HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
NGUYỄN THỊ MINH HẰNG
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HQCK
HỮU NGHỊ, TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2016-2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2016
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
ĐỀ ÁN
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HQCK
HỮU NGHỊ, TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2016-2020
Người thực hiện: Nguyễn Thị Minh Hằng
Lớp: CCLLCT tỉnh Lạng Sơn
Chức vụ: Phó phòng Tổng hợp
Đơn vị công tác: Chi cục Hải quan Cửa khẩu Hữu Nghị
tỉnh Lạng Sơn
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2016
đạt được những kết quả quan trọng cả về thu ngân sách và quản lý điều tiết vĩ
mô quan hệ kinh tế đối ngoại. Từ đó góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã
hội, thúc đẩy sản xuất trong nước, tạo ra những tiền đề cần thiết để chuyển
nền kinh tế sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ hội nhập.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, cơ chế chính sách quản lý thuế từ
hoạt động xuất nhập khẩu vẫn còn những tồn tại như: hệ thống thuế vẫn còn
bộc lộ hạn chế, tính thực thi chưa cao; chính sách thuế còn có những điểm
quy định chưa chặt chẽ, tạo kẽ hở cho các tổ chức, cá nhân lợi dụng gian lận
thuế. Ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế chưa tốt; công tác
quản lý thuế còn yếu kém ở một số lĩnh nên tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế
và gian lận thương mại diễn ra khá phổ biến; hoạt động kiểm tra, kiểm soát
việc chấp hành chính sách thuế chưa được tiến hành thường xuyên liên tục và
hiệu quả chưa cao, gây thất thu đáng kể cho ngân sách nhà nước. Bên cạnh
đó, sự bình đẳng và công bằng về nghĩa vụ thuế cũng chưa được đảm bảo,
năng lực quản lý thuế của cơ quan Hải quan còn hạn chế, chưa đáp ứng được
yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, từ đó làm giảm hiệu quả quản lý thuế, ảnh
hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước. Thực trạng trên đòi hỏi phải không
ngừng tăng cường công tác quản lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Đây là yêu cầu cấp bách nhằm tăng thu cho ngân sách và kích thích sản xuất
2
kinh doanh phát triển. Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa quan trọng hơn khi
nước ta đang bước vào giai đoạn hội nhập sâu rộng với yêu cầu cắt giảm thuế
quan theo các thỏa thuận song phương và đa phương ngày càng quyết liệt, dẫn
đến nguồn thu thuế xuất nhập khẩu đã giảm đáng kể trong khi đó vẫn phải
đảm bảo yêu cầu cân đối ngân sách để đáp ứng hoạt động chi của nhà nước.
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc, điều kiện kinh tế -xã hội còn
nhiều khó khăn. Với lợi thế lớn nhất là có 231km đường biên giới, 2 cửa khẩu
quốc tế, 1 cửa khẩu chính và 9 cửa khẩu phụ thông thương với Trung Quốc,
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa để phù hợp với xu thế
hội nhập quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, duy
trì và phát triển nguồn thu.
- Thu đạt và vượt chỉ tiêu thu ngân sách được giao hàng năm.
- Sử dụng các nguồn lực vật chất và con người một cách hiệu quả.
- Thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
3. Giới hạn của đề án
- Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý thuế đối với hàng hóa
nhập khẩu.
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu tại Chi cục Hải quan CK quốc tế Hữu
Nghị thuộc Cục Hải quan tỉnh Lạng Son.
- Thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2015, đề xuất giải pháp
áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020.
4
B. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế
Sự ra đời của thuế là tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại
và phát triển của Nhà nước. Nhà nước xuất hiện đòi hỏi phải có cơ sở vật chất
nhất định để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình. Do đó Nhà nƣớc
phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một bộ phận của cải trong
xã hội vào tay Nhà nước. Việc huy động, tập trung nguồn của cải đó có thể
được thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt
buộc được gọi là thuế. Thuế có thể thu bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằng
ngày công lao động. Với sự mở rộng không ngừng chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước và sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ, hệ
nước được pháp luật qui định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Từ những nội dung trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế
như sau:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân
cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử
dụng cho mục đích công cộng.
1.1.2. Vai trò của thuế
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN
Xã hội càng phát triển thì các chức năng về kinh tế - xã hội của Nhà
nước ngày càng mở rộng. Để thực hiện các chức năng đó đòi hỏi Nhà nước
phải có nguồn thu nhập. Nhà nước có thể thực hiện phát hành tiền, vay nợ,
bán tài nguyên, tài sản quốc gia và thu thuế. Mỗi hình thức có những ưu,
nhược điểm nhất định. Thuế ra đời trên cơ sở nhu cầu về nguồn tài chính phục
vụ cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Đảm bảo nguồn thu là
vai trò truyền thống của thuế. Ngày nay ở hầu hết các nước, thuế là nguồn thu
chủ yếu của NSNN. So với các hình thức động viên khác, nói chung hình thức
động viên qua thuế có nhiều ưu điểm hơn, bởi: Một là, diện động viên rộng,
đảm bảo cho mọi công dân có điều kiện thực hiện nghĩa vụ của mình đối với
Nhà nước. Số thu từ thuế thường ổn định vì thuế mang tính bắt buộc, tính
6
pháp lý cao. Hai là, động viên qua thuế có chi phí thấp hơn. Nhà nước có toàn
quyền sở hữu và sử dụng số thuế thu được. Ba là, thuế có tính linh hoạt hơn
các hình thức động viên khác. Thuế chính là một bộ phận của GDP được động
viên vào NSNN, do vậy khi nền kinh tế phát triển thì số thuế thu được tăng và
ngược lại.
- Thuế là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế:
Thuế thúc đẩy quá trình tích lũy vốn, tạo tiền đề quan trọng để đầu tư,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Thuế góp phần điều chỉnh
Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là các biện pháp mà Nhà
nước tác động nhằm mục đích huy động nguồn lực tài chính và điều tiết kinh
tế trong hoạt động thương mại quốc tế.
Như vậy, quản lý thuế thực chất là quản lý nguồn thu của quốc gia và
quản lý tốt nguồn thu cho ngân sách đòi hỏi thực hiện nghiêm minh pháp luật
về thuế.
- Quản lý người nộp thuế
Người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có hàng hoá nhập khẩu thuộc
đối tượng chịu thuế, bao gồm: Chủ hàng hoá; Tổ chức nhận uỷ thác nhập
khẩu; Cá nhân có hàng hoá nhập khẩu khi nhập cảnh, gửi hoặc nhận hàng qua
cửa khẩu, biên giới Việt Nam.
Quản lý người nộp thuế là khâu đầu tiên và quan trọng đối với công
tác quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu. Hệ thống thông tin về người nộp
thuế bao gồm những thông tin liên quan đến người nộp thuế như: Mã số thuế,
địa chỉ, điện thoại; Giám đốc; Số tờ khai Hải quan; Ngày mở tờ khai; Mặt
hàng xuất nhập khẩu; Số tiền thuế phải nộp; Số tiền thuế đã nộp; Nợ thuế;
Loại nợ; số lần vi phạm pháp luật...
Thông tin về đối tượng nộp thuế là yêu cầu quan trọng của công tác
quản lý thuế hiện đại, đảm bảo cơ quan hải quan theo dõi, tổng hợp, phân tích,
đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế. Trên cơ sở các
thông tin thu thập được, cơ quan hải quan có căn cứ để phân loại các đối
tượng nộp thuế để áp dụng hình thức kiểm tra hàng hoá nhập khẩu phù hợp
theo quy định. Từ đó tránh thất thu ngân sách, đồng thời giảm phiền hà cho
8
đối tượng chấp hành tốt pháp luật thuế, ngăn ngừa, phát hiện vi phạm pháp
luật về thuế.
- Quản lý căn cứ tính thuế
Để quản lý chặt chẽ các căn cứ tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu,
hoá, Số lượng hàng hoá, giá tính thuế, bảo đảm yêu cầu xác định được số
thuế phải nộp.
- Quản lý thu nộp tiền thuế
Bên cạnh việc đẩy mạnh quá trình cải cách thủ tục hành chính: Tự kê
khai, tính và nộp thuế của đối tượng nộp thuế thì Hải quan cần tổ chức tốt
khâu tổ chức thu nộp. Mối quan hệ giữa cơ quan Hải quan, thuế, kho bạc, các
ngân hàng phải được tăng cường để thuận lợi cho quá trình trao đổi thông tin,
đảm bảo việc thanh khoản, xác định nộp thuế đúng hạn.
Thu, nộp tiền thuế là khâu sau của quy trình thủ tục hải quan nhưng
có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi lẽ việc tổ chức thu, nộp thuế đúng thời
hạn, đủ số tiền, hạn chế nợ đọng thì có thể đánh giá hiệu quả của công tác
quản lý thuế của cơ quan hải quan.
Ngoài ra, cơ quan Hải quan cần tập trung quản lý chặt chẽ các đối
tượng nộp thuế để đảm bảo đôn đốc, thu nộp thuế; tránh tình trạng nợ đọng,
gian lận thuế trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu; phát hiện các
trường hợp vi phạm... từ đó áp dụng các biện pháp xử lý triệt để.
- Quản lý miễn, giảm, hoàn thuế
Chính sách miễn, giảm nhằm thực hiện các mục tiêu ưu đãi thuế của
Nhà nước đối với một số đối tượng và đảm bảo thực hiện đúng các thông lệ,
tập quán thương mại quốc tế. Miễn thuế là hình thức ưu đãi thuế mà Chính
phủ cho phép cơ sở kinh doanh có hoạt động nằm trong quy định miễn thuế
không phải trả thuế cho hoạt động này. Hoàn thuế cho doanh nghiệp xuất
nhập khẩu cũng là thể hiện trách nhiệm của cơ quan Hải quan trong việc tạo
thuận lợi cho doanh nghiệp để tái sản xuất, kinh doanh khi họ đã thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế nay chính đáng được hưởng quyền lợi hoàn thuế.
Tuy nhiên đây cũng là yếu tố để các đối tượng lợi dụng trốn lậu thuế,
do vậy ngoài việc cần đề ra các chính sách rõ ràng thì cần có các biện pháp
10
11
giám sát thu nhập, và do đó, tạo thuận lợi hơn cho công tác quản lý thuế đối
với hàng hóa nhập khẩu.
- Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ làm việc trong lĩnh vực
quản lý thuế
Con người luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và
thực thi chính sách. Trình độ, năng lực của cán bộ xây dựng và hoạch định
chính sách thuế quyết định hiệu quả của chính sách thuế. Trong xu thế hiện
nay, việc xây dựng chính sách thuế không những phải đảm bảo phù hợp với
cam kết quốc tế mà còn phải phù hợp với điều kiện trong nước. Cán bộ thu
thuế vừa là người tiếp xúc thực tế với đời sống xã hội, triển khai các nội dung
chính sách, giải quyết trực tiếp các vướng mắc của đối tượng nộp thuế. Đội
ngũ cán bộ nếu không có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao thì
mọi chính sách dù có tốt đến đâu cũng bị vô hiệu hoá và chính sách ban hành
sẽ không phát huy được tác dụng, bị lợi dụng, trốn thuế gây thất thu cho ngân
sách. Bên cạnh đó, việc xây dựng chính sách còn phù thuộc vào trình độ của
đối tượng nộp thuế. Nếu chính sách ban hành không phù hợp với trình độ của
đối tượng nộp thuế thì chính sách không thể đi vào cuộc sống.
- Tổ chức và giám sát thực hiện quy trình, thủ tục Hải quan
Cơ quan Hải quan là nơi triển khai các quy trình, thủ tục hải quan
cho hàng hoá xuất nhập khẩu. Do vậy, công tác quản lý thuế của cơ quan Hải
quan luôn phải hướng tớí đổi mới trong việc tổ chức thực hiện và có sự giám
sát chặt chẽ, thường xuyên để tạo nên sự thông thoáng cho doanh nghiệp làm
thủ tục hải quan, hạn chế tối đa tình trạng gian lận thuế trong hoạt động xuất
nhập khẩu.
Đồng thời, cơ quan Hải quan phải tổ chức thực hiện sao cho thủ tục
hành chính ít cửa nhất, ít giấy tờ nhất, rút ngắn thời gian làm thủ tục và thông
quan hàng hoá, chi phí làm thủ tục Hải quan thấp nhất, tạo điều kiện thuận lợi
học. Người làm thủ tục Hải quan chủ yếu là các đại lý làm thủ tục Hải quan.
Giám sát hải quan: chủ yếu thực hiện thông qua thiết bị kỹ thuật hiện
đại như: camera; hệ thống định vị toàn cầu...
- Sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan
13
Hoạt động quản lý thuế của cơ quan Hải quan liên quan đến nhiều
lĩnh vực nên ngoài việc phối hợp trong nội bộ ngành đòi hỏi phải có sự phối
hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng như: Thuế, kho bạc, Ngân hàng, Tài
chính, Công an, các Hiệp hội ngành nghề... Mối liên hệ khăng khít giữa cơ
quan Hải quan với các cơ quan, tổ chức này tạo nên sự ràng buộc không thể
thiếu trong quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu. Ngoài ra, sự phối hợp
này không chỉ nằm trong biên giới quốc gia mà phải kể đến Hải quan các
nước, Tổ chức Hải quan Thế giới, Hải quan các nước ASEAN... nhằm trao đổi
thông tin nghiệp vụ, học tập kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau trong thương mại
quốc tế.
1.2.Cơ sở chính trị, pháp lý của đề án
1.2.1. Cơ sở chính trị
- Nghị quyết của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu
chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán
ngân sách nhà nước các năm (2011-2015).
- Chương trình, kế hoạch của Đảng ủy Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn
về triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm hàng năm.
- Quyết định 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020.
1.2.2. Cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
hiện nay bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật sau:
- Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thông
tư số 159/2012/TT-BTC ngày 28/09/2012 sửa đổi, bổ sung Thông tư số
152/2011/TT-BTC.
- Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thi hành Nghị định 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng và các
Thông tư hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung có liên quan.
- Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 quy định về thủ tục
hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản
lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
15
Ngoài ra, còn có các văn bản liên quan như:
- Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về Biểu khung thuế suất
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt, Biểu thuế bảo vệ
môi trường.
- Các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam ký kết, tham gia.
- Pháp lệnh về quyền ưu đãi miễn trừ cho cơ quan đại diện ngoại giao,
cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
- Pháp lệnh về thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá, thuế trợ cấp và các
văn bản hướng dẫn.
- Các văn bản quy định có tính quản lý chuyên ngành (của các Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Giao thông Vận
tải, Bộ Khoa học và Công nghệ…).
1.3. Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua, hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh
Lạng Sơn nói chung, hoạt động nhập khẩu tại cửa khẩu Hữu Nghị nói riêng đã
thu được những kết quả khả quan hơn so với thời điểm trước năm 2010. Số
lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu tăng hơn 4%, kim ngạch
cảnh, bưu cục ngoại dịch, ngoài ra là một phần hàng hoá xuất biên giới và
hàng tạm nhập, tái xuất. Hàng hoá nhập khẩu chủ yếu là: Máy móc thiết bị,
linh kiện phụ tùng, ô tô tải nguyên chiếc và linh kiện, phân bón, hoá chất...
Hàng xuất khẩu chủ yếu: Tinh bột sắn, nông sản… Đối tượng hoạt động XNK
qua cửa khẩu bao gồm: Doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân và khách XNC
song đối tượng chủ yếu là các doanh nghiệp. Hàng năm trung bình có khoảng
từ 2.000 đến 3.000 doanh nghiệp trên địa bàn cả nước, thuộc tất cả các loại
hình và thành phần kinh tế tham gia hoạt động XNK qua cửa khẩu Hữu Nghị.
Trong đó số lượng doanh nghiệp hoạt động nhập khẩu luôn chiếm trên 80%
tổng số doanh nghiệp hoạt động tại địa bàn Lạng Sơn.
2.2. Thực trạng quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu trong
giai đoạn 2011-2015
2.2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế tại Chi cục Hải quan cửa
khẩu Hữu Nghị
Theo Luật Hải quan năm 2014, Chi cục Hải quan CK Hữu Nghị là
đơn vị trực thuộc Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn, có chức năng trực tiếp thực
17
hiện các quy định quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa XK, NK,
quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; tổ chức thực
hiện pháp luật về thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
phòng, chống buôn lậu, chống gian lận thương mại, vận chuyển trái phép
hàng hóa qua biên giới, phòng, chống ma túy trong phạm vi địa bàn hoạt động
hải quan theo quy định của pháp luật.
Chi cục HQCK Hữu Nghị hiện có biên chế 60 cán bộ, công chức, cơ
cấu tổ chức gồm: Chi cục trưởng, 03 Phó Chi cục trưởng và 3 Đội công tác
(Đội Nghiệp vụ, Đội Giám sát và Đội Tổng hợp). Đội Nghiệp vụ có 01 Đội
trưởng và 02 Phó Đội trưởng, bao gồm các bộ phận sau: bộ phận tiếp nhận,
đăng ký tờ khai và tính thuế, bộ phận kiểm tra thực tế hàng hóa và bộ phận
- Về trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất: Hiện nay, Chi cục HQCK
Hữu Nghị được trang bị 60 máy vi tính, đảm bảo mỗi công chức nghiệp vụ có
1 máy vi tính để thực hiện nhiệm vụ công vụ. Chi cục được trang bị hệ thống
thông tin hiện đại gồm 01 máy chủ, mạng nội bộ LAN phục vụ cho tra cứu
văn bản toàn ngành, kết nối số liệu kế toán, số liệu về giá các mặt hàng, quản
lý rủi ro... giữa các đơn vị trong toàn ngành, đường truyền Internet đáp ứng
tốt yêu cầu thông quan điện tử và kết nối Cổng thông tin 1 cửa quốc gia
ASEAN. Trụ sở làm việc của Chi cục được bố trí chung cùng với các lực
lượng khác tại Trạm Kiểm soát liên hợp cửa khẩu Hữu Nghị; Nhà công vụ
gồm 1 nhà cấp III và 01 bếp ăn, tổng diện tích khoảng 1.000 m 2. Các trang
thiết bị phục vụ công tác kiểm tra, giám sát gồm: 02 máy soi hành lý, 02 xe
máy, 01 xe ôtô và một số bộ dụng cụ kiểm hóa.
2.2.2. Thực trạng quản lý thuế nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa
khẩu Hữu Nghị giai đoạn 2011-2015
2.2.2.1. Thực trạng quản lý đối tượng nộp thuế
Xuất phát từ đặc điểm và đối tượng quản lý, đối tượng nộp thuế
phát sinh tại Chi cục hiện nay bao gồm: các doanh nghiệp có mã số thuế;
các tổ chức không có mã số thuế (các tổ chức phi chính phủ, cơ quan đại
diện ngoại giao) và cá nhân (khách NC và cư dân biên giới). Ngoài ra có
các đối tượng được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thay thuế là tổ chức/cá nhân
19
nhận ủy quyền; Đại lý làm thủ tục hải quan (trong trường hợp được đối tượng
nộp thuế ủy quyền nộp thuế) và các tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt
động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng (trong trường hợp bảo lãnh,
nộp thay thuế cho đối tượng nộp thuế theo quy định của pháp luật quản lý
thuế). Trong đó, đối tượng nộp thuế là doanh nghiệp chiếm trên 90% tổng số
đối tượng hoạt động NK qua cửa khẩu.
Để quản lý đối tượng nộp thuế, Chi cục đã tiến hành phân loại và cập
quản lý. Đặc biệt là các thông tin về quá trình chấp hành pháp luật hải quan,
pháp luật thuế của doanh nghiệp vì đây là tiêu chí cơ bản để cơ quan Hải
quan áp dụng quản lý rủi ro trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan và xác
định thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa XNK.
Việc áp dụng quản lý rủi ro đã rút ngắn thời gian thông quan hàng
hóa, đồng thời vẫn đảm bảo kiểm tra chặt chẽ đối với các lô hàng cần quản lý.
Đến nay, tỷ lệ tờ khai được phân vào Luồng xanh đã chiếm trên 80% tổng số
tờ khai phải xử lý thông quan của Chi cục. Đây là xu hướng tất yếu trong điều
kiện hoạt động XNK phát triển mạnh mẽ, áp lực thông quan hàng hóa không
ngừng gia tăng mà yêu cầu quản lý ngày càng cao và nguồn lực quản lý
không tăng tương ứng. Thông qua công tác thu thập thông tin và áp dụng
quản lý rủi ro, Chi cục Hải quan CK Hữu Nghị đã quản lý được các đối
tượng nộp thuế, đặc biệt là các doanh nghiệp, đảm bảo thông quan hàng hóa
nhanh và tạo thuận lợi cho hoạt động XNK. Tuy nhiên, khi thực hiện quản lý
rủi ro không tránh khỏi hiện tượng lợi dụng sự ưu đãi của cơ quan Hải quan
nhằm gian lận, trốn thuế của một số đối tượng, đòi hỏi phải tăng cường hơn
nữa hoạt động quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ và tuyên truyền hỗ trợ người
nộp thuế.
2.2.2.2. Thực trạng quản lý căn cứ tính thuế
* Quản lý giá tính thuế
Trong những năm qua, công tác xác định trị giá tính thuế được đặc
biệt chú trọng. Phần lớn hàng hóa NK được xác định giá tính thuế theo
phương pháp trị giá giao dịch, do vậy đã rút ngắn được thời gian thông quan,
tạo thuận lợi cho hoạt động NK, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp. Cụ
thể, các hoạt động kiểm tra, xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá NK
được triển khai theo quy định tại Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày