lý thông tin, tri thức mà
sĩ quan trẻ tiếp nhận được trong cuộc sống để biến đổi, tự sắp xếp chúng thành hệ
thống quan điểm, thái độ của cá nhân về cơ bản phù hợp với quan điểm đổi mới của
Đảng. Điều đó vừa phản ánh trình độ nhận thức chính trị vừa phản ánh trình độ tư
duy chính trị của sĩ quan trẻ đã có bước phát triển, trưởng thành. Tuy nhiên, trình độ
20
quan trọng trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của QĐND Việt Nam hiện nay. Đây
là hoạt động đòi hỏi phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, đặc
biệt là sĩ quan chỉ huy cấp phân đội. Tác giả đã khẳng định: Bồi dưỡng của tổ chức
và tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội là những yếu tố cơ
bản chi phối đến năng lực CTĐ, CTCT của họ; năng lực CTĐ, CTCT luôn gắn bó
chặt chẽ với phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực chỉ huy, quản lý chuyên môn;
phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực chỉ huy, quản lý chuyên môn là những yếu
tố cơ bản tạo nên sức mạnh bên trong, là điều kiện không thể thiếu đối với các chủ
thể tiến hành CTĐ, CTCT. Tác giả đưa ra bốn giải pháp chủ yếu trong bồi dưỡng
năng lực CTĐ, CTCT cho sĩ quan chỉ huy cấp phân đội: Nâng cao nhận thức của
lãnh đạo, chỉ huy các cấp; tiếp tục đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo
các hình thức, phương pháp bồi dưỡng; thực hiện tốt nền nếp tự học tập, tự rèn
luyện của đội ngũ sĩ quan chỉ huy cấp phân đội; xây dựng đơn vị vững mạnh toàn
diện tạo... Tác giả cho rằng, “Nâng cao nhận thức của lãnh đạo, chỉ huy các cấp về
bồi dưỡng năng lực CTĐ, CTCT cho sĩ quan chỉ huy cấp phân đội là vấn đề có tầm
quan trọng đặc biệt nhằm tạo ra sự thống nhất về tư tưởng làm cơ sở cho sự thống
nhất hành động, phát huy mạnh mẽ động lực tinh thần, khắc phục khó khăn, bảo
đảm cho hoạt động bồi dưỡng đi đúng hướng, đem lại hiệu quả cao” [56, tr.145].
Tác giả Phạm Xuân Hảo (chủ biên), trong công trình “Bồi dưỡng lối
sống XHCN cho sĩ quan trẻ hiện nay” [44], đã nhận định: “Bồi dưỡng cho đội
ngũ sĩ quan quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan trẻ nói riêng về phẩm chất và
năng lực...giữ vai trò cực kỳ quan trọng và cấp thiết. Lối sống là một yếu tố
cấu thành phẩm chất chính trị, đạo đức, giữ vai trò quan trọng trong hành vi
chính trị, đạo đức của sĩ quan trẻ” [44, tr.168].
Bộ Quốc phòng, trong “Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị
trong giai đoạn mới” [7], đã chỉ ra thực trạng công tác giáo dục chính trị tại đơn vị.
Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được của công tác giáo dục chính trị tại đơn
vị trong những năm qua, đề án còn chỉ ra một số hạn chế, bất cập, trong đó nhấn mạnh
trong những giai đoạn phát triển nhất định của quân đội. Trên cơ sở lý luận phát
triển bản lĩnh chỉ huy của người chỉ huy cấp phân đội, tác giả đã đánh giá thực trạng
22
và đề xuất ba nhóm giải pháp cơ bản phát triển bản lĩnh chỉ huy của người chỉ huy
cấp phân đội QĐND Việt Nam hiện nay: đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo tại nhà trường và tập huấn, bồi dưỡng ở đơn vị; tăng cường rèn luyện bản
lĩnh chỉ huy của người chỉ huy cấp phân đội trong thực tiễn hoạt động; tích cực hoá
nhân tố chủ quan người chỉ huy cấp phân đội trong hoạt động chỉ huy hiện nay. Tác
giả cũng khẳng định, phát triển bản lĩnh chỉ huy của người chỉ huy cấp phân đội
hiện nay là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, Quân đội, của các tổ chức, lực lượng,
mà trực tiếp, quyết định nhất là cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các
đơn vị và bản thân người chỉ huy cấp phân đội.
2. Khái quát kết quả chủ yếu của các công
trình đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải
quyết
2.1. Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố
Các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án, với nhiều góc độ
tiếp cận khác nhau, đã nghiên cứu làm rõ nhiều vấn đề cơ bản có giá trị về lý
luận và thực tiễn liên quan đến đề tài luận án, cụ thể là:
Thứ nhất, các công trình đã làm rõ nhiều nội dung liên
quan đến lý luận phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ
quan chỉ huy cấp phân đội.
Các công trình đã nghiên cứu, chỉ ra những đặc trưng, bản chất của năng lực,
phát triển năng lực nói chung, năng lực của một số đối tượng sĩ quan cấp phân đội
nói riêng. Từ những góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả cho thấy tính phong
phú, muôn vẻ của năng lực. Một số công trình khoa học chuyên ngành chính trị
học, triết học đã luận chứng làm rõ cấu trúc một số loại năng lực cụ thể như: Năng
lực tư duy, năng lực thực tiễn, năng lực chỉ huy, năng lực CTĐ, CTCT.
Các công trình đã trực tiếp hoặc gián tiếp khẳng định vai trò to lớn của
cán bộ quân đội nói chung, năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp
phân đội nói riêng hiện nay, bên cạnh những ưu điểm, thành tựu đạt được, còn
những hạn chế, bất cập so với yêu cầu của nhiệm vụ mới, từ việc nhận thức vai
trò của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong giáo dục nhân cách cán bộ, chiến sĩ
thuộc quyền đến giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện và phát huy vai trò trách nhiệm
24
của họ trong công tác giáo dục… Trên cơ sở đó, các công trình đã chỉ ra một số
yêu cầu phát triển năng lực của người cán bộ QĐND Việt Nam hiện nay, yêu
cầu về phẩm chất chính trị - tư tưởng, đạo đức lối sống; yêu cầu phẩm chất
nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ; yêu cầu về sự thích ứng với những bước
tiến bộ của kinh tế tri thức, thành tựu của cuộc cách mạng và khoa học hiện
đại hiện nay và môi trường sống, hoạt động… Kết quả khảo sát và những
nhận định, đánh giá của các công trình là nguồn tài liệu quan trọng, có độ tin
cậy cao để tiến hành đánh giá thực trạng phát triển năng lực giáo dục nhân
cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, các công trình đã nêu lên nhiều giải pháp lên quan đến phát
triển năng lực của người cán bộ QĐND Việt Nam nói chung, năng lực giáo
dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội nói riêng hiện nay.
Các công trình khoa học có liên quan đã đề xuất các giải pháp, với mục
đích và tính sáng tạo riêng của từng công trình. Nhưng tựu chung, các công
trình đều tập trung giải quyết ba giải pháp cơ bản phát triển năng lực của người
cán bộ QĐND Việt Nam nói chung. Đó là: đổi mới nâng cao chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng sĩ quan cấp phân đội; phát huy nỗ lực chủ quan chủ quan của
cán bộ quân đội; tạo dựng môi trường sống, hoạt động và cơ chế chính sách đối
với cán bộ quân đội. Các công trình cũng cho thấy, mọi biện pháp phát triển
năng lực của người cán bộ QĐND Việt Nam muốn phát huy tác dụng đều phải
thông qua tích tích cực, tự giác, sáng tạo của chính chủ thể - cán bộ quân đội
trong hoạt động của chính họ.